Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống rừng phòng hộ đóng vai trò cốt lõi trong an ninh môi trường quốc gia với quy mô 4,1 triệu ha và 229 ban quản lý chuyên trách trên toàn quốc. Tại tỉnh Quảng Ninh, khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Trúc Bài Sơn thuộc địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Hải Hà sở hữu tổng diện tích tự nhiên 7.059,7 ha, trong đó 6.681,4 ha đã được giao quản lý theo Quyết định số 1904/QĐ-UBND. Lưu vực này trực tiếp bảo vệ hồ chứa nước Trúc Bài Sơn có diện tích mặt nước trên 200 ha với dung tích trữ nước đạt 12 triệu m3, cung cấp nguồn nước sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp thiết yếu cho hàng chục nghìn người dân ven biển Đông Bắc.

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên rừng tại đây đang đứng trước sức ép suy thoái nghiêm trọng do tập quán canh tác nương rẫy lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số, tình trạng khai thác gỗ trái phép và nguy cơ cháy rừng mùa khô. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên rừng, phân tích cơ cấu tổ chức quản lý và các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bền vững tại lưu vực hồ Trúc Bài Sơn.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa tại xã Quảng Sơn từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc đưa ra các giải pháp khả thi nhằm củng cố độ che phủ rừng trên 81,52%, cải tạo trữ lượng rừng nghèo kiệt từ mức bình quân 20,2 m3/ha, đồng thời tối ưu hóa định mức quản lý cho 18 cán bộ chuyên trách bảo vệ lưu vực sinh thủy trọng yếu này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết quản lý rừng bền vững của Tổ chức Gỗ Nhiệt đới Quốc tế và Hội đồng Quản lý Rừng, xác lập mục tiêu cân bằng đồng thời ba trụ cột: bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường sinh thái. Khung lý thuyết này khẳng định nguyên lý bình đẳng giữa các thế hệ, nguyên lý phòng ngừa rủi ro sinh thái và nguyên lý nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp mô hình lâm nghiệp xã hội và quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, tham chiếu các bài học thành công từ mô hình đồng quản lý tại Vườn quốc gia Bwindi Impenetrable ở Uganda và Khu bảo tồn Hoàng gia Chitwan ở Nepal.

Hệ thống khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: quản lý rừng bền vững, trữ lượng rừng phòng hộ đầu nguồn, sinh cảnh sống, đa dạng sinh học và chu trình sinh thủy lưu vực. Các định hướng nghiên cứu được xây dựng phù hợp với quy định của Luật Lâm nghiệp, Luật Đất đai, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, Thông tư số 28/2018/TT-BNNPTNT và Quyết định số 1288/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài tích hợp giữa dữ liệu thứ cấp từ hồ sơ kiểm kê rừng, bản đồ diễn biến tài nguyên rừng giai đoạn 2015 - 2017 và dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa vào tháng 5 năm 2018. Tác giả tiến hành khoanh vẽ theo phương pháp dốc đối diện kết hợp máy định vị GPS cầm tay để chuẩn hóa ranh giới các tiểu khu rừng.

Về phương pháp chọn mẫu xã hội học, cỡ mẫu khảo sát không lặp lại được xác định theo công thức thống kê chuẩn với mức sai số cho phép 10% và hệ số tin cậy 95%. Tổng dung lượng mẫu đạt 292 hộ gia đình được phân bổ ngẫu nhiên phân tầng tại 9 thôn bản thuộc xã Quảng Sơn, tiêu biểu như bản Quảng Mới với 55 trên 129 hộ, bản Tài Chi với 40 trên 69 hộ, bản Mảy Nháu với 35 trên 57 hộ, và Thôn 4 với 62 trên 176 hộ.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn và đánh giá nông thôn có sự tham gia thông qua phỏng vấn chuyên sâu 50 hộ dân cùng 6 cán bộ quản lý cấp huyện và xã. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm đảm bảo tính khách quan, phản ánh chính xác tiếng nói cộng đồng địa phương. Dữ liệu không gian được xử lý bằng phần mềm MapInfo để số hóa bản đồ hiện trạng rừng năm 2018, trong khi dữ liệu kinh tế - xã hội được tổng hợp và phân tích định tính, định lượng qua ma trận SWOT trên phần mềm Excel từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diện tích rừng có sự gia tăng về số lượng nhưng không đồng đều. Tổng diện tích có rừng năm 2017 đạt 5.752,9 ha, tăng 154 ha so với mức 5.598,9 ha năm 2013 nhờ vào các chương trình trồng rừng thay thế. Độ che phủ của lưu vực tăng từ 79,34% lên 81,52%, tuy nhiên diện tích đất trống chưa có rừng vẫn còn tới 1.303,8 ha, chiếm 18,48% tổng diện tích tự nhiên.

Thứ hai, chất lượng trữ lượng rừng tự nhiên ở mức rất thấp. Trong 4.151,1 ha rừng tự nhiên thứ sinh, không ghi nhận diện tích rừng giàu và rừng trung bình. Rừng tự nhiên bao gồm 1.700,8 ha rừng nghèo với trữ lượng bình quân 52,6 m3/ha và 2.346,8 ha rừng nghèo kiệt với trữ lượng chỉ đạt 20,2 m3/ha. Rừng trồng có trữ lượng đạt 1.154,6 ha với mật độ tích lũy thấp khoảng 31,0 m3/ha, còn lại 447,2 ha là rừng trồng non chưa có trữ lượng.

Thứ ba, lưu vực sở hữu giá trị đa dạng sinh học cao với 23 loài thú thuộc 14 họ và 6 bộ. Trong đó, có 2 loài thuộc bậc Nguy cấp (EN) và 4 loài thuộc bậc Sắp nguy cấp (VU) theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007. Các loài thú quý hiếm như Cu li nhỏ, Khỉ mặt đỏ, Gấu ngựa, Báo lửa và Sơn dương phân bố rải rác tại các tiểu khu 302, 303, 304 và 306 nhưng đang chịu áp lực săn bắt nghiêm trọng.

Thứ tư, công tác tổ chức bộ máy và chia sẻ lợi ích tồn tại nhiều bất cập. Ban Quản lý rừng phòng hộ Trúc Bài Sơn có 18 biên chế nhưng chỉ có 8 nhân sự trực tiếp làm nhiệm vụ tuần tra bảo vệ tại 3 trạm (Quảng Sơn, Lòng Hồ, Tài Chi), tương đương tỷ lệ 44,4%. Bình quân mỗi cán bộ bảo vệ trực tiếp phải quán xuyến 882 ha rừng trên địa hình núi cao chia cắt. Đặc biệt, trong tổng số 746 hộ dân toàn xã, chỉ có 6 hộ gia đình được tham gia nhận khoán bảo vệ rừng với mức chi trả khoảng 194.000 đồng/ha/năm, khiến cộng đồng thiếu động lực bảo vệ rừng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chất lượng rừng kém và cơ cấu tổ chức mỏng bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế và địa lý. Phần lớn cư dân vùng đệm là đồng bào dân tộc thiểu số với trình độ dân trí chưa cao, sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên tự nhiên. Thu nhập bình quân của cán bộ ban quản lý chỉ đạt khoảng 5 triệu đồng/tháng, chưa có phụ cấp đặc thù ngoài lương ngạch bậc khiến áp lực giữ rừng càng lớn.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ phân bố trữ lượng rừng tự nhiên, làm nổi bật tỷ trọng 56,5% diện tích rừng nghèo kiệt và 41,0% diện tích rừng nghèo. Đồng thời, bảng tổng hợp biến động sử dụng đất giai đoạn 2013 - 2017 và sơ đồ ma trận SWOT giúp phân định rõ điểm nghẽn về hạ tầng giao thông tuần tra đường thủy khi di chuyển qua lòng hồ sâu 15 m.

So sánh với các nghiên cứu lâm nghiệp tại vùng Tây Nguyên và Vườn quốc gia Pù Mát, tỷ lệ người dân hưởng lợi kinh tế từ rừng dưới 1% tại hồ Trúc Bài Sơn là quá thấp. Kết quả này chứng minh rằng nếu không chuyển đổi sang cơ chế đồng quản lý và tăng cường chuỗi giá trị dịch vụ môi trường rừng, nguy cơ suy thoái 7.056,7 ha lưu vực đầu nguồn sẽ tiếp tục gia tăng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn cơ cấu tổ chức và tăng cường nguồn nhân lực bảo vệ rừng. Ban Quản lý rừng phòng hộ Trúc Bài Sơn cần tái sắp xếp bộ máy 18 cán bộ theo hướng tinh giản bộ phận văn phòng, nâng số lượng nhân viên tuần tra trực tiếp tại 3 trạm bảo vệ từ 8 người lên ít nhất 12 người trong giai đoạn 2019 - 2021. Mục tiêu là giảm định mức tuần tra bình quân từ 882 ha/người xuống dưới 550 ha/người, đồng thời trang bị thêm 2 ca nô tuần tra đường thủy và hệ thống máy GPS định vị chuyên dụng.

Thứ hai, mở rộng cơ chế chia sẻ lợi ích và chính sách giao khoán rừng. Ủy ban nhân dân huyện Hải Hà phối hợp cùng Ban Quản lý rà soát để mở rộng diện tích khoán bảo vệ rừng từ 6 hộ hiện tại lên tối thiểu 200 hộ dân tại 9 thôn bản xung quanh giai đoạn 2019 - 2022. Áp dụng mức đơn giá khoán bảo vệ theo khung chính sách mới và triển khai đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng từ nguồn nước hồ chứa 12 triệu m3, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương.

Thứ ba, áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nâng cao chất lượng rừng. Phòng kỹ thuật Ban Quản lý cần triển khai khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung cây bản địa gỗ lớn như lim xanh, táu mật, kháo vàng và dổi trên 2.346,8 ha rừng nghèo kiệt. Chuyển hóa 1.601,8 ha rừng trồng keo và thông mã vĩ sang rừng phòng hộ hỗn loài nhiều tầng tán, hướng tới mục tiêu tăng trữ lượng bình quân toàn lâm phận lên trên 60 m3/ha vào năm 2025.

Thứ tư, hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất và đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật. Hoàn tất thủ tục đề nghị cấp có thẩm quyền giao tiếp 378,3 ha rừng phòng hộ còn lại tại xã Quảng Sơn để quản lý thống nhất. Hạt Kiểm lâm huyện Hải Hà phối hợp với chính quyền xã xây dựng 9 hương ước, quy ước bảo vệ rừng tại các thôn bản, tổ chức ít nhất 18 đợt tập huấn phòng cháy chữa cháy rừng và phổ biến Luật Lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn 2019 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là ban quản lý các khu rừng phòng hộ đầu nguồn và cán bộ kiểm lâm địa bàn. Luận văn cung cấp phương pháp luận thực tế về số hóa bản đồ quản lý rừng bằng công nghệ MapInfo và giải pháp tổ chức lực lượng tuần tra bảo vệ lưu vực sinh thủy rộng hơn 7.000 ha.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước như Ủy ban nhân dân cấp huyện, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm. Tài liệu là căn cứ thực tiễn giá trị để phê duyệt quy hoạch ba loại rừng, phân bổ kinh phí trồng rừng thay thế và xây dựng chính sách giao khoán bảo vệ rừng gắn với giảm nghèo bền vững cho hơn 700 hộ dân vùng đệm.

Nhóm thứ ba là các giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học và Lâm nghiệp xã hội. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình ứng dụng các công cụ điều tra xã hội học kết hợp điều tra cấu trúc lâm phần và phân tích đa dạng sinh học động vật quý hiếm.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia nghiên cứu bảo tồn thiên nhiên. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu nền tảng về hiện trạng phân bố của 23 loài thú nguy cấp, phục vụ thiết kế các dự án bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó biến đổi khí hậu tại vùng Đông Bắc Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Rừng phòng hộ hồ Trúc Bài Sơn có độ che phủ đạt 81,52% nhưng vì sao vẫn cần phục hồi khẩn cấp? Mặc dù diện tích che phủ đạt 5.752,9 ha trên tổng số 7.056,7 ha đất tự nhiên, chất lượng rừng tại đây rất thấp. Rừng tự nhiên hoàn toàn không có rừng giàu mà chủ yếu là rừng nghèo kiệt với trữ lượng bình quân chỉ 20,2 m3/ha, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng giữ đất, điều tiết nguồn nước 12 triệu m3 của hồ chứa.

Thách thức lớn nhất trong việc bố trí lực lượng tuần tra bảo vệ rừng của Ban Quản lý hiện nay là gì? Ban Quản lý có 18 biên chế nhưng chỉ có 8 cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ tại 3 trạm bảo vệ rừng. Điều này dẫn tới định mức quản lý quá cao, mỗi nhân viên phải chịu trách nhiệm tới 882 ha rừng trong điều kiện địa hình chia cắt phức tạp và thiếu phương tiện tuần tra thủy bộ.

Cơ chế hưởng lợi kinh tế từ rừng của người dân địa phương đang gặp phải rào cản nào? Toàn xã Quảng Sơn có 746 hộ dân sinh sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng, nhưng chỉ có 6 hộ được tham gia dự án nhận khoán bảo vệ rừng với mức chi trả khoảng 194.000 đồng/ha/năm. Tỷ lệ tham gia dưới 1% này chưa tạo ra động lực kinh tế đủ mạnh để lôi cuốn cộng đồng vào công tác giữ rừng.

Luận văn đã áp dụng phương pháp nào để xác định cỡ mẫu khảo sát xã hội học? Nghiên cứu áp dụng công thức chọn mẫu xác suất không lặp lại với sai số 10% và độ tin cậy 95%. Tổng dung lượng mẫu được tính toán là 292 hộ gia đình phân bổ tại 9 thôn bản, kết hợp phỏng vấn sâu 50 hộ dân theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn để bảo đảm độ tin cậy.

Những loài động vật nguy cấp nào đang cần được ưu tiên bảo tồn tại lưu vực hồ Trúc Bài Sơn? Nghiên cứu ghi nhận 23 loài thú, trong đó có Cu li nhỏ và Khỉ mặt đỏ thuộc nhóm Nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam, cùng các loài quý hiếm như Báo lửa, Gấu ngựa, Cầy hương và Sơn dương. Các loài này đang phân bố tại các tiểu khu 302, 303, 304, 306 và cần được bảo vệ sinh cảnh nghiêm ngặt.

Kết luận

Thứ nhất, luận văn đã xây dựng bộ bản đồ hiện trạng rừng số hóa năm 2018 cho 7.056,7 ha lưu vực hồ Trúc Bài Sơn, xác định độ che phủ đạt 81,52% nhưng chất lượng trữ lượng rừng tự nhiên ở mức nghèo và nghèo kiệt với 4.047,6 ha.

Thứ hai, công trình đã ghi nhận 23 loài thú quý hiếm, chỉ rõ các sinh cảnh trọng yếu cần ưu tiên bảo tồn tại 4 tiểu khu rừng tự nhiên phòng hộ đầu nguồn.

Thứ ba, nghiên cứu đã phân tích sâu sắc các hạn chế trong bộ máy quản lý gồm 18 nhân sự và chỉ ra điểm nghẽn trong cơ chế chia sẻ lợi ích khi mới có 6 trên 746 hộ dân được nhận khoán rừng.

Thứ tư, đề tài xác lập 4 nhóm giải pháp đồng bộ về tinh gọn tổ chức, cải tiến kỹ thuật lâm sinh cho 2.346,8 ha rừng nghèo kiệt, mở rộng diện tích khoán và đẩy mạnh truyền thông cộng đồng theo lộ trình 2019 - 2025.

Thứ năm, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo nền tảng giúp các nhà quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương hoàn thiện phương án quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc gia. Các đơn vị quản lý rừng phòng hộ trên toàn quốc nên chủ động tham khảo mô hình nghiên cứu này để tối ưu hóa nguồn lực quản trị lưu vực đầu nguồn.