Đặt vấn đề Như chúng ta đã biết rừng không chỉ có vai trò quan trọng trong việc hình thành môi trường, điều hòa khí quyển mà còn có vai trò xã hội to lớn. Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi. Rừng có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống xói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Để đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu cho các xí nghiệp, nhà máy hiện nay, cũng như nâng cao độ che phủ.
Diện tích rừng trồng đã được nâng lên. Ở hầu hết các địa phương đều tiến hành theo các chương trình, dự án trồng rừng của nhà nước. Trong đó Keo lai cũng là một các giống cây được trồng phổ biến nhất. Đây là giống có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa bố và mẹ, đồng thời có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng nhanh, có hiệu suất bột giấy, độ bền cơ học và độ trắng của giấy cao hơn hẳn các loài bố mẹ, có khả năng cố định đạm khí quyển trong đất nhờ các nốt sần ở hệ rễ.
Là cây gỗ đa mục đích, cao 25 – 30 m, đường kính 60 – 80 cm. Thân thẳng, tròn đều, tán phát triển cân đối, vỏ ngoài màu xám, cành non vuông màu xanh lục. Lá có 3 – 4 gân mặt chính, lá hình mác, có chiều dài và rộng nhỏ hơn lá keo tai tượng và lớn hơn lá keo lá tràm. e 2 Hòa An là một huyện thuộc tỉnh Cao Bằng, Huyện nằm ở trung tâm tỉnh trong những năm gần đây keo lai đã được gây trồng ở nhiều xã trong địa bàn huyện.
Diện tích ngày càng được mở rộng để đáp ứng nhu cầu cho nhà máy ván dăm, ván ép, xưởng chế biến gỗ để phục vụ cho đời sống của người dân. Tuy nhiên việc nghiên cứu sinh trưởng của keo lai làm cơ sở khoa học để có được mô hình rừng, các biện pháp chăm sóc hiệu quả nhất hiện nay vẫn còn thiếu. Đặc biệt là trong xây dựng mô hình sản lượng chuyên dụng phục vụ công tác điều tra kinh doanh rừng. Một điều đáng nói là người trồng keo lai là để đáp ứng môi trường sinh thái mà chưa hiểu hết tầm giá trị của sản phẩm cây keo lai mang lại.
Xuất phát từ thực tiễn các vấn đề về Keo lai việc thực hiện đề tài: “Điều tra sinh trưởng làm cơ sở xây dựng mô hình sản lượng rừng keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) trồng tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng” sẽ góp phần giải quyết vấn đề đó và có ý nghĩa thực tiễn cho việc xây dựng các mô hình trồng keo, xây dựng các giải pháp phù hợp để phát triển có hiệu quả rừng trồng keo lai ở địa phương cũng như trên địa bàn huyện. Mục đích nghiên cứu Cung cấp thêm cơ sở khoa học trong công tác xây dựng mô hình sản lượng keo lai; Đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của cây keo lai để phục vụ cho phát triển kinh tế tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được sinh trưởng của rừng trồng Keo lai tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. - Phân tích được các quy luật kết cấu lâm phần Keo lai tại xã Bế Triều, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
e 3 - Lập được mô hình biểu diễn mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sản lượng rừng, các chỉ tiêu tuổi rừng, điều kiện lập địa và mật độ lâm phần loài keo lai làm cơ sở xây dựng mô hình sản lượng đảm bảo yêu cầu với độ chính xác (hay sai số cho phép), xây dựng phương pháp điều tra và dự đoán trữ lượng gỗ lâm phần. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập Giúp cho sinh viên củng cố lại những kiến thức lý thuyết đã được học, đồng thời làm quen với thực tế, tích lũy học hỏi kinh nghiệm. Thực hành thành thạo các phương pháp trong điều tra, nghiên cứu các loại cây rừng.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Để tài thực hiện nhằm đánh giá thực tế về điều tra kinh doanh rừng tại địa phương, từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhất giúp người dân và chính quyền địa phương có kế hoạch phát triển cây keo lai trong thời gian tới đạt hiệu quả năng suất cao. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Cơ sở khoa học 2.
Phân loại khoa học Giới (regnum): Thực vật (Plantate); Bộ (ordo): Đậu (Fabales); Họ (familia): Đậu (Fabaceae); Phân họ (subfamilia): Trinh nữ (Mimosoideae); Chi (genus): Keo (Acacia); Loài (species): Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) 2. Đặc điểm hình thái Keo lai là sự kết hợp giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Keo lai là cây gỗ nhỡ thường xanh cao tới 20- 30m, đường kính có thể đạt tới 60 – 80cm. Thân tròn thẳng, tán rộng phân cành thấp, vỏ màu xám nâu nứt dọc.
Cây con dưới một tuổi lá kép lông chim hai lần, cây trưởng thành lá đơn hình trái xoan dài hoặc hình ngọn giáo, đầu tù men theo cuống, phiến lá dày nhẵn bông, có 3 – 5 gân dọc gắn song song chụm lại ở đuôi lá, các gân nhỏ song song xen giữa các gân chính. Hoa tự bông dài mọc lẻ hay mọc tập trung ở nách lá hay ở đầu cành. Hoa đều lưỡng tính mẫu 4, tràng hoa màu vàng, nhị hoa thường vươn dài ra ngoài hoa. Quả đậu xoắn, hạt hình trái xoan, hơi dẹt, màu đen.
Rễ cây mọc rộng có nhiều nốt sần cố định đạm (Lê Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999) [1]. Đặc điểm sinh thái Keo lai là cây mọc nhanh ở vùng Đông Nam Bộ sau 5 năm tuổi Keo lai có khả năng sinh trưởng nhanh cả về đường kính và chiều cao, đường kính trung bình có thể đạt tới 12.8cm và chiều cao trung bình có thể đạt tới 16. Keo lai loài cây ưa sáng, sống được ở nơi nhiệt độ bình quân là 220C tối thích là e 5 24 - 280C và giới hạn là 400C, lượng mưa 1500 - 2500mm/năm. Đất đai chủ yếu trồng trên các loại đất Feralit tầng dày tối thiểu 75cm, đất phù sa cổ, đất xám bạc màu…Mùa ra hoa quả gần như quanh năm (Lê Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999) [1].
Phân bố địa lý Keo Lai đã xuất hiện trong các rừng Keo Tai tượng vào đầu những năm 1990 ở một số vùng nước ta, sau đó được gây trồng để lấy giống ở Ba Vì, Hà Tây. Ở nước ta cây Keo lai được gây trồng rộng rãi trên toàn quốc những năm gần đây. Cây mọc hầu hết các dạng đất thích hợp nhất là từ Quảng Bình trở ra. Giá trị kinh tế Keo lai có khả năng cải tạo đất tốt, chống xói mòn, chống cháy rừng.
Gỗ thẳng màu trắng có vân, có lõi giác phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt: Kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mỹ nghệ, hàng xuất khẩu. Gỗ cho nhiệt lượng cao có thể sử dụng làm củi hoặc than chạy máy [17]. Cây có hình dáng đẹp có thể trồng làm rừng phong cảnh. Ngoài ra lá có thể làm thức ăn gia súc như dê, hươu,… 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Giống Keo lai tự nhiên này được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972 trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang Sabah, Malaysia.Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn giống bố mẹ. Đến tháng 7 năm 1978, kết luận trên cũng đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland - Australia). Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun và e 6 cộng sự, 1987, Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Rufelds, 1987)[26] và Ulu Kukut (Darus và Rasip, 1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (Kijkar, 1992).
Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội so với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân dưới cành lớn. Nghiên cứu mô hình sinh trưởng Mô hình sinh trưởng từ những biểu đồ đơn giản nhất cho đến những phần mềm máy tính phức tạp đã và đang là những công cụ quan trọng trong quản lý rừng (Vanclay, 1998; Pote' and Bartelink, 2002) [28] [25]. Sinh khối và hấp thụ các bon có thể được xác định bằng mô hình sinh trưởng. Trên thế giới đã có rất nhiều mô hình sinh trưởng đã được phát triển và không thể tìm hiểu được phương pháp cụ thể của mỗi mô hình.
Vì vậy cần phải xác định được những điểm chung để phân loại mô hình (Vanclay, 1998) [28]. Rất nhiều tác giả đã cố gắng để phân loại mô hình theo các nhóm khác nhau với những tiêu chuẩn khác nhau (Pote' and Bartelink, 2002) [25]. Có thể phân loại mô hình thành các dạng chính sau đây: 1. Mô hình thực nghiệm/thống kê (empirical model) dựa trên những đo đếm của sinh trưởng và các điều kiện tự nhiên của thời điểm đo đếm mà không xét đến các quá trình sinh lý học.
Mô hình động thái (process model)/mô hình sinh lý học mô tả đầy đủ các cơ chế hóa sinh, lý sinh trong hệ sinh thái và sinh vật (Constable and Friend, 2000)[21]. Mô hình hỗn hợp (hybrid/mixed model), kết hợp phương pháp xây dựng hai loại mô hình trên đây để xây dựng mô hình hỗn hợp. Mô hình thực nghiệm đòi hỏi ít tham số (biến số) và có thể dễ dàng mô phỏng sự đa dạng về quản lý cũng như xử lý lâm sinh, nó là công cụ định e 7 lượng sử dụng có hiệu quả và phù hợp trong quản lý và lập kế hoạch quản lý rừng (Landsberg and Gower, 1997; Vanclay and Skovsgaard, 1997; Vanclay, 1998)[23][28].