Đặt vấn đề Trong những năm trước đây, tài nguyên rừng nhiệt đới bị suy giảm nghiêm trọng gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái và đời sống của người dân. Nhằm đẩy nhanh tốc độ phục hồi rừng, chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, áp dụng nhiều giải pháp, đầu tư nhiều chương trình, dự án trồng rừng. Kết quả diện tích rừng ở nước ta tăng (đến năm 2008 diện tích có rừng là 13,12 triệu ha rừng, độ che phủ 38,7% - bộ NN & PTNT, 2009) đáp ứng nhu cầu về nông sản, môi trường sinh thái và cảnh quan du lịch. Tuy nhiên, sự quan tâm của chúng ta qua thời gian qua tập trung nhiều vào hai đối tượng là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng trồng sản xuất chưa được quan tâm, chú ý nhiền và thực tiễn sản xuất hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải có lời giải đáp, cả về kỹ thuật, kinh tế, chính sách và thị trường,…ảnh hưởng trực tiếp đến người trồng rừng.
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đặt ra nhiệm vụ phải trồng 3 triệu ha rừng sản xuất giai đoạn 1998 - 2010, tuy nhiên cho đến nay chúng ta chưa đặt được kế hoạch đặt ra. Chính vì vậy, chính phủ đã chỉ đạo trong thời gian tới cần tập chung đẩy mạnh phát triển trồng rừng sản xuất. Để bảo cuộc sống, nâng cao thu nhập của người dân không chỉ đơn thuần là ban hành chính sách hỗ trợ mà còn khuyến khích họ có sự đổi mới về phương thức thâm canh, sử dụng giống có năng suất, chất lượng cao đồng thời gắn với đầu tư công nghiệp chế biến. Đẩy mạnh giao khoán rừng tự nhiên cho công đồng bảo vệ và kinh doanh sản phẩm dưới tán rừng để nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, chấm dứt tập quán phá rừng làm nương rẫy, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống.
Đồng thời áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, lựa chọ loài cây nguyên liệu sinh trưởng nhanh, rút ngắn e 2 chu kỳ sản xuất. Tuy nhiên, trong thời gian qua công tác chọn tạo giống, công tác khuyến lâm vẫn còn nhiều khiếm khuyết, người dân chưa được tư vấn kỹ lưỡng trong việc lựa chọn loại cây trồng, Kỹ thuật trồng và chăm sóc như kỳ vọng. Vì vậy, khi phát triển trồng rừng sản xuất chúng ta không chỉ chú ý giải quyết thuần túy các yếu tố kỹ thuật từ khâu chọn tạo giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng cho đến các biện pháp khai thác, chế biến mà còn phải đặc biệt chú ý đến giải quyết rất nhiều vấn đề có liên quan tác động qua lại lẫn nhau. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Đánh giá sinh trưởng và đề xuất các giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo tai tượng tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” được đặt ra là cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng công tác trồng và phát triển rừng sản xuất của xã nhằm đề xuất các giải pháp phát triển rừng sản xuất tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái nguyên góp phần nâng cao đời sống cho người dân tại địa phương. Ý nghĩa của đề tài Trong lĩnh vực học tập và nghiên cứu khoa học, giúp cho sinh viên kiểm chứng lại kiến thức lý thuyết đã học biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, và có thể tích lũy được những kiến thực tiễn trong khi nghiên cứu phục vụ cho công tác sau khi ra trường. Trong lĩnh vực thực tiễn sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống cho người dân. Đề tài còn là cơ sở cho các đề tài nghiên cứu sau có liên quan tại địa phương.
e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Trên thế giới Để nâng cao năng suất chất lượng và phát triển rừng sản xuất, nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu khá toàn diện về các lĩnh vực từ chọn loài cây trồng phù hợp với điều kiện lập địa, chọn tạo nhân giống các khâu kỹ thuật tạo rừng, nghiên cứu các phương thức, phương pháp tạo rừng công nghiệp đến nghiên cứu mở rộng rừng hỗn loài, nhiều tầng để tăng giá trị kinh tế, phòng hộ và sinh thái. Nghiên cứu về lập địa và chọn loài cây trồng Kết quả nghiên cứu của Pandey.D (1983)[31] về loài bạch đàn Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau đã cho thấy nếu trồng ở rừng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10 - 20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5 - 10 m³/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì có thể đạt tới 30m³/ha/năm. Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài thông Pinus patula ở Swziland, Julian Evans (1992)[26] đã chứng minh tương quan giữa sinh trưởng về chiều cao của loài thông này có quan hệ khá chặt (r=0,8) với các yếu tố địa hình và đất, thông qua phương trình sau: Y= -18,75 + 0,0544x₃ - 0,000022x₃²+ 0,0185x₄+ 0,0449x₅ + 0,5346x₁₁ Trong đó: Y : Chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m) x₃: Độ cao so với mặt nước biển (m) x₄: Độ dốc chênh lệch giữa đỉnh đồi và chân đồi (%) x₅: Độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%) x₁₁: Độ phì của đất đã được xác định Từ các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về điều kiện lập địa đã cho thấy việc xác định vùng trồng và điều kiện lập địa phù hợp với e 4 từng loại cây trồng là rất cần thiết và đây cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của rừng.
Nghiên cứu về giống cây trồng Cây trồng muốn sinh trưởng tốt, sản lượng, năng suất rừng trồng cao phải có giống tốt. Giống là điều kiện đầu tiên quyết định đến năng suất và chất lượng trồng rừng. Để đánh giá được khả năng sinh trưởng và năng suất cây trồng ngoài nhân tố điều kiện lập địa thì giống cây trồng còn có ý nghĩa quyết định tới năng suất rừng trồng. Trên thế giới đã có rất nhiều nước đi sâu nghiên cứu cải thiện tính di truyền của các giống cây rừng, điển hình như: Trung Quốc, Thụy Điển, Công Gô, Brazin, Swaziland, Malayxia, Zimbabwe,… Từ thế kỷ 18 - 19 đã có những ý tưởng về nghiên cứu lai giống và sản xuất hạt giống cây rừng cũng như nhân giống sinh dưỡng.
Đầu thế kỷ 20 các nước Bắc Âu như: Đức, Thụy Điển, Đan Mạch là những nước có nền lâm nghiệp phát triển cũng đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống, xây dựng vườn giống bằng cây ghép cho các loài Thông , Dương, Sồi Dẻ. Hiện tại có nhiều giống cây rừng có năng suất cao đã được nghiên cứu và đưa vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cũng như rút ngắn chu kỳ kinh doanh phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người trồng rừng như: Keo, Thông, Mỡ, Bạch Đàn,…ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai Eucalypyus hybrids có năng suất đạt tới 35m³/ha/năm sau 7 năm trồng. Tại Brazin, bằng con đường chọn lọc nhân tạo đã chọn được giống Bạch đàn Eucalypyus grandis có năng suất đạt tới 55m³/ha/năm sau 7 năm trồng (Welker, 1986)[34]. Ơ Zimbabwe cũng đã chọn được giống Bạch đàn Eucalypyus grandis đạt từ 35 - 40m³/ha/năm, giống Bạch đàn Eucalypyus urophylla đạt trung bình tới 55m³/ha/năm có nơi e 5 lên đến 70m³/ha/năm (Campinhons và Ikemori, 1988)[25].
Tại công ty Aracrug ở Brazil đã sử dụng giống Bạch đàn lai giữa E. urophylla, trồng rừng bằng hom và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tích cực đã đưa năng suất trồng rừng Bạch đàn lên tới 70m³/ha/năm. Tại Swaziland cũng đã chon được giống Thông Pinus patula sau 15 năm tuổi đạt năng suất 19m³/ha/năm (Pandey, 1983)[31]. Đối với cây Keo lai tự nhiên giữa Acacia mangium và Acacia auriculiformis được phát triển đầu tiên vào những năm 1970 ở sabah, Malaysia.
Những cây lai này ở Ulu Kukut đã thấy có kích thước lớn hơn, dạng cành và thân tròn đều hơn các cây Keo tai tượng đứng gần. Ngoài ra còn có dấu hiệu cho thấy tỷ trọng gỗ và một số tính chất của cây lai cao hơn hẳn cây mẹ Keo tai tượng (Rufelds, 1987)[33]. Theo Pinso và Nasi (1991)[32] Keo lai giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm được phát hiện lần đầu tiên ở Sook Telupid thuộc bang Sabah, Mailaysia. Cây keo lai đã được Pedley (Bảo tàng thực vật bang Queensland) khẳng định vào năm 1977.
Từ đấy người ta thường thấy Keo lai xuất hiện trong các khu rừng trồng Keo lai tượng thu hạt từ Ulu Kurut của Malaysia nơi có hai giống tự nhiên giữa hai loài. Syrach Larsen đã sản xuất được một số cây lai có hình dáng đẹp và có ưu thế về sinh trưởng. Nilsson-Ehle(1949 - 1973) đã phát hiện ra cây tam bội có sinh trưởng tốt hơn so với cây nhị bội. Đây là một trong những lĩnh vực nghiên cứu đột phá và đã thu được thành tựu đáng kể trong thời gian qua.
Theo Eldridge (1993)[37] các chương trình chọn giống đã bắt đầu ở nhiều nước và tập trung cho nhiều loài cây mọc nhanh khác nhau trong đó có bạch đàn. Brazil đã chọn cây trội và xây dựng vườn giống cây con thụ phấn tự do cho các loài E. maculate ngay từ những năm 1952. Mỹ bắt đầu với loài E.
Từ năm 1970 - 1973 Úc đã chọn được 160 cây trội cho loài E.regnans và 170 cây trội có thân hình thẳng đẹp và tỉa cành tự e 6 nhiên tốt ở loài E. Tương tự như vậy, 150 cây trội đã được chọn ở rừng tự nhiên cho loài E.diversicolor ở Úc và loài E.deglupta ở Papua New Guin. Nhờ những công trình nghiên cứu chọn lọc và tạo giống mới tới nay ở nhiều nước đã có những giống cây trồng năng suất rất cao, gấp 2 đến 3 lần trước đây như ở Brazil đã tạo được khu rừng có năng suất 70 - 80 m³/ha/năm, tại Công Gô năng suất rừng cũng đạt 40 - 50 m³/ha/năm. Theo Covin (1990) tại Pháp , Ý nhiều khu rừng cung cấp nguyên liệu giấy cũng đạt năng suất 40 - 50 m³/ha/năm, kết quả là hàng ngàn ha đất nông nghiệp đất nông nghiệp được chuyển đổi thành đất lâm nghiệp để trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy đạt hiệu quả kinh tế cao.
Ngoài Bạch đàn, trong những năm qua các công trình nghiên cứu về giống cũng đã tập trung vào các loài cây trồng rừng công nghiệp khác như các loài keo và lõi thọ.