Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu các loài Keo lai và Keo tai tượng trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Những nghiên cứu về các loài Keo lai và Keo tai tượng trên thế giới Nghiên cứu về chi keo nói chung và cây Keo lai, Keo tai tượng có nhiều tác giả trên thế giới đề cập đến, nổi bật với một số nhà nghiên cứu như: Theo Turnbull và cộng sự (1998) cho biết: Chi keo (Acacia) có khoảng 1.300 phân bố trên toàn cầu, đã có trên 70 nước sử các loài keo như là loài ngoại lai cho mục đích phục hồi đất, cung cấp gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ. Ở các quốc gia thuộc khu vực nhiệt đới, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á, các loài keo cho gỗ với luân kỳ kinh doanh ngắn được quan tâm hơn cả. Harwood và cs (2004), có kết quả nghiên cứu: Qua khảo nghiệm khoảng 50 loài đã chọn được 3 loài là Keo tai tượng (A. mangium), Keo lá tràm (A.
auriculiformis), Keo lá liềm (A. crassicarpa) và giống keo lai tự nhiên (A. auriculiformis) phù hợp cho mục đích trồng rừng cung cấp gỗ do chúng sinh trưởng nhanh, thích nghi rộng và phát triển thân tốt Các nghiên cứu cải thiện giống về sinh trưởng, tính chất gỗ cho keo chủ yếu được tập trung cho nhóm loài này. Dưới đây là khái quát kết quả của một số nghiên cứu đã được công bố trên thế giới.
(1992), cho rằng: Cây keo phần lớn có nguồn gốc ở Australia, các vùng nhiệt đới hay ôn đới ấm loại cây này xuất hiện nhiều. Một số khu vực phổ biến trên thế giới có nhiều loại cây gỗ này bao gồm châu Phi, châu Mỹ và miền nam châu Á. Tại Việt Nam, keo được trồng nhiều tại khu vực khô và có vùng diện tích rừng, đồi lớn.1 Những nghiên cứu về các loài Keo tai tượng 4 Nghiên cứu về cây Keo tai tượng trên thế giới có nhiều tác giả đề cập, điển hình có mộ số tác giả như: Nirsatmanto và Cs (2004) nghiên cứu về xuất xứ của Keo tai tượng, cho rằng: Ở Indonesia, khảo nghiệm xuất xứ Keo tai tượng đã được thực hiện từ những năm 1970 với 4 xuất xứ từ Queensland được trồng thử nghiệm ở Sumatra. Đến những năm 1990, để tăng tính đa dạng di truyền, Indonesia tiếp tục nhập thêm các xuất xứ từ Queensland (Australia), Papue New Guinea về để trồng khảo nghiệm ở nhiều nơi trong cả nước nhằm đánh giá về khả năng thích ứng và sinh trưởng của chúng Năm 1992, một chương trình cải thiện giống Keo tai tượng ở Indonesia đã được khởi động, hạt từ vườn giống thuộc các chương trình trước đây đã sử được sử dụng để xây dựng vườn giống thế hệ thứ 2.
Kết quả, Indonesia đã chọn được những xuất xứ, gia đình Keo tai tượng có sinh trưởng nhanh, thích ứng tốt cho từng khu vực khảo nghiệm, năng suất có thể đạt > 40 m3/ha/năm. Nirsatmanto (2016), Đánh giá sinh trưởng của Keo tai tượng ở Indonesia từ 3 nguồn giống (2 nguồn hạt từ vườn giống thế hệ 2 và hạt chưa được cải thiện) với 2 mật độ trồng khác nhau (1.100 cây/ha và 2. Kết quả cho thấy, ở cả 2 mật độ, sinh trưởng và năng suất của 2 nguồn hạt đều cao hơn rõ rệt so với nguồn hạt chưa được cải thiện sau 3 tuổi; Theo Doran, Turnbull, và c.s, (1997), cho biết: Keo tai tượng (Acacia mangium Willd), thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae R.Br) có nguồn gốc từ Úc (Aus), Papua New Guinea (PNG) và Indonesia (Indo). Phân bố chủ yếu ở vĩ độ 8-180 độ Nam, độ cao 300m, lượng mưa 1500-3000 mm/năm.
Tuy mới được du nhập vào nước ta khoảng đầu những năm 1980, tuy nhiên Keo tai tượng đang được trồng rất phổ biến ở nhiều nơi. Keo tai tượng thuộc loại cây thân gỗ nhỏ, có thể cao tới 25 – 30 m, có thân cây to, khoẻ mạnh, sinh trưởng tốt hơn Keo lá tràm, rễ có nốt sần cố định đạm có khả năng cải tạo đất rất hiệu quả.H, (1992), thì gỗ Keo tai tượng có tỉ trọng 0,45 – 0,50, đến giai đoạn sau 12 tuổi sẽ đạt 0,59 phù hợp cho làm gỗ dán, ván 5 dăm, làm giấy, ván ghép,. Hiện nay Keo tai tượng đang được sử dụng rất rộng rãi ở nhiều nơi cùng với Keo lá tràm làm nguyên liệu công nghiệp sản xuất các loại ván nhân tạo, như: ván dăm, ván bóc, ván sợi, ván ghép thanh v. Pavlotzky và Murillo (2014), báo cáo về sinh trưởng và chất lượng thân cây của 25 gia đình Keo tai tượng tại Los Chiles (Cost Rica).
Kết quả, hệ số di truyền ở cấp độ gia đình là rất cao (0,68). Tăng thu di truyền thực tế so với rừng trồng thương mại là 40,8%. Năng suất của 2 gia đình tốt nhất có thể đạt 22,9 m3/ha/năm ở tuổi 4. Hidayati và cs (2019) đã đánh giá sinh trưởng của 65 gia đình Keo tai tượng ở tuổi 6 tại Indonesia, qua đó đã chọn được 18 gia đình có sinh trưởng nhanh.
Tác giả cũng đã chỉ ra, tương quan giữa sinh trưởng và các tính chất gỗ là không chặt. Điều này cũng có nghĩa là có thể cải thiện được đồng thời về sinh trưởng và tính chất gỗ của Keo tai tượng bằng chiến lược cải thiện giống phù hợp. Sang Hyun Lee, And (2022). khi nghiên cứu vai trò của lá trong dâm hom keo tai tượng cho rằng: Lá cây đóng vai trò quan trọng đối với việc tạo mô phân sinh khi đầu hom bắt đầu ra rễ, nên cắt bớt một phần lá cho hom thu gọn hơn, vừa đỡ thoát hơi nước mà lại giảm được diện tích dâm cây.
Tác giả cho rằng cắt một nửa phiến lá mang lại kết quả tạo rễ cao nhất cho loài Keo tai tượng.2 Những nghiên cứu về các loài Keo lai Pinso và Nasi (1991), khi đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai thấy rằng độ thẳng thân, chiều cao dưới cành, độ tròn đều của thân, vv. ở cây Keo lai đều tốt hơn hai loài keo bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp cho trồng rừng thương mại. Cây Keo lai còn có ưu điểm là có đỉnh ngọn sinh trưởng tốt, thân cây đơn trục và tỉa cành tự nhiên tốt., (1997), cho rằng: Năm 1992 ở Inđônêxia, bắt đầu có thí nghiệm trồng Keo lai với cây con được lai tạo bởi nuôi cấy mô phân sinh giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm. Mặc dù Keo lai trên thế giới được phát hiện rất sớm và đã được nghiên 6 cứu phát triển trong trồng rừng, tuy nhiên những công trình nghiên cứu về Keo lai lại không quá phổ biến.
Tewari (1994), khi nghiên cứu về sinh trưởng và phát triển của một số giống keo (Acacia) trên một số loại đất đã bạc màu của Ấn Độ, tác giả đã đưa ra kết quả về tính trội chịu hạn, chứng tỏ cây Keo không kén đất, chúng có thể sống và sinh trưởng tốt, một số loài keo như: A. Sunarti và cộng sự (2013), đã tiến hành đánh giá sinh trưởng của 44 dòng keo lai nhân tạo 12 tháng tuổi cho thấy, tỷ lệ sống đạt 93%, cao hơn tỷ lệ sống trung bình 4 giống đối chứng Keo lá tràm và Keo tai tượng (90%). Chiều cao trung bình của các dòng lai có sự phân ly lớn (1,5 – 4,5 m). Sinh trưởng chiều cao của 12 dòng tốt nhất vượt so với đối chứng Keo tai tượng được thu ở vườn giống thế hệ 1 từ 1,8 – 35,4%.
Ba dòng tốt nhất có chiều cao vượt so với các đối chứng từ 3,5 – 17,3%. Hệ số di truyền theo cấp độ dòng và cây cá thể đều rất cao, lần lượt là 0,96 và 0,59. Aimin và cộng sự (2014), đã báo cáo sinh trưởng của 14 dòng keo lai của cùng một tổ hợp lai với mẹ là Keo lá tràm trên 3 lập địa khác nhau ở Malaysia. Theo đó, sinh trưởng D1.3, Hvn có sự khác biệt lớn giữa các dòng và giữa các lập địa.
Qua đó, tác giả đã chọn được một số dòng keo lai có triển vọng, sinh trưởng D1.3 ở tuổi 3 – 4 đạt 16 – 17 cm. Harwood, (2016), nghiên cứu về khả năng chống chịu bệnh, Keo lai được cho là có tiềm năng kháng hoặc chống chịu với bệnh chết héo tốt hơn so với Keo tai tượng do thừa hưởng đặc tính này từ Keo lá tràm. Vì thế, việc sàng lọc các tổ hợp lai và dòng keo lai có khả năng kháng hoặc chống chịu bệnh tốt nên được đặc biệt quan tâm với các chương trình chọn giống keo, bên cạnh các tính trạng khác như sinh trưởng, chất lượng thân cây và chất lượng gỗ. Tình hình nghiên cứu về loài Keo lai và Keo tai tượng ở Việt Nam Ở Việt Nam, trong vài thập kỷ qua, vấn đề trồng rừng và quản lý rừng trồng rất được coi trọng, do tình trạng diện tích rừng liên tục bị thu hép do nhiều 7 nguyên nhân.
Đặc biệt một số loài cây sinh trưởng, phát triển nhanh như: Keo, Bạch đàn, với đa dạng các giống và xuất xứ của chúng cũng được đưa vào cơ cấu cây trồng trong lâm nghiệp.1 Nghiên cứu về Keo tai tượng Nghiên cứu về sinh trưởng của Keo tai tượng có nhiều tác giả đề cập đến, cụ thể như: Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (1991) đã nghiên cứu giống Keo tai tượng vào năm 1980, một số xuất xứ của 4 loài Keo tai tượng được khảo nghiệm ở nhiều vùng trên cả nước cho thấy đáng được khích lệ về sinh trưởng, tốt nhất là ở Ba Vì (Hà Nội và xã Hoá thượng, huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên). Tác giả cho biết: Nhìn chung ở miền Nam Keo tai tượng lớn nhanh hơn ở miền Bắc, đặc biệt là ở Bình Sơn (Đồng Nai) loài này đạt chiều cao bình quân 2,8 m/năm và đường kính bình quân đạt 4,5 cm/năm. Ở Tân Tạo-Thành Phố Hồ Chí Minh, hai chỉ tiêu lần lượt là 2,6 m/năm và 3,4 cm/năm, trong khi đó ở Ba Vì - Hà Nội và Vĩnh Phú, hai chỉ tiêu này lần lượt là 1,9 m/năm và 2,4 - 2,6 cm/năm. Một số xuất xứ Keo tai tượng đã được đưa đi khảo nghiệm ở một vài nơi, tuy các rừng khảo nghiệm còn non tuổi, nhưng đã có hiệu quả bước đầu: Tại Bầu Bàng, nơi ứ nước trong mùa mưa, hai xuất xứ sinh trưởng kém là Kennedy và Kuranda, nhưng ở La Ngà, đất đai màu mỡ và thoát nước tốt mùa mưa, các xuất xứ Kuranda, Bronte và Hawkins sinh trưởng tốt nhất.
Sinh trưởng về chiều cao của Keo tai tượng ở Bầu Bàng chỉ đạt gần từ 2,0-2,5 m/năm (xuất xứ khá nhất), trong khi ở La Ngà, xuất xứ tốt nhất đạt chiều cao từ 3,6 – 4,3 m/năm.