Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Cấu trúc rừng Rất nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng, mà tiêu biểu là Baur.P (1971), các tác giả nghiên cứu các vấn đề sinh thái. Qua đó làm sáng tỏ khái niệm về hệ sinh thái rừng, đây là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan điểm sinh thái học.
Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N – D) Để nghiên cứu và mô tả quy luật cấu trúc đường kính thân cây hầu hết các tác giả tìm các phương trình toán học dưới nhiều dạng phân bố xác suất khác nhau như: Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Meyer (1934), Prodan (1949). Các tác giả này đã mô tả phân bố số cây theo cỡ đường kính của rừng tự nhiên bằng phương trình toán học dạng: N = k.1) Phương trình này được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer. Tiếp đó, Naslunel (1936-1937), Moiseev (1972) đã xác lập phân bố Charlier-A đối với phân bố N-D của lâm phần thuần loài đều tuổi. Loetch (1973) dùng hàm Beta nắn phân bố thực nghiệm, Roemisch (1975) nghiên cứu khả năng dùng hàm Gamma mô phỏng sự biến đổi của phân bố N/D theo tuổi.Z Docuto (1992) trong khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Maranhoo - Brazin đã dùng hàm Weibull mô phỏng phân bố N-D.2) 4 Qua nghiên cứu thấy được là phân bố N/D ban đầu thường có dạng lệch trái, phạm vi phân bố hẹp, đường cong phân bố nhọn 1.
Tương quan giữa đường kính tán và đường kính tại vị trí 1,3m (DT - D1.3) Nghiên cứu mối quan hệ này có các công trình nghiên cứu khác nhau, nhiều tác giả như: Zieger (1928), Cromer.J (1953)…đã đi đến kết luận là giữa đường kính tán và đường kính ngang ngực có mối quan hệ mật thiết, phổ biến nhất là dạng phương trình đường thẳng. Tán cây rừng là một bộ phận quyết định đến sinh trưởng cũng như tăng trưởng của cây rừng. Ionikas (1980); Lebedinski (1972) đã sử dụng và đo tính thể tích tán lá cây sống để nghiên cứu năng suất rừng. Qua nghiên cứu nhiều tác giả đã đi đến kết luận giữa đường kính tán và đường kính thân cây có mối quan hệ mật thiết như nghiên cứu của Zieger; Erich (1928), Comer, O.N; Tuỳ theo loài cây và các điều kiện khác nhau, mối liên hệ này được thể hiện khác nhau nhưng phổ biến nhất là dạng phương trình đường thẳng: DT = a + b.3) Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần.
(1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác xuất, Balley (1973) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông,. Quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính (H - D) Đây cũng là quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ thống các quy luật cấu trúc lâm phần. Qua nghiên cứu nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với mỗi cỡ đường kính luôn tăng theo tuổi. Trong một cỡ kính xác định, ở các cấp tuổi khác nhau cây rừng thuộc cấp sinh trưởng khác nhau.V (1927) đã phát hiện ra quy luật này khi xác lập đường cong chiều cao ở các cấp tuổi khác nhau.M (1935) cho thấy độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi tăng lên.O đã mô phỏng quan hệ chiều cao với đường kính và tuổi theo dạng phương trình: Logh = d + b1.4) Tại từng tuổi nhất định dùng phương trình: Logh = b0 + b1.5) Các tác giả như: Hohenadl; Krenn; Michailoff; Naslund, M; Anoutchin, NP; Eckert, KH; Korsum, F; Levakovic, A; Meyer, H.Soest, J đã đề xuất dùng các phương trình dưới đây: h = a0 + a1d + a2d2 (1.16) Như vậy, để biểu thị tương quan chiều cao với đường kính có thể sử dụng nhiều dạng phương trình khác nhau.
Việc lựa chọn phương trình thích hợp nhất cho những đối tượng nào thì chưa được nghiên cứu đầy đủ. Hai dạng phương trình được sử dụng nhiều nhất để biểu thị đường cong chiều cao là phương trình Parabol và Logarit. Phương pháp kinh doanh rừng theo cấp tuổi Phương pháp kinh doanh rừng theo cấp tuổi được xây dựng trên cơ sở so sánh giữa tỷ lệ cấp tuổi thực tế với tỷ lệ cần đạt tới (tiêu chuẩn). Tỷ lệ cấp tuổi được biểu thị bằng sự phân bố diện tích theo cấp tuổi.
Ví dụ: Một khu rừng có diện tích 2.000ha với tuổi khai thác chính là 100 năm với kết cấu diện tích theo cấp tuổi như sau: - Cấp tuổi I 1 - 20 600 ha - Cấp tuổi II 21 - 40 500 ha - Cấp tuổi III 41 - 60 300 ha - Cấp tuổi IV 61 - 80 250 ha - Cấp tuổi V 81 - 100 300 ha - Cấp tuổi VI (>100) 50 ha - Diện tích mỗi cấp tuổi đạt tới theo mô hình tiêu chuẩn của loại hình trên là 2. S Diện tích khai thác hàng năm: LS U Trong đó: S là tổng diện tích; U là tuổi khai thác chính S và diện tích khai thác cho cả chu kỳ điều chế (10 năm) là: LS 10 .10 U Lượng khai thác biểu thị bằng trữ lượng được tính bằng cách lấy lượng khai thác biểu thị bằng diện tích nhân với trữ lượng bình quân trên ha của các lâm phần thành thục cộng với lượng tăng trưởng của các lâm phần này trong 5 năm. Để xác định lượng tăng trưởng thường xuyên định kỳ trong 5 năm của những lâm phần thành thục thường sử dụng biểu sản lượng phù hợp với loài cây và cấp đất của loại hình kinh doanh đó. Trong trường hợp không có biểu sản lượng có thể sử dụng biểu suất tăng trưởng, biểu lượng tăng trưởng thường xuyên hoặc thậm chí có thể bỏ qua đại lượng này.
Điều chế rừng Có nhiều khái niệm về Điều chế rừng. - Người Pháp đến nay vẫn dùng khái niệm cổ điển của họ: “Điều chế 1 khu rừng (Ame’nagemen) là đề ra những điều muốn làm, cân nhắc những gì có thể làm và dự đoán những cái phải làm” (BORUGE-NOT L. - Người Đức quan niệm : Điều chế rừng (Forsteinrich-tung) là một môn khoa học về điều tra giai đoạn về kế họach hoá trung hạn và dài hạn kiểm tra định kỳ hiệu quả của quản lý kinh doanh nghề rừng (RICH - TER A. 1963) - Người Anh cho rằng :Muốn Điều chế rừng (Manage-ment) trước hết phải có chính sách lâm nghiệp để dựa và đó mà xác định mục tiêu đề ra các yếu tố tự nhiên, kinh tế, con người …cuối cùng xác định các biện pháp Điều chế và phúc tra lại rừng (DAWKINSHC.
- Ở Mỹ, công tác điều chế rừng (Management) mới bắt đầu năm 1930, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai mới đẩy mạnh lên. Họ cho rằng: Điểu chế rừng là áp dụng phương pháp công tác và những nguyên tắc của kỹ thuật nghề rừng để xử lý một tài nguyên rừng. Đó là sự thiết lập, xếp đặt vào trật tự và giữ trong trật tự đó công tác nghiệp vụ lâm nghiệp.P, 1952 thì Điều chế rừng là kết quả của hạt nhân đường lối chính của nghề rừng. - Ở Liên Xô, công tác Điều chế rừng bắt đầu theo khoảnh, sau đó dùng phương pháp cấp tuổi.
Từ 1926 đến 1948 dựa trên phương pháp cấp tuổi. Từ 1964, xác định Điều chế rừng phải giải quyết 7 vấn đề, Theo BAICHIN A.A 1967, đó là + Nhiệm vụ quan trọng của Điều chế rừng là phân chia rừng trong trạng thái tự nhiên, xây dựng phương án lâm phần. + Xác định loại cây cần nuôi dưỡng, gieo trồng, những chủng loại gỗ, (gỗ tròn) cần dự kiến ở tuổi chặt chính. 8 + Trong Điều chế theo phương pháp cấp tuổi, rừng ở cấp đất I đến cấp đất III tạo thành một loại kinh doanh thương phẩm cỡ lớn.
+ Xác định phương hướng khai thác chính. + Điều tiết việc sử dụng gỗ trong các lâm trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Điều chế rừng. + Các biện pháp lâm sinh được thiết kế trong Điều chế riêng như chăm sóc, tiêu nước, canh tác, tác động đối với đất… là nội dung cở bản của hoạt động thực tiễn về trồng rừng thâm canh. + Sự bắt đầu rõ rệt và nổi tiếng của công tác Điều chế rừng là tính thông kê và tính thực tiễn.
- Người Rumani cho rằng: Điều chế rừng là một khoa học và thực tiễn về tổ chức rừng phù hợp với nhiệm vụ quản lý kinh doanh rừng ( RUCAREANU N… 1967). Từ thế kỷ thứ XIII khi rừng ở Trung Âu bị thu hẹp mạnh để đảm bảo cung cấp gỗ liên tục, ổn định về sản lượng lý thuyết về điều chế rừng bắt đầu được hình thành. Đến thế kỷ thứ XVIII trải qua quá trình tích lũy về lý luận và thực tiễn khoa học điều chế rừng mới ra đời. Người đầu tiên đưa ra những cơ sở đúng đắn về điều chế rừng là G.
Cotta vào thế kỷ XX, dựa trên học thuyết ban đầu về điều chế rừng này nhiều nhà lâm nghiệp đã phát triển học thuyết này điển hình là G. Các lý luận về điều chế rừng lần lượt được công bố.P, 1952: “Điều chế rừng là kết quả của hạt nhân đường lối chính của nghề rừng".C 1958 cho rằng “muốn điều chế rừng (Manegement) trước hết phải có chính sách lâm nghiệp để đưa vào đó mà xác định mục tiêu đề ra các yếu tố tự nhiên, kinh tế, con người. cuối cùng xác định các biện pháp điều chế và phúc tra lại rừng". Richter A, 1963 cho rằng: “Điều chế rừng 9 (Foresteinirichtung) là môn khoa học về điều tra giai đoạn về kế hoạch hoá trung hạn và dài hạn, kiểm tra định kỳ hiệu quả của quản lý kinh doanh nghề rừng".A, 1967 thì điều chế rừng (Lecoyctprouctbo) phải giải quyết 6 vấn đề: (phân chia rừng, xác định loài cây, xác định phương thức khai thác, điều tiết sử dụng gỗ, các biện pháp lâm sinh, tính thống kê và tính thực tiễn).
1967 cho rằng: "Điều chế rừng (Amenagement) là một khoa học và thực tiễn về tổ chức rừng phù hợp với quản lý kinh doanh rừng". O smaston, 1968, “Điều chế rừng của bất kỳ đơn vị kinh doanh nào cũng đều bao gồm việc tổ chức và chỉ đạo các hoạt động cần thiết để đạt mục tiêu của chủ rừng". L, 1969 lại cho rằng “Điều chế 1 khu rừng (Amenagement) là đề ra những điều muốn làm, cân nhắc những gì có thể làm và dự đoán những cái phải làm". FAO (1996) đã tổng kết kinh nghiệm điều chế rừng tự nhiên nhiệt đới.