ĐẶT VẤN ĐỀ Kế hoạch quản lý rừng (KHQLR) là một chương trình hành động được xây dựng để dựa vào đó đơn vị quản lý rừng (QLR) tiến hành mọi hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu quản lý đề ra, bảo đảm kinh doanh rừng có hiệu quả, bền vững và định hướng cho mọi hoạt động QLR cho một chu kỳ kinh doanh và cho hàng năm. Trong 10 nguyên tắc QLR của FSC thì KHQLR thuộc nguyên tắc 7 và là nguyên tắc bắt buộc, nguyên tắc tiêu điểm không thể thiếu được khi đơn vị QLR muốn thực hiện quản lý rừng bền vững (QLRBV) và chứng chỉ rừng (CCR). Ở nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào, Bản Phon Song nằm cách huyện Bolikhan 45 km, trong cụm Bản Tha Bó, huyện Bolikhan, tỉnh Bolikhamxay có tổng diện tích 15.887,29 ha, trong đó có diện tích quản lý quy hoạch rừng bền vững để thu hái Song, Mây và lâm sản ngoài gỗ là 8. Đây là bản có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú và đa dạng về tài nguyên thực vật, đây cũng là thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội của bản.
Hiện nay cuộc sống của đồng bào dân tộc trong bản còn dựa vào khai thác tài nguyên để làm thức ăn, thuốc chữa bệnh và tăng thu nhập. Trong những năm qua dù đã có các văn bản pháp luật và phân vùng quản lý rừng, nhưng việc QLR ở khu vực này chưa thật sự đã thực hiện được tốt vẫn có hiện tượng khai thác gỗ trái phép và khai thác lâm sản ngoài gỗ bừa bãi, không đúng kỹ thuật chưa có sự kiểm soát. Để nâng cao công tác quản lý và sử dụng tài nguyên rừng bền vững trung tâm nghiên cứu khoa học lâm nghiệp đã triển khai chương trình sản xuất và khai thác sông mây và tre nứa bền vững do Quỹ bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WWF) cùng với Cục Lâm nghiệp, Sở nông lâm nghiệp tỉnh Bolikhamxay phối hợp với Phòng Nông nghiệp huyện Bolikhan và tổ chức bản Phon Song thực hiện trong thời gian 5 năm (2018- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 2022) mục đích để nâng cao sử dụng và quản lý rừng bền vững để hưởng ích cho người dân trong thời gian dài. Để góp phần hỗ trợ bản Phon Song thực hiện được mục tiêu đề ra chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất lập kế hoạch quản lý rừng theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) tại bản Phon Song, huyện Bolikhan, tỉnh Bolikhamxay, Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn 2018 - 2022” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới 1. Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng 1. Quản lý rừng bền vững Theo ITTO (Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế - International Tropical Timber Organization): Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, đảm bảo sản xuất một cách liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội (ITTO, 2008; Bộ NN&PTNT, 2016)[2]. Theo tiến trình Hensinki: Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh cũng như sức sống và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện; trong tương lai các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác (Bộ NN&PTNT, 2016)[2].
Từ định nghĩa trên quản lý rừng bền vững được chung quy lại hai vấn đề chính sau: + Là quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra (các sản phẩm gỗ, ngoài gỗ, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các hệ sinh thái, rừng có giá trị bảo tồn cao.) + Là quản lý rừng đảm bảo sự bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội, bao gồm: - Bền vững về kinh tế là đảm bảo kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất hiệu quả ngày càng cao. - Bền vững về xã hội là đảm bảo kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, đảm bảo quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, cộng đồng địa phương. - Bền vững về môi trường là đảm bảo kinh doanh rừng duy trì khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng đồng thời không gây ra tác hại đối với hệ sinh thác khác (Bộ NN&PTNT, 2016) [2]. Lịch sử quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC: FSC được thành lập vào tháng 10 năm 1993 tại Toronto - Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ.
FSC cấp chứng chỉ QLRBV cho rừng ôn đới, nhiệt đới, rừng tự nhiên, rừng trồng và đang mở rộng ra rừng sản xuất lâm sản ngoài gỗ. Tổ chức này có trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn - Đức có cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ, công bằng. FSC có đại diện tại hơn 50 quốc gia. Thành viên FSC được chia thành nhóm xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển).
Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC. Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đề xuất 10 tiêu chuẩn bao gồm: -Tuân thủ theo pháp luật,(2) Quyền và trách nhiệm với việc sử dụng và sở hữu, (3) Quyền của người bản xứ, (4) Mối quan hệ cộng đồng và quyền của người lao động,(5) Các lợi ích từ rừng, (6) Tác động về môi trường,(7)Kế hoạch quản lý, (8)Giám sát và đánh giá, (9)Duy trì các khu rừng có giá trị bảo tồn cao,(10) Các khu rừng trồng. Dưới tiêu chuẩn là các tiêu chí, các chỉ số để bổ sung làm rõ tiêu chí (FSC, 2014) [45]. - Theo Christopher Upton và Stephen Bass (1996), hầu hết các tiêu chuẩn quản lý rừng do các tổ chức quốc tế đưa ra đều được chấp nhận ở mức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Trong đó các tiêu chuẩn của FSC được coi là sát thực và có khả năng ứng dụng rộng rãi hơn cả. Tuy nhiên, cho đến nay tình hình QLRBV trên thế giới vẫn chưa được cải thiện đáng kể, nhiều khu rừng vẫn đứng trước nguy cơ bị tàn phá nghiêm trọng. - Năm 1997, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Bảo tồn Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) công bố chương trình hợp tác với mục tiêu đưa 200 triệu ha rừng được quản lý sản xuất gỗ vào chương trình “Quản lý bền vững được cấp chứng chỉ độc lập” vào năm 2005. Kết quả đạt được mục tiêu với 31.
- Hợp tác lâm nghiệp trong khối ASEAN chủ yếu xoay quanh chủ đề QLRBV với 2 lý do, một là xu hướng mất rừng của các nước đang phát triển do áp lực dân số, lương thực, khai thác lậu, cháy rừng., hai là bị thị trường thế giới từ chối nếu gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế. Bỏ qua quan niệm rào cản thương mại, các nước thành viên ASEAN đều cần bảo vệ rừng nước mình và đều cần bán sản phẩm đồ gỗ vào các thị trường quốc tế với giá bán cao. Vì đây là nhu cầu cấp bách, khách quan, nên trong các năm 1995-2000 ASEAN đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV cho mình vào năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại Hội nghị Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệp Phnom-penk 2001. Song, do Bộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo theo 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC.
Tuy vậy, các nước có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia (Kim ngạch xuất khẩu gỗ 5-5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7-5 tỷ USD/năm), sau đó đến Philippines, Thailand đều được cấp chứng chỉ FSC (theo 10 nguyên tắc của FSC) trong các năm 2002 - 2005, tuy rằng diện tích được cấp còn hạn chế (Phạm Hoài Đức, 1999) [18]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chứng chỉ rừng Chứng chỉ rừng (Forest Certification) là sự xác nhận bằng văn bản (chứng chỉ) rằng một đơn vị quản lý rừng được cấp chứng chỉ đã được quản lý kinh doanh trên cơ sở rừng được tái tạo lâu dài, không ảnh hưởng đến các chức năng sinh thái của rừng và môi trường xung quanh, không làm suy giảm tính đa dạng sinh học (Bộ NN&PTNT, 2016)[2]. Cơ quan cấp chứng chỉ rừng là một tổ chức thứ ba độc lập, có đủ tư cách và có trình độ nghiệp vụ được đông đảo các tổ chức môi trường, kinh tế và xã hội công nhận, được cả người sản xuất và tiêu dùng tín nhiệm.
Một số các tổ chức cấp chứng chỉ rừng chính trên phạm vi toàn cầu như (Bộ NN&PTNT, 2016)[2]: - Tổ chức cấp chứng chỉ rừng liên Châu Âu (Pan-European Forest Certification - PEFC): hoạt động chủ yếu trên địa bàn châu Âu. - Hội đồng quản trị rừng thế giới (Forest Sterwardship Council-FSC). - Tổ chức cấp chứng chỉ rừng quốc gia Malaisia và Kerhout: hoạt động chủ yếu trong khu vực nhiệt đới. - Hệ thống quản lý môi trường ISO 140001.
- Sáng kiến bền vững rừng Mỹ (American Sustainable Forestry Intiative) Hội đồng quản trị rừng thế giới FSC (Forest Sterwardship Council), hiện nay đã ủy quyền cho 10 cơ quan được cấp chứng chỉ rừng là: - Anh quốc: SGS - Chương trình QUALIOR - Anh quốc: Hiệp hội đất - Chương trình Woodmark - Anh quốc: BM TRADA Certification - Mỹ: Hệ thống chứng chỉ khoa học - Chương trình bảo tồn rừng - Mỹ: Liên minh về rừng nhiệt đới - Chương trình Smartwood - Hà Lan: SKAL - Canada: Silva Forest Foundation - Đức: GFA Terra System LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.