Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học Gỗ và lâm sản ngoài gỗ là ngành hàng xuất khẩu quan trọng thứ 6 của Việt Nam và liên tục có tốc độ tăng trưởng cao, bình quân đạt trên 13%/năm trong giai đoạn 2010 - 2018. Năm 2017, ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu đạt tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 8 tỷ USD; riêng gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,66 tỷ USD, tăng 10,2% so với năm 2016. Năm 2018 tổng kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt trên 9,38 tỷ USD tăng 15,9% so với năm 2017, chiếm hơn 23% giá trị xuất khẩu của các ngành hàng thuộc ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Tuy nhiên, ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ đang đối mặt với không ít thách thức và khó khăn như: Nguồn nguyên liệu có chất lượng, đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững còn hạn chế; mối liên kết theo chuỗi từ khâu tạo giống đến chế biến, xuất khẩu giữa người trồng rừng với doanh ngiệp chưa chặt chẽ; hạ tầng lâm sinh chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Về cơ sở pháp lý: Quyết định 339/QĐ-TTg ngày 19/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 - 2020, đã xác định các giải pháp quan trọng thực hiện Đề án đối với ngành Lâm nghiệp là: ‘‘rà soát, đánh giá lại quy hoạch rừng, duy trì hợp lý diện tích rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng, đổi mới cơ chế tổ chức quản lý rừng theo hướng nâng cao quyền tự chủ cho các hộ gia đình và doanh nghiệp, chuyển đổi diện tích rừng còn lại sang phát triển vùng nguyên liệu tập trung, phát triển và khai thác rừng một cách có hiệu quả, bền vững nâng cao thu nhập và đời sống của người lao động lâm nghiệp”. Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 đã xác định mục tiêu đến năm 2020 là: (1) tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt từ Luan van 5 5,5% đến 6,0%/năm; (2) Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc đạt 42%, diện tích rừng các loại đạt 14,4 triệu ha; (3) Năng suất rừng trồng bình quân đạt 20 m3/ha/năm; (4) Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt từ 8,0 đến 8,5 tỷ USD; (5) Duy trì ổn định 25 triệu việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng, gắn với xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an ninh, quốc phòng. Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vữngđã xác định: ‘‘Phát triển lâm nghiệp nhằm tăng giá trị kinh tế ngành và tăng năng lực, hiệu lực bảo vệ môi trường rừng, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Tại Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 08/7/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp đã xác định mục tiêu chung là: "Phát triển lâm nghiệp bền vững về cả kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh". Nâng cao năng suất rừng đạt bình quân 15m3/ha/năm, đến năm 2020, diện tích rừng trồng sản xuất đạt khoảng 3,84 triệu ha, mỗi năm khai thác và trồng lại 0,25 triệu ha, với trữ lượng bình quân khoảng 150 m3/ha đối với rừng gỗ lớn, chu kỳ bình quân 12 năm, 70 m3/ha đối với rừng gỗ nhỏ, chu kỳ bình quân 7 năm. Định hướng phát triển vùng kinh tế, sinh thái lâm nghiệp xác định: Vùng Bắc Trung Bộ: Xây dựng vùng nguyên liệu gỗ lớn thứ hai của cả nước cung cấp nguyên liệu gỗ cho công nghiệp giấy và ván nhân tạo ở các khu vực gần nhà máy, xây dựng vùng nguyên liệu gỗ lớn ở các khu vực xa hơn cho các nhà máy chế biến đồ mộc trong và ngoài vùng. Tại Quyết định số 4527/QĐ-UBND ngày 25/12/2018 của UBND tỉnh Quảng Bình phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Bình đến 2020, định hướng đến năm 2025 đã xác định nhiệm vụ phát triển rừng trồng sản xuất cho giai đoạn 2018 đến 2025 là 66.200 ha rừng gỗ lớn), bình quân mỗi năm trồng 8.330 ha; khai thác gỗ cho giai đoạn 2018 đến 2025 là 5.000 m3 gỗ lớn), bình quân mỗi năm khai thác 675.
Luan van 6 Theo kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Quảng Bình đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 4534/QĐ-UBND ngày 25/12/2018, toàn tỉnh có 615.530 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó diện tích quy hoạch rừng sản xuất là 319. Riêng diện tích rừng trồng và đất chưa có rừng thuộc quy hoạch sản xuất là 126.597 ha, đây là tiềm năng lớn về đất đai để phát triển vùng nguyên liệu gắn với trồng rừng gỗ lớn phục vụ công nghiệp chế biến gỗ. Năng suất và chất lượng rừng trồng còn thấp (sản lượng bình quân dao động từ 60m3/ha đến 70m3/ha; năng suất bình quân đạt từ 10 - 15 m3/ha/năm); chưa có định hướng để hình thành các vùng nguyên liệu gỗ lớn tập trung có diện tích đủ lớn nhằm tạo điều kiện cho việc liên doanh, liên kết, đầu tư cơ sở hạng tầng lâm sinh, xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và tiến tới cấp chứng chỉ rừng để nâng cao giá trị rừng trồng. Những nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Những nghiên cứu trên thế giới 1. Những nghiên cứu về giống cây rừng Từ thế kỷ 18 - 19 đã có những ý tưởng về nghiên cứu lai giống và sản xuất hạt giống cây rừng cũng như nhân giống sinh dưỡng. Đầu thế kỷ 20 các nước Bắc Âu như Đức, Thuỵ Điển, Đan Mạch là những nước có nền lâm nghiệp phát triển cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống, xây dựng vườn giống. Trong những năm 1950, hàng loạt cuốn sách về chọn giống cây rừng đã được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.Trong đó cuốn “Chọn giống cây rừng đại cương” (1951) của Syrach Larsen được đánh giá như một công trình có giá trị nhất lúc đó.Trong những năm 1980, nhiều lớp huấn luyện về cải thiện giống cây rừng dưới sự bảo trợ của tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) đã được mở cho các nước đang phát triển.
Cuối những năm 1950, hàng loạt khảo nghiệm loài và xuất xứ cho những loài cây trồng rừng quan trọng nhất đã được xây dựng ở nhiều nước trên thế giới, trong đó phải kể đến các khảo nghiệm xuất xứ cho Thông caribê (Pinus caribaea) đã được xây dựng ở Fiji vào năm 1955. Đến năm 1968, đã thấy rằng trong các thứ (variety) Luan van 7 được khảo nghiệm thì tốt nhất là các xuất xứ của P. hondurenssis, tiếp đến là P. bahamensis và cuối cùng là P.
Các khảo nghiệm sau này ở nhiều nước khác cũng đi đến những kết luận tương tự.Khảo nghiệm xuất xứ cho Thông ba lá (Pinus kesiya), Thông nhựa (P. merkusii) và một số loài thông nhiệt đới khác cũng được xây dựng vào thời kỳ này. Vào những năm 1970, một loạt các khảo nghiệm xuất xứ cho một số loài cây lá rộng cũng được xây dựng ở nhiều nước nhiệt đới.Đó là Teck (Tectona grandis), Lõi thọ (Gmelina arborea), các loài Bạch đàn Eucalyptus camaldulensis, E. cloeziana và nhiều loài Bạch đàn khác.
Trong những năm 1980 - 1990, khảo nghiệm xuất xứ được tập trung cho các loài Keo nhiệt đới như Keo tai tượng (A.mangium), Keo lá tràm (A. auriculiformis), Keo lá liềm (A. Đến nay, về cơ bản các nhà chọn giống cây rừng đã biết được các xuất xứ tốt nhất trong một số loài Bạch đàn và một số loài Keo chủ yếu.Những xuất xứ này có thể cho năng suất gấp 2 - 4 lần những xuất xứ kém nhất được đưa vào khảo nghiệm. Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng và rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng sản xuất.Theo Davidson (1996) thì giống được cải thiện có thể chiếm đến 50 - 60% năng suất rừng trồng.Vì thế, cải thiện giống cây rừng nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác là một yêu cầu cấp bách đối với sản xuất lâm nghiệp ở nước ta.Hiện nay một số nước có nền lâm nghiệp tiên tiến đã tạo được năng suất rừng trồng 40 - 50 m3/ha/năm trên diện rộng, có nơi đã đạt năng suất 60 - 70 m3/ha/năm.
Gần đây, với việc đưa một số giống Keo lai và Bạch đàn cao sản vào sản xuất, một số nơi đã đạt năng suất rừng trồng 30 - 40 m3/ha/năm, mở ra triển vọng mới cho công tác giống và trồng rừng sản xuất ở nước ta. Những nghiên cứu về trồng rừng Diện tích rừng trồng đã tăng lên nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu và cung cấp khoảng 50% tổng sản lượng gỗ trên toàn thế giới. Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới (FAO) ước tính rằng tổng diện tích rừng trồng đến năm 2005 khoảng Luan van 8 140 triệu ha (FAO 2006), bình quân mỗi năm tăng khoảng 3 triệu ha.B Ball, Tj Wormald, L Russo (1995) khi nghiên cứu tính bền vững của rừng trồng đã đặc biệt lưu ý đến cấu trúc tầng tán của rừng hỗn loài. Matthew, J Kelty (1995) đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây gỗ và cây họ đậu.Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính.
Qua đó có thể khẳng định việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng thì cây Keo lai và Keotai tượng là có cơ sở. Beadle Chris (2006), khi nghiên cứu về nuôi dưỡng rừng Keo và Bạch đàn tạo gỗ lớn cho rằng rừng tạo gỗ lớn yêu cầu có đoạn thân thẳng, tròn đều, ít khuyết tật và kích thước đủ lớn để có thể làm gỗ xẻ, do đó các biện pháp kỹ thuật chủ yếu được áp dụng là tỉa cành, tỉa thưa kết hợp bón phân. Hạn chế kích thước cành là khâu kỹ thuật quan trọng trong tạo chất lượng thân cho gỗ lớn.Đối với Keo và Bạch đàn, cành có kích thước lớn hơn 20 mm rất dễ bị xâm nhiễm bệnh sau khi tỉa cơ giới hoặc chết tự nhiên.Trồng rừng mật độ cao để hạn chế phát triển cành ngang và tỉa cành tạo độ thẳng thân thường được áp dụng để hạn chế nhược điểm trên.