CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ LỊCH SỬ VĂN HÓA LÀNG VÂN 1. Lịch sử và điều kiện tự nhiên 1. Điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý Từ Thành phố Bắc Giang đi về phía Tây Nam khoảng 25 km, có một khu dân cư sầm uất, chợ họp đông vui, thuận đường thủy – bộ đó là làng Yên Viên (tên nôm là làng Vân), xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Làng Yên Viên có vị trí địa lý giáp với: - Phía Nam giáp làng Thổ Hà (cùng xã Vân Hà) - Phía Bắc giáp thôn Hạ Lát, xã Tiên Sơn - Phía Đông giáp cánh đồng xã Tiên Sơn - Phía Tây giáp sông Cầu Làng Yên Viên nằm dọc theo bờ Bắc sông Cầu quanh năm nước chảy, phù sa bồi đắp thường xuyên, làm cho đất đai ở đây luôn màu mỡ, cây cối tốt tươi.
Do làng ở vị trí ngay cạnh sông đất trũng thấp, chịu nhiều thiên tai lũ lụt cho nên người dân Yên Viên cũng sớm lo việc đắp đê, làm thuỷ lợi và tưới tiêu. Từ xưa nhân dân chủ yếu là làm ruộng, hàng năm thường trồng các loại cây lương thực như: lúa, ngô, khoai, lạc, đậu, trồng dâu nuôi tằm. về thủ công nghiệp có các nghề như thợ mộc, thợ xây, đan lát, đặc biệt là nghề nấu rượu của làng Yên Viên rất nổi tiếng. Làng Yên Viên rất thuận tiện về giao thông thủy và bộ.
Từ thành phố Bắc Giang đến Yên Viên theo quốc lộ 1A cũ đến thị trấn Nếnh rẽ phải theo đường liên xã ra đê sông Cầu là đến xã Vân Hà, đến làng Yên Viên. Đây là phòng tuyến sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã bảo vệ kinh thành Thăng 112 Long xưa, thủ đô Hà Nội ngày nay, nên từ xưa được coi là rất quan trọng. Còn một con đường bộ ở phía Bắc làng đi ven dãy núi Tiên Lát, xưa chỉ đi được vào mùa khô vì mùa mưa nước ngập khó đi, ngày nay con đường này rất thuận lợi cho việc đi lại vì đường đã được nâng cao trải nhựa và đổ bê tông. Đường thủy chúng ta có thể từ thành phố Bắc Ninh qua bến đò của làng Đại Lâm bên kia bờ Nam sông Cầu, thuộc huyện Yên Phong là đến trung tâm làng Yên Viên.
Theo đường thủy từ đây ngược dòng sông Cầu chúng ta có thể lên Thái Nguyên hay xuôi về Bắc Ninh, Hải Dương. Với hệ thống giao thông thủy, bộ như vậy, làng Yên Viên có vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Địa thế ở cạnh sông Cầu mang đến cho làng Yên Viên sự thuận lợi về giao thông vận tải buôn bán, nhưng cũng có mặt bất lợi là nạn thuỷ tai lụt úng. Lịch sử ghi lại việc đắp đê ở bờ Nam sông Cầu vào những năm 1076, vừa chống giặc nước lại vừa làm phong tuyến chống giặc phương Bắc.
Thực ra công việc đắp đê là công việc thường xuyên của người dân làng Yên Viên, bởi là nơi hợp lưu của sông Cầu và sông Ngũ Huyện Khê nên chế độ thủy văn rất phức tạp. Với vị thế “nhất cận thị, nhị cận giang” do thiên nhiên ban tặng, môi trường sinh thái đặc thù ấy đã có ảnh hưởng lớn tới đời sống văn hóa – xã hội của làng Yên Viên. Sự lựa chọn thần linh và đời sống tín ngưỡng, cả sự phát đạt về học hành, sự phong phú đời sống tinh thần của cư dân ở đây, cũng có nhiều phần từ vị thế địa lý ấy. Lịch sử hình thành và phát triển Làng Yên Viên là một ngôi làng cổ nằm ở bờ Bắc của dòng sông Cầu.
Đầu thế kỷ XIX làng Yên Viên thuộc tổng Tiên Lát, huyện Việt Yên, trấn Kinh Bắc. Sau cách mạng tháng Tám (1945) làng đã nhiều lần thay đổi địa giới hành 113 chính, năm 1946 thuộc vào xã Yên Hà, huyện Việt Yên, đến 1949 lại thuộc vào xã Sơn Hà (do hai xã Yên Hà và Tiên Sơn hợp thành). Từ năm 1975 đến nay làng Yên Viên thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Làng Vân là một trong ba làng của xã Vân Hà là: làng Thổ Hà, làng Vân và Vạn Nguyệt Đức (sinh sống ở dưới sông Cầu).
Làng Vân nằm ở trung tâm của xã Vân Hà, xưa được chia làm 4 giáp là: giáp Thượng, giáp Trung, giáp Giữa và giáp Đông, ngày nay được chia làm 5 xóm từ xóm 1 đến xóm 5. Các xóm xếp theo hình xương cá nằm trên hai trục đường chính chạy dọc làng theo hướng Bắc – Nam. Xã Vân Hà nói chung và làng Vân nói riêng có lịch sử tồn tại và phát triển từ lâu đời. Ngay từ buổi bình minh của lịch sử, ở thời đại các vua Hùng mở nước, các chứng cứ lịch sử khảo cổ học, truyền thuyết dân gian đã chứng minh rằng làng Vân là địa bàn tụ cư rất sớm của người Việt Cổ.
Trên mảnh đất như bán đảo nhô ra sông Cầu này đã hình thành những điểm tụ cư, tiền thân của các làng xóm. Phía Đông làng Vân bên kia sông Cầu, các khảo cổ học đã phát hiện di chỉ Quả Cảm (nay thuộc phường Hòa Long, thành phố Bắc Ninh) thuộc thời đại đồ đồng với nhiều hiện vật phong phú gồm: đồ gốm, đồ đồng như khuyên tai, gương đồng, rìu, dao găm bằng đồng. Ngược sông Cầu về phía bắc, ở di chỉ Đông Lâm (xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang) các nhà khảo cổ cũng phát hiện nhiều hiện vật bằng đá, bằng đồng như chì lưới, dọi xe chỉ, mũi tên đồng, lưỡi câu đồng, rìu đồng, lục lạc, còn ở di chỉ xã Bắc Lý (huyện Hiệp Hòa) đã phát hiện thấy trống đồng. Như vậy thời cổ đại, ở vùng ven sông Cầu là vùng đất tụ cư sớm của cư dân Việt cổ.
Qua các hiện vật phát hiện được chúng ta có thể khẳng định rằng cư dân nơi đây đã có một trình độ phát triển cả về trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt cá, 114 thủ công nghiệp, giao lưu trao đổi với các vùng miền gần xa và có đời sống văn hoá tinh thần khá phong phú. Do vị trí tự nhiên nên làng Vân sớm nằm trong vùng chiến lược Vũ Ninh của nước Âu Lạc. Trong cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên của An Dương Vương chống Triệu Đà (207 – 180 trước công nguyên) Nam Bình Giang (tức sông Cầu) đã là giới tuyến quân sự và chiến trường giữa hai bên, là con hào tự nhiên bảo vệ kinh đô Cổ Loa. Người dân xã Vân Hà sớm tham gia vào chiến tranh giữ nước ở dải đất này như truyền thuyết về việc lập làng Thổ Hà vào thời An Dương Vương, việc lập làng Vân vào thế kỷ VI ở nửa cuối thời kỳ Bắc thuộc hoàn toàn có cơ sở hiện thực lịch sử.
Dưới thời Bắc thuộc, làng Vân nằm ở vùng ngoại vi của Luy Lâu và Long Biên. Do đó, làng Vân có nhiều mối giao lưu toàn diện và trực tiếp với các trung tâm, đồng thời cũng chịu ách kìm kẹp, bóc lột và chính sách đồng hoá trực tiếp của chính quyền các triều đại Trung Quốc. Người dân làng Vân sớm tham gia vào các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Lý Bôn, khi nghĩa quân tiến đánh vào các trụ sở Luy Lâu, Long Biên. Về mặt quân sự, làng Vân nằm sát nơi giao nhau của sông Cầu với con đường bộ thiên lý (Đáp Cầu - Bắc Ninh).
Bởi vậy, làng Vân nằm gọn trong chiến trường chống Tống lần thứ nhất, ngay sát thành Bình Lỗ vào năm 981. Trong trận quyết chiến chống Tống lần thứ 2, dưới triều Lý, cuối năm 1076 đầu năm 1077, làng Vân nằm ở giữa chiến trường lớn này. Từ năm 1077 các mũi tiến công của quân Tống đã tràn tới bờ Bắc sông Cầu, chúng đóng đại bản doanh ở khu vực xã Quang Châu, huyện Việt Yên ngày nay, đối diện với khu Thị Cầu. Một cánh quân khác, do phó tướng Triệu Tiết chỉ huy, đóng ở xã Mai Đình huyện Hiệp Hoà, các bộ phận khác đóng ở Tiên Lát, Núi Voi, núi Chùa, núi Lều.
ngay sát làng Vân. Người dân làng Vân đã trực tiếp tham 115 gia những trận đánh oanh liệt của quân dân Đại Việt ở phòng tuyến bờ Nam sông Cầu góp phần tích cực vào chiến công chung của dân tộc. Dưới thời Lê - Nguyễn: làng Vân nằm trong phủ Bắc Hà, thừa tuyên Kinh Bắc. Đây là giai đoạn công thương của xã Vân Hà nói chung và làng Vân nói riêng rất phát triển.
Cảng sông sầm uất thường xuyên thông đạt đến tận miền biển, đúng với cảnh người xưa đã vẽ nên: Vân Hà có “vóc nhiều trong chợ”, “nhà hàng rượu dùng dừa làm gáo múc rượu bán” “người lái thuyền lấy chiếu làm buồm đẩy thuyền đi”. Chính từ sự giao thương ấy mới có “Nước mắm Vạn Vân” in dấu trong ca dao, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải còn giữ được danh tiếng cho đến trước năm 1945. Chợ làng Vân tồn tại suốt mấy trăm năm, được coi là các chợ lớn của vùng Kinh Bắc. Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán nhà Nguyễn viết: “Phố chợ vạn Phúc, Yên Viên, Dĩnh Kế và Bát Tràng, thuyền bè tụ họp, người buôn bán qua lại, cũng là đất đô hội hay: chợ Yên Viên: nấu rượu trắng rất ngon” [30, tr.
Do vị trí địa lý và vai trò kinh tế quan trọng đó, vào đầu triều Nguyễn làng Yên Viên từng là lỵ sở của huyện Yên Việt. Hưởng ứng phong trào chống thực dân Pháp của Hoàng Hoa Thám, nhân dân làng Vân đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa này ngay từ buổi ban đầu. Trong đó có những người con làng Vân như: bà Đặng Thị Nhu (hay còn gọi là bà ba Cẩn), Đặng Văn Can, Đặng Văn Cán, Nguyễn Văn Cầu, Cai Vân.cùng với nhiều nhân vật nổi tiếng khác của huyện Việt Yên. Bà ba Cẩn vốn họ Nguyễn, cha là Nguyễn Văn Trụ, một nhà nho có tiếng ở làng Vân.
Sau gia đình chuyển cư lên Yên Thế đổi ra họ Đặng đem theo nghề trồng dâu, chăn tằm và nấu rượu của quê nhà. Bà ba Cẩn sinh năm Bính Tý (1876) là vợ thứ ba của Đề Thám. Gần 20 năm chiến đấu bên cạnh Đề Thám vai trò, vị trí và phẩm chất của bà Ba Cẩn được kẻ thù nhìn nhận 116 như sau: “vợ Ba Đề Thám rất thông minh có thể nói là linh hồn của cuộc đề kháng là một trong những kẻ tội phạm lớn nhất, vì rằng bà ta có nhiều ảnh hưởng lớn lao đối với chồng, là cố vấn và người giúp việc chồng trong nhiệm vụ chỉ huy. Bà còn có hai người em trai là Nguyễn Văn Can và nguyễn Văn Cán đều là những nghĩa quân dũng cảm của cuộc khởi nghĩa.