Đặt vấn đề Ở Việt Nam, vấn đề thương mại hóa các giá trị dịch vụ môi trường rừng bao gồm khả năng hấp thụ CO2 của rừng còn rất mới mẻ nhưng cũng đã có sự quan tâm nghiên cứu trong một vài năm gần đây. Chính phủ đã có Nghị định 48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 về nguyên tắc và phương pháp định giá các loại rừng; Quyết định 380-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, tiếp đó năm 2010 chính phủ đã ra Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Chính phủ cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu điển hình là quyết định 158/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng chính phủ về chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó việc giảm lượng CO2 (nguyên nhân chính gây nên sự nóng lên của trái đất) rất được quan tâm. Như vậy, có thể nói hiện nay ở nước ta hành lang pháp lý cho việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bao gồm cả khả năng hấp thụ và lưu giữ CO2 là đã có cơ sở nhưng việc thực thi còn rất nhiều cản trở do chúng ta chưa có đủ cơ sở khoa học cũng như thực tiễn cho việc xác định khả năng hấp thụ và lưu giữ CO2 của từng loại rừng.
Ở nước ta hiện nay các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu sinh khối và khả năng hấp thụ của một số dạng rừng trồng cho một số loài cây trồng rừng phổ biến ở Việt Nam như Keo các loại, Bạch đàn, Thông,. Tuy nhiên, những nghiên cứu nhằm lượng hóa giá trị dịch vụ môi trường của rừng bao gồm cả khả năng hấp thụ và lưu giữ CO2 cũng như giá trị thương mại mà rừng mang lại ở cả trên thế giới và ở Việt Nam còn rất ít và tản mạn, chưa có hệ thống, thiếu các dữ liệu cơ bản nên chưa đủ cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc định giá rừng nói chung, định lượng khả năng cố định cho các dạng rừng nói riêng. Do vậy, giá trị mang lại của rừng hiện nay e 2 vẫn chưa được tính toán một cách đầy đủ. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc thu hút cộng đồng tham gia phát triển nghề rừng một cách bền vững.
Nhằm đi sâu nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng tích luỹ của một số loại rừng trồng trên địa bàn huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái hiện nay, dự báo khả năng hấp thụ CO2 của các trạng thái rừng và các phương thức quản lý rừng để làm cơ sở khuyến khích, xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường, đây chính là những vấn đề còn thiếu nhiều nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên địa bàn huyện Văn Chấn hiện nay. Trên cơ sở đó, có những đề xuất, khuyến cáo người dân, cấp uỷ, chính quyền địa phương để có những định hướng, lựa chọn loại cây để đưa vào trồng rừng ở địa phương nhằm đáp ứng tốt nhất hiệu quả kinh tế và hiệu quả bảo vệ môi trường trong thời gian tới. Xuất phát từ nhận thức như vậy, nên tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu khả năng tích lũy Rừng trồng keo tai tượng Công ty lâm nghiệp Ngòi Lao, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”.Mục đích nghiên cứu Xác định được khả năng tích lũy của rừng trồng keo tai tượng tại công ty Lâm nghiệp Ngòi Lao, huyện Văn Chấn, làm cơ sở cho việc xác định phí dịch vụ môi trường rừng trong tương lai. Mục tiêu nghiên cứu - Lượng hoá được khả năng hấp thụ CO2 của rừng trồng keo tai tượng thong qua khả năng tích lũy của rừng trồng keo tai tượng tại công ty lâm nghiệp Ngòi Lao, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu + Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học,vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế, giúp sinh viên tích lũy được những kiến thức thực tiến quý giá phục vụ cho tương lai. + Làm cơ sở và tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan.Ý nghĩa trong thực tiễn + Góp phần làm cơ sở cho việc tính toán khả năng tích lũy của rừng trồng keo tai tượng ở các độ tuổi khác nhau. + Nghiên cứu đề tài giúp xác định được lượng tích lũy ở các độ tuổi khác nhau của keo tai tượng, từ đó làm cơ sở cho việc xác định phí dịch vụ môi trường rừng. e 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2.
CDM và một số dự án A/R-CDM Hiện tượng nóng lên toàn cầu ngày một gia tăng do các hoạt động của con người như sử dụng nguyên liệu hoá thạch, hoạt động công nghiệp, tàn phá rừng vv. Hậu quả của nó là sự biến đổi khí hậu và những thiên tai, dịch bệnh theo hướng bất lợi cho sự sống trên trái đất. Đứng trước nguy cơ đó, Hội nghị các bên (COP-Conference of the Parties) của Công ước Khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu đã thông qua Nghị định thư Kyoto tại Nhật Bản năm 1997, trong đó có cam kết của các nước phát triển là cắt giảm lượng khí thải để ngăn ngừa sự nóng lên toàn cầu. Một trong những nội dung của Nghị định thư Kyoto là đưa vào áp dụng các cơ chế gồm: “Cơ chế Đồng thực hiện(JI - Joint Implementation)”; “Cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism)”, và “Cơ chế thương mại phát thải(ET - Emissions trading)”(dẫn theo Phạm Xuân Hoàn - 2005 [1]).
Mục đích của CDM là giúp các Bên không thuộc phụ lục I (các nước đang phát triển) đạt được sự phát triển bền vững và đóng góp vào mục tiêu của Công ước, đồng thời giúp các nước phát triển đạt được sự tuân thủ các chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính. Đối với ngành lâm nghiệp, CDM đã mở ra một cơ hội mới trong việc kinh doanh sản phẩm không phải là các sản phẩm truyền thống như gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ như từ trước đến nay vẫn làm. Dựa vào đặc điểm của quá trình quang hợp và đặc điểm cấu trúc tế bào của thực vật mà các nhà kinh doanh lâm nghiệp có thể trồng rừng và bán carbon ra thị trường như những sản phẩm thông thường khác. e 5 Đến năm 2004 đã có 16 dự án về cố định qua việc trồng mới và tái trồng rừng được thực hiện, trong đó châu Mỹ - Latinh có 4 dự án, châu Phi có 7 dự án, châu Á có 5 dự án và 1 dự án liên quốc gia được thực hiện tại các nước Ấn Độ, Brazil, Jordan và Kenya (FAO, 2004) [16].
Tại Mexico một dự án đang được thực hiện, mục tiêu của dự án là cung cấp 18.000 tấn CO2/năm với giá 2,7 USD/tấn, dự án đã tập hợp trên 400 thành viên thuộc trên 33 cộng đồng của 4 nhóm dân tộc thiểu số tham gia với nhiều hệ thống nông-lâm kết hợp khác nhau. Kết quả của dự án đã làm tăng lượng tích luỹ, tăng cường năng lực cộng đồng, khuyến khích phát triển các hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững và góp phần bảo tồn đa dạng sinh học (Phạm Xuân Hoàn, 2005) [1]. Tại Ấn Độ, một dự án nâng cao cố định đang được thực hiện trong thời gian 50 năm, theo tính toán, khi kết thúc dự án có thể cố định được từ 0,4-0,6 Mt carbon, trong đó sau 8 năm, mỗi ha có thể cố định được 25,44 tấn, sau 12 năm có thể cố định được 41,2 tấn và sau 50 năm có thể cố định được 58,8 tấn (tương đương khoảng 3 tấn C/ha). Tây Phi thông qua việc tăng cường khả năng cố định của trảng cỏ Savannah (FAO, 2004) [16].
Nhìn chung, mục tiêu của các dự án về khả năng cố định carbon biến động rất lớn, từ 7 tấn/ha trong dự án tại vườn quốc gia Noel Kempf Mercado ở Bolivia đến 129 tấn/ha trong dự án thực hiện tại vùng Andean ở Ecuador (FAO, 2004) [16]. Qua những số liệu thống kê trên ta thấy rằng CDM đang mở ra cho ngành lâm nghiệp một hướng mới là dịch vụ môi trường thông qua trồng rừng và bán , đặc biệt đối với các nước đang phát triển, CDM sẽ là cơ hội để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, đây cũng là cơ hội để chuyển giao công nghệ, nâng cao kiến thức của người dân trong mục tiêu phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Nghiên cứu về sinh khối và khả năng cố định của rừng trồng Sinh khối là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc tính toán khả năng cố định carbon của rừng. Trước khi vấn đề rừng trồng được quan tâm, sinh khối rừng đã được nghiên cứu khá kỹ nhằm mục đích đánh giá năng suất rừng cũng như một số chỉ tiêu khác như dinh dưỡng hoặc các chỉ tiêu về môi trường của rừng trồng.
Khi CDM xuất hiện, nghiên cứu sinh khối rừng trồng lại được áp dụng để xác định lượng nhằm góp phần định lượng giá trị môi trường do rừng mang lại. Trong những năm gần đây các phương pháp nghiên cứu định lượng, xây dựng các mô hình dự báo sinh khối cây rừng đã được áp dụng thông qua các mối quan hệ giữa sinh khối cây với các nhân tố điều tra cơ bản, dễ đo đếm như đường kính ngang ngực, chiều cao cây, giúp cho việc dự đoán sinh khối được nhanh và kinh tế hơn. Các nhà sinh thái rừng đã dành sự quan tâm đặc biệt đến nghiên cứu sự khác nhau về sinh khối rừng ở các vùng sinh thái. Tuy nhiên, việc xác định đầy đủ sinh khối rừng không dễ dàng, đặc biệt là sinh khối của hệ rễ trong đất rừng, nên việc làm sáng tỏ vấn đề trên đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nữa mới đưa ra được những dẫn liệu mang tính thực tiễn và có sức thuyết phục cao.
Hệ thống lại, hiện có 3 cách tiếp cận để xác định sinh khối rừng như sau: 1.) Tiếp cận thứ nhất dựa vào mối liên hệ giữa sinh khối rừng với kích thước của cây hoặc của từng bộ phận cây theo dạng hàm toán học nào đó. Hướng tiếp cận này được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và châu Âu. Tuy nhiên, do khó khăn trong việc thu thập rễ cây, nên hướng tiếp cận này chủ yếu dùng để xác định sinh khối của bộ phận trên mặt đất (Burton và cộng sự, 1998) [14].)Tiếp cận thứ hai đo trực tiếp quá trình sinh lý điều khiển cân bằng trong hệ sinh thái.