chương I, trang 39) [14]. Do sinh trưởng gắn liền với thời gian nên còn được gọi là quá trình sinh trưởng. Các đại lượng sinh trưởng được xác định trực tiếp hoặc gián tiếp qua chỉ tiêu nào đó của cây. Ví dụ: Chiều cao (H), đường kính(D), thể tích (V).
Sự biến đổi theo thời gian của các đại lượng này đều có quy luật. Sinh trưởng của cây rừng và lâm phần là trọng tâm nghiên cứu của sản lượng rừng và là vấn đề có tính chất nền tảng để nghiên cứu các phương pháp dự đoán sản lượng cũng như xác định hệ thống biện pháp tác động nhằm nâng cao năng suất của rừng. Nghiên cứu sinh trưởng dựa trên những kiến thức về sinh thái rừng (sinh thái quần xã). Trong suốt quá trình sinh trưởng của cây rừng nói riêng và cả quần xã rừng nói chung đều chịu tác động của điều kiện tự nhiên và ngược lại nó cũng ảnh hưởng, gây biến đổi điều kiện tự nhiên trong quần xã rừng.
Điều kiện tự nhiên và quần xã rừng có quan hệ qua lại hữu cơ. Vì vậy nghiên cứu của cây rừng phải xem xét được sự thay đổi của địa hình, đất đai, phương thức gây trồng, tiểu khí hậu. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu * Đặc điểm hình thái Cây quế có tên khoa học là ( Cinnamomum cassia Neesex Blume), là loài thân gỗ sống lâu năm, cao trung bình 18 – 20m, đường kính ngang ngực có thể tới 40 – 45 cm, thân thẳng tròn, tán lá tương đối hẹp, vỏ mầu xám nâu. Lá cây trồng trong cải tạo rừng và vườn rừng.
Lá đơn mọc cách hoặc gần đối, thuôn dài có thể tới 20 cm, rộng 4- 6 cm, phiến lá có ba đường vân đặc trưng của lá quế. Hoa tự trùm sim, đầu cành nhánh mang những hoa trắng nhỏ, cuống dài 1,4 – 2,5 cm. Quả dài 12 – 15 cm. * Đặc điểm sinh thái Quế là loài cây thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều vì vậy các vùng có quế mọc tự nhiên ở nước ta là vùng có lượng mưa cao từ 1.800 mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân hàng năm từ 20OC – 21OC, ẩm độ bình quân trên 80%.
Độ cao so với mặt nước biển: ở miền Bắc 200m, miền Trung 500m, miền Nam 700m. Quế có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau (trừ đất đất đá vôi, đất cất, đất ngập úng), đất phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét, phiến thạch mi ca, có độ dầy đất trên 80cm, độ pH từ 4,5 – 5,5, phát triển không tốt trên đất phù sa quá xốp. Trong 2 năm đầu, Quế là cây cần được che bóng, sau đó ưa sáng hoàn toàn. Trong rừng tự nhiên cây tái sinh dưới tán cây mẹ.
Trạng thái thực bì thích hợp với việc trồng quế là các dạng rừng thứ sinh nghèo kiệt, rừng phục hồi, rừng nứa hoặc cây bụi có cây gỗ rải rác, nương rẫy mới. Không trồng Quế trên đât trống đồi núi trọc, nơi chỉ có thảm cỏ, cây bụi chịu hạn, cỏ tranh xấu, nơi không có hoàn cảnh rừng. 6 * Phân bố - Phân bố trên thế giới Trên thế giới quế phân bố tự nhiên và được gây trồng trở thành hàng hóa ở một số nước châu Á và châu Phi như Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam, Xrilanca và Madagaxca. Trong các nước có quế, cây quế cũng chỉ phân bố ở một địa phương nhất định, có đặc điểm khí hậu, đất đai và địa hình thích hợp của nó, ở ngoài vùng sinh thái quế sinh trưởng và phát triển không tốt.
- Phân bố ở Việt Nam Quế phân bố nhiều ở các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi (Tùy Phước, Trà My, Tam Kỳ, Thăng Bình, Quế Sơn), Nghệ An (Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Phong), Thanh Hóa (Thường Sơn, Ngọc Lạc), Yên Bái, Quảng Ninh (Quảng Hà). Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nhiên cứu về sinh trưởng - Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến sinh trưởng của rừng trồng.
Theo Vater (1925) thì: “Lập địa nên hiểu là tất cả các yếu tố ngoại cảnh thường xuyên tác động tới sự sinh tồn và phát triển của thực vật” cũng có nghĩa là lập địa bao gồm tất cả các yếu tố như: Khí hậu, địa hình, đất, sinh vật tạo thành một quần lạc sinh địa. Tất cả các yếu tố trong quần lạc sinh địa có ảnh hưởng qua lại, tác động lẫn nhau và phụ thuộc vào nhau, trong đó con người có vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể hiểu lập địa như là nơi mà cây sinh sống và phát triển hay là phạm vi không gian chứa đựng tất cả các yếu tố ngoại cảnh tác động đến đời sống thực vật. Tập hợp các kết quả nghiên cứu ở các nước vùng nhiệt đới, tổ chức nông lương thế giới FAO (1984)[22] đã chỉ ra rằng khả năng sinh trưởng 7 củarừng trồng, đặc biệt là rừng trồng nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào 4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: Khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì.
Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil, Golcalves J.M và cs, (2004)[20] cho rằng năng suất rừng trồng là sự “kết hợp” thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác. Ngoài ra, tác giả còn chỉ cho thấy giới hạn của sản lượng rừng có liên quan tới các yếu tố môi trường theo thứ tự mức độ quan trọng như sau: Nước > dinh dưỡng > độ sâu tầng đất. - Ảnh hưởng của biện pháp tưới nước đến sinh trưởng của rừng trồng .J (1992)[19] cho thấy: Ngoài những biện pháp trên, biện pháp tưới nước cho cây mới trồng, nhất là ở những vùng khô hạn tuy còn rất ít công trình nghiên cứu nhưng đã có một vài công trình đề cập đến. Như ở Brazil khi trồng rừng Bạch đàn E.grandis trên những vùng đất khô hạn người ta đã phải tưới cho cây con mới trồng 3-4 lít nước/cây, sau đó 3 ngày và 9 ngày phải tưới nước lại nếu chưa có mưa.
Nguyễn Huy Sơn (2006), ở Trung Quốc áp dụng biện pháp tưới nước thấm nhỏ giọt cho rừng trồng cây Dương Lai (Populus euramericana) trên vùng đất khô hạn, kết quả thu được sau 6 năm tuổi cho thấy đường kính ngang ngực tăng trưởng gấp gần 3 lần so với đối chứng. - Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất rừng trồng Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng đặc biệt là ở những nơi đất đai khô cằn, ít chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, chúng ta cần lựa chọn loại phân và cách bón nào cho kết quả, liều lượng bón là bao nhiêu và nên bón vào lúc nào cho phù hợp nhu cầu sinh lý của cây, cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây sinh trưởng, bón ít mà thu lợi nhiều không gây lãng phí hoặc làm ô nhiễm hay 8 suy thoái môi trường. Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, điển hình như công trình nghiên cứu của Mello (1976) ở Brazil cho thấy bạch đàn Eucalyptus sinh trưởng khá tốt ở công thức không bón phân nhưng bón NPK thì năng suất có thể lên trên 50%.
Bolstand và cộng sự (1988)[18] cũng đã tìm thấy một vài loại phân có phản ứng tích cực mang lại kết quả như ở Potasium, phosphate, boron và magnesium. Khi nghiên cứu bón phân cho rừng trồng Thông P. Herrero và cộng sự (1988)[21] cũng cho thấy phân bón phosphate đã nâng sản lượng rừng từ 56 lên 69 m3/ha sau 13 năm trồng. Những nghiên cứu về cây Quế Năm 1928, J.Lan trong tác phẩm: „Cây trồng phổ biến ở Đông Dương’, phần nghiên cứu: Cây thực vật Hà Nội đã đề cập đến cây Quế.
Theo theo tác giả thì cây Quế được sử dụng từ thời của người Hêbrơ, Hy Lạp, La Mã. Những người thời cổ đã dùng Quế từ những người Phênisiên được lấy từ những vùng trung tâm Châu Á. Mãi đến năm 1896 cây Quế mới được gieo trồng và đạt kết quả tốt. Ông đã phân loại Quế ra ba loài Quế chủ yế đó là Cinnamomom zeylanicum, Cinnamomum loureiril Nees và Cinnamomum cassia Blume (Phạm Xuân Hoàn, trang 1, 2) [13].
Năm 1974 giáo sư John E-Gunter Trường Đại học tổng hợp Michigan Mỹ đã xuất bản giáo trình: Những vấn đề cơ bản trong đánh giá đầu tư Lâm nghiệp. Năm 1979 tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới (FAO), đã xuất bản giáo trình phân tích các dự án lâm nghiệp. Tài liệu này dùng giảng dạy cho các địa phương mà tổ chức FAO có đầu tư dự án trồng rừng và phát triển lâm nghiệp. Như vậy, đánh giá hiệu quả kinh doanh trồng rừng, về mặt phương pháp luận ngày càng được phát triển và phổ cập rộng rãi trên thế giới.
Nhiều 9 quốc gia đã và đang vận dụng các phương pháp kỹ thuật đánh giá trên đây là việc đánh giá hiệu quả trồng rừng. Tình hình nghiên cứu trong nước - Phân vùng sinh trưởng cho thực vật Ở nước ta khoa học nghiên cứu về sản lượng rừng hình thành tương đối muộn so với các nước khác, nhưng việc nghiên cứu và dự đoán sản lượng rừng phục vụ công tác điều tra kinh doanh rừng ở nước ta đã được các nhà khoa học thuộc Viện khoa học lâm nghiệp, Viện điều tra quy hoạch rừng, trường Đại học Lâm Nghiệp và các trung tâm nghiên cứu trong cả nước tiến hành nghiên cứu, lúc đầu chỉ là thăm dò, mô tả định tính. Cho đến nay thì mô hình toán học cũng đã dần làm rõ ngành khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Đầu tiên các tác giả Nguyễn Ngọc Nhị và Nguyễn Văn Khánh phân vùng sinh trưởng cho thực vật rừng Việt Nam dựa vào các đặc trưng về khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng và thực vật với hệ thống chi tiết gồm 6 cấp, tổng số khu vực sinh trưởng 100 cấp cho toàn quốc.
- Phân loại các giống quế, đặc tính sinh vật học và khả năng gây trồng quế. Phân loại quế theo tác giả Đỗ Tất Lợi thì Quế có ba loài chính như sau: Quế Thanh Hóa, Nghệ An (Cinnamomum loureirii Nees), Quế Trung Quốc (Cinamomum cassia Blume), Quế Xây Lan (Cinamomum zeylanicum Nees). Kết quả nghiên cứu cây Quế miền Bắc Việt Nam của tác giả Trần Hợp đã kết luận: Quế miền Bắc Việt Nam xếp vào một loài là Cinamomum cassia Blume. Tác giả Thạch Bích và Hoàng Minh Tuấn cũng đã khẳng định tên khoa học của cây Quế đang trồng ở Thanh Hóa hiện nay cùng loài với Quế bì ở Trung Quốc là loài: Cinamomum cassia Blume.
Đỗ Đình Sâm, Hoàng Xuân Tý, Ngô Đình Quế và Nguyễn Tiến Đạt tiến hành nghiên cứu về đất và phân hạng đất trồng quế ở Quảng Nam – Đà Nẵng vào giai đoạn 1983 – 1987 và 1995.