MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Rừng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, không chỉ chứa 80% đa dạng sinh học trên cạn; nơi hấp thụ khí carbonic giảm hiệu ứng nhà kính mà còn là nguồn cung cấp gỗ, nguyên liệu sản xuất và đảm bảo khoảng 45% năng lượng tái tạo của thế giới. Bởi vậy bài toán giữ rừng là sứ mệnh của toàn nhân loại. Ý thức của con người đi kèm với việc quản lý đúng đắn sẽ quyết định sự bền vững của nguồn tài nguyên rừng, mang lại lợi ích cho cộng đồng và môi trường.
Theo công bố hiện trạng rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến ngày 31/12/2015, diện tích rừng để tính độ che phủ toàn quốc là hơn 13,520 triệu ha (độ che phủ đạt 40,84%). Diện tích đất có rừng của Việt Nam được ước tính là 14,67 triệu hecta (ha) năm 2020, tương đương 44% tổng diện tích đất tự nhiên, với khoảng 4,3 triệu ha rừng trồng. Độ che phủ rừng ngày càng tăng, nhanh nhất ở rừng sản xuất, từ 37,7% năm 2006 lên 41,89% vào năm 2019, năm 2020 tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,01% (diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ đến ngày 31/12/2020 là 13. Đến năm 2022, diện tích rừng bao gồm cả rừng trồng chưa khép tán là 14.075 ha, trong đó rừng tự nhiên: 10.082 ha, rừng trồng: 4.
Diện tích rừng đủ tiêu chí tính tỷ lệ che phủ là 13.043 ha, tỷ lệ che phủ toàn quốc là 42,02%. Mặc dù diện tích rừng và độ che phủ có xu hướng tăng lên, nhưng chất lượng rừng vẫn có xu hướng giảm, đặc biệt ở các khu rừng tự nhiên, rừng nguyên sinh có sự đa dạng về cấu trúc, về loài,… kết quả của độ che phủ rừng tăng lên chủ yếu là do công tác phục hồi rừng và trồng rừng mới. Hiện nay Việt Nam đã xây dựng hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc hoạt động và ra quyết định độc lập giữa các bên tham gia, đảm bảo phù hợp với yêu cầu của Hệ thống chứng chỉ rừng 1 quốc tế. Bộ tiêu chuẩn này ngoài 7 nguyên tắc, 34 tiêu chí và 122 chỉ số, thì còn hướng dẫn việc thiết lập và hình thành các nhóm hộ hoặc nhóm liên kết đảm bảo phù hợp với các quy định hiện hành của nhà nước và hướng dẫn của PEFC để làm căn cứ đánh giá và cấp CCR cho các đơn vị QLR trong cả nước (VFCS ST 1003:2019).
FSC có mặt tại hơn 50 quốc gia với hơn 850 thành viên là các tổ chức phi chính phủ, các trung tâm nghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp, bộ tiêu chuẩn này hiện đang được áp dụng tại Việt Nam áp dụng cho tất cả các loại rừng bao gồm: rừng tự nhiên, rừng trồng, và rừng quy mô nhỏ quản lý cường độ thấp (SLIMFs) với 10 nguyên tắc, 70 tiêu chí và 207 chỉ số. Lâm nghiệp là một thế mạnh của huyện Tràng Định với trên 80% đất lâm nghiệp. Nguồn tài nguyên đất rừng dồi dào, đất tốt rất thích hợp để phát triển lâm nghiệp. Tính đến năm 2021, huyện Tràng Định có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 85.390,21 ha trong đó đất có rừng chiếm 57.910,80 ha, đất quy hoạch cho lâm nghiệp chưa có rừng là 27.479,41 ha, với diện tích rừng tự nhiên 51.538,45 ha, rừng trồng là 6.
Tuy nhiên, việc quy hoạch trồng cây lâm nghiệp và các cây đặc sản còn chưa hợp lý dẫn đến năng xuất và chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Phương thức sản xuất còn nhỏ lẻ, tự phát, nguồn giống sản xuất chưa được kiểm soát chặt chẽ, chủ yếu là người dân mua trên thị trường chưa rõ nguồn gốc nên dẫn đến tình trạng sâu bệnh, năng suất thấp, đầu ra chưa ổn định. Mặc dù có nhiều khó khăn, xong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của huyện Tràng Định đã đạt được nhiều kết quả khả quan, tuy nhiên bên cạnh đó công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của huyện cũng còn có nhiều khó khăn, thách thức, điều đó đã ảnh hưởng đến việc quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng. Chính vì vậy, việc thực hiện luận văn: “Nghiên cứu một số giải pháp quản lý rừng trồng bền vững theo hướng FSC tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn” là cần thiết, có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn.
Mục tiêu đề tài Đề tài đặt ra các mục tiêu nghiên cứu sau đây: - Phân tích được hiện trạng rừng và vấn đề quản lý rừng tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; - Đánh giá được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quản lý tài nguyên rừng bền vững ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. - Xác định được những yếu tố cơ bản và phát hiện những tồn tại theo tiêu chuẩn QLRBV và cấp chứng chỉ rừng FSC; - Phân tích được một số nguyên nhân dẫn đến quản lý rừng chưa bền vững tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn - Đề xuất được một số giải pháp góp phần quản lý rừng trồng bền vững ở huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 3. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về quản lý rừng có liên quan và là cơ sở khoa học để lập kế hoạch quản lý rừng bền vững theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn của FSC. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu về quản lý rừng bền vững tại huyện Tràng Định đã giúp cho các nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật và người dân khắc phục được các lỗi chưa đúng trong quản lý rừng bền vững, cấp chứng chỉ rừng và sẽ đưa ra được các giải pháp quản lý rừng bền vững cũng như những kế hoạch để thực hiện theo tiêu chuẩn của FSC.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học Theo Quỹ môi trường toàn cầu Việt Nam (GEF), không có định nghĩa chung cho việc quản lý rừng bền vững (SFM). Định nghĩa được nhất trí và được sử dụng nhiều nhất giữa các quốc gia được thể hiện trong công cụ không ràng buộc pháp lý (NLBI) cho các loại rừng của Diễn đàn Liên hợp quốc về rừng (UNFF). Quỹ môi trường toàn cầu Việt Nam (GEF), trên quy mô toàn cầu, lượng lưu trữ các bon của rừng nhiều hơn khí quyển trái đất.
Kể từ năm 2007, vai trò của rừng như một bể chứa các bon quan trọng, gây được sự chú trong các buổi thảo luận về biến đổi khí hậu toàn cầu. Một số tác giả cho rằng khái niệm quản lý rừng bền vững hàm ý việc khai thác các sản phẩm của rừng, chủ yếu là gỗ và bền vững chủ yếu quan tâm đến việc duy trì sự cung cấp lâu dài của các sản phẩm từ rừng. Một số khác lại cho rằng, QLRBV không chỉ yêu cầu sản xuất các sản phẩm cần thiết từ rừng một cách lâu dài mà còn phải duy trì được hệ sinh thái rừng với tư cách một tổng thể chứ không phải là một thành phần hoặc là một sản phẩm nào đó của rừng. Một số tác giả quan niệm bền vững là một điều kiện lý tưởng để hoạt động quản lý rừng vươn tới, còn một số khác quan niệm đơn giản đó là một sự quản lý tốt.
Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa về quản lý rừng bền vững được đưa ra, nhưng có 2 định nghĩa được quan tâm nhiều là định nghĩa của ITTO và Tiến trình Helsinki. Nhìn chung cả 2 khái niệm này đều đặt ra đây là quá trình quản lý đất rừng và rừng để duy trì tính đa dạng sinh học, sức sống của rừng và tiềm năng của rừng,… đảm bảo không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, xã hội hoặc có tác hại đối với hệ sinh thái khác, không làm thoái hóa đất và chất lượng nguồn nước. Trên thế giới Richard (1991), đã đặt ra câu hỏi rừng phải bền vững như thế nào? Và ông đã đưa ra 8 câu trả lời: (1) Chủ yếu là bền vững về sản phẩm. Bền vững về xã hội.
Bền vững về lợi ích nhân loại. Bền vững về toàn địa cầu. Bền vững về tự duy trì HST. Bền vững về loại hình sinh thái.
(7) Bền vững về đảm bảo an toàn HST. Bền vững về hệ sinh thái hạt nhân. Barron (1991) cho rằng khái niệm về phát triển bền vững đối với công nghiệp rừng là rất quan trọng. Thực tiễn nhấn mạnh phát triển bền vững không phải là kinh doanh gỗ.
Đối với công nghiệp lâm nghiệp khái niệm về phát triển bền vững là một phương thức sáng tạo kinh doanh rừng lấy việc tăng sản lượng và lợi ích môi trường cho xã hội, nó cung cấp một cơ hội kinh doanh đất rừng công hữu bằng công nghiệp được công chúng xã hội tán đồng. Mani (1991) cho rằng: thông qua sáng tạo ứng dụng kinh doanh rừng và giảm bớt ô nhiễm, ngành lâm nghiệp Canada có thể trở thành tấm gương cấp thế giới của sự sự phát triển bền vững. Để thực hiện được mục tiêu đó căn cứ vào các điều kiện kinh tế và các đặc trưng tính địa đới của rừng, năm 1992 Canada đã thành lập 10 khu thí nghiệm nghiên cứu khác nhau hình thành một mạng lưới rừng mẫu. Ngoài ra Canada còn phê chuẩn sách lược rừng quốc gia để hoạch định khung hành động tỷ mỉ cho phát triển bền vững rừng Canada.
Thompson (1992) đã nêu lên một cách tỷ mỉ các vấn đề quản lý tổng hợp tài nguyên rừng. Kock (1990) đã so sánh lâm nghiệp bền vững của châu Âu và nước Mỹ, ông chứng minh một sự thật là lâm nghiệp châu Âu không luôn luôn bền vững. Ở Mỹ đã nêu ra các tên gọi lâm nghiệp mới và viễn cảnh mới của lâm nghiệp có quan hệ với lâm nghiệp bền vững. Năm 1992, chủ tịch hiệp hội lâm nghiệp Mỹ trong tạp chí lâm nghiệp Mỹ đã nêu ra các bài xã luận, kêu gọi các hội viên: lâm nghiệp bền vững là gì? Làm thế nào các nhà thực tiễn nhận thức được lâm nghiệp bền vững? Các nhà thực tiễn làm thế nào để có được lâm 5 nghiệp bền vững? Ba vấn đề đó được triển khai thảo luận.
Cùng với những chuyển biến quan niệm về giá trị rừng tự nhiên, đồng cỏ và đất, Cục lâm nghiệp, Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA) đã chuyển hướng trọng tâm phải lấy nguyên tắc bền vững để thỏa mãn nhu cầu con người làm mục đích. Quỹ môi trường toàn cầu Việt Nam (GEF), kể từ khi thành lập vào năm 1991, GEF đã tài trợ hơn 300 dự án và chương trình tập trung vào việc bảo tồn và quản lý rừng ở các nước đang phát triển.