Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH GIÁ SẢN PHẨM XÂY DỰNG 1. Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của xây dựng 10 1. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản phẩm xây dựng 10 1. Đặc điểm của tổ chức sản xuất xây dựng 11 1.
Quá trình đầu tư xây dựng 12 1. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư 12 1. Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình 13 1. Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào sử dụng 14 1.
Giá cả sẳn phẩm xảy dựng 14 1. Khái niệm về giá cả sản phẩm xây dựng. Đặc điểm của giá cả sản phẩm xây dựng 15 1. Công tác định giá sản phẩm xây dựng 15 1.
Đặc điểm của công tác định giá sản phẩm xây dựng. Vai trò của công tác định giá sản phẩm xây dựng l6 1. Các yêu cầu cơ bản và kỹ năng cần thiết khi định giá sản phẩm xây dựng. Các loại giá trong quá trình đầu tư xây dựng 18 1.
Tổng mức đầu tư 18 1. Nội dung chi phí của Tổng mức đầu tư 23 1. Cơ sở phân tích, tính toán Tổng mức đầu tư 23 1. Dự toán (tổng dự toán) xây dựng công trình 24 1.
Nội dung chi phi trong Dự toán 25 1. Cơ sở phân tích, tính toán Dự toán công trình 28 1. Một số loại giá khác 28 1. Giá dự thầu 28 1.
Giá đánh giá 29 1. Giá đề nghị trúng thầu 29 1. Giá trúng thầu 29 1. Giá hợp đồng giao nhận thầu xây dựng 29 1.
Giá quyết toán công trình (Vốn quyết toán công trình) 29 Câu hỏi ôn tập 30 1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KỸ THUẬT CỦA XÂY DỰNG Xây dựng.cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt, có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua xây dựng mới, xây dựng lại, mở rộng, khôi phục và sửa chữa các công trình xây dựng như nhà cửa, cầu, đường. Trong đó, xây dựng công trình giao thông là một phân ngành chuyên môn có chức năng xây dựng mới, xây dựng lại, mở rộng, khôi phục và sửa chữa các công trình giao thông, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động đầu tư xây dựng chính là quá trình bỏ vốn, thông qua các hoạt động xây dựng bao gồm: lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ những đặc thù riêng của ngành xây dựng, sản phẩm xây dựng và công tác sản xuất xây dựng cũng mang những đặc điểm rất riêng biệt chi phối công tác quản lý, điều hành hoạt động quá trình đầu tư xây dựng nói chung và công tác định giá trong-xây dựng nói riêng. Vì vậy, hoạt động trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng không thể không nắm rõ các đặc trưng riêng của ngành cũng như của sản phẩm xây dựng. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản phẩm xây dựng Trong Điều 3 Khoản 2 của Luật Xây dựng đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam khoá XI thông qua ngày 26 tháng I1 năm 2003 nêu rõ “Công trình xây dựng là sẳn phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế”. Quá trình hình thành công trình xây dựng, hiểu theo nghĩa rộng được bắt đầu từ giai đoạn lập quy hoạch tổng thể và chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến giai đoạn vận hành khai thác, sử dụng công trình.
Mặt khác, cũng có thể hiểu quá trình này theo nghĩa hẹp bắt đầu từ giai đoạn lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình đến kết thúc xây dựng, bàn giao, đưa công trình vào khai thác, sử dụng. Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào thì sản phẩm xây dựng cũng chính là các công trình xây dựng đã hoàn chỉnh được đưa vào khai thác, sử dụng. Sản phẩm xây dựng là loại sản phẩm có tính chất liên ngành, có nhiều lực lượng tham gia như chủ đầu tư, các nhà thầu xây lấp, tư vấn thiết kế, các doanh nghiệp cung cấp vật tư, thiết bị, tài chính, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan. Do vậy, khác với sản phẩm của các ngành khác, sản phẩm xây dựng có những đặc điểm riêng biệt như sau: a) Sản phẩm xây dựng được liên kết và định vị với đất (tại địa điểm xây dựng) ở các vùng, khu vực và lãnh thổ khác nhau.
10 b) Sản phẩm xây dựng phụ thuộc vào các điều kiện địa chất, khí hậu, thuỷ văn và các điều kiện kinh tế - xã hội tại nơi đặt công trình. Do đó, sản phẩm xây dựng có công dụng, kết cấu, kiến trúc và cách chế tạo mang tính đa dạng cao. e) Sản phẩm xây dựng thông thường có kích thước lớn (sử dụng tài nguyên đất lớn) và chi phí lớn, thời gian kiến tạo và sử dụng lâu dài. Vì vậy, những sai lầm về chủ trương đầu tư, về khảo sát thiết kế, về quá trình thi công cũng như quá trình khai thác rất khó khắc phục và rất tốn kém.
d) San phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành kinh tế — kỹ thuật khác nhau, từ khâu khảo sát, thiết kế, chế tạo sản phẩm, cung cấp các yếu tố đầu vào đến việc sử dụng sản phẩm xây dựng. e) Sản phẩm xây dựng liên quan đến môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, lợi ích cộng đồng tại nơi xây dựng công trình. Có thể nói, sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế - xã hội; văn hoá, nghệ thuật, kiến trúc và quốc phòng. fñ) Sản phẩm xây dựng có tính chất đơn chiếc, riêng lẻ.
Đặc điểm của tổ chức sản xuất xây dung Các đặc điểm của sản phẩm xây dựng nêu trên đã có tác động rất lớn đến việc tổ chức sản xuất xây dựng, dẫn đến đặc điểm sản xuất của ngành xây dựng mang những đặc thù khác hẳn những ngành sản xuất khác. Vì vậy, cần phải nắm rõ những đặc điểm này để lưu ý những vấn đề nảy sinh trong trong quá trình tổ chức sản xuất xây dựng: a) Sản xuất xây dựng chỉ có tính ổn định tạm thời và có tính lưu động cao theo vùng, khu vực, điện thi công kéo dài, khối lượng công tác phân bố không đều, bởi vậy, trong quá trình xây dựng, con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển theo vị trí xây dựng công trình. Điều này dẫn đến các phương án tổ chức thi công phải thay đổi sao cho phù hợp với thời gian và địa điểm xây dựng, do đó, gây khó khăn cho việc tổ chức và quản lý sản xuất, cải thiện điều kiện lao động và nghỉ ngơi của người lao động và làm phát sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình tạm phục vụ cho thi công xây dựng. Tính lưu động của sản xuất đồi hỏi việc tổ chức bộ máy quản lý sản xuất phải gọn nhẹ, năng động, chỉ đạo chặt chẽ kế hoạch tác nghiệp, tận dụng tối đa các yếu tố đầu vào tại địa phương.
b) Sản phẩm xây dựng có tính đa dạng cá biệt và chi phí lớn lại được chế tạo theo đơn đặt hàng của chủ đầu tư thông qua đấu thầu cho từng công trình. Vì vậy, gây nên các tác động đến quá trình sản xuất xây dựng như: “ Phụ thuộc vào kết quả đấu thầu, dẫn đến các doanh nghiệp xây dựng bị động trong việc đầu.1ư, đổi mới công nghệ thi công, máy móc thiết bị. “_ Giá cả sản phẩm xây dựng được định trước khi chế tạo sản phẩm (khi tham gia đấu thầu) dẫn đến rủi ro cao do biến động của giá cả thị trường. 1] c) Thời gian xây dựng công trình dài, làm cho vốn đầu tư của chủ đầu tư và vốn sản xuất của các doanh nghiệp xây dựng thường bị ứ đọng tại công trình.
Điều này đòi hỏi việc tổ chức quản lý xây dựng phải tập trung thi công dứt điểm, rút ngắn thời gian xây dựng, có chế độ thanh toán tạm ứng vốn và các dự trữ cho sản xuất hợp lý. d) Tổ chức sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời, chịu nhiều ảnh hưởng của các điều kiện vi khí hậu, đòi hỏi khi lập biện pháp tổ chức thi công phải chú ý đến: “ Điều kiện thời tiết của vùng, khu vực xây dựng. » Các biện pháp khắc phục ảnh hưởng của thời tiết nhằm giảm tối đa các tổn thất ngừng nghỉ việc và phải sửa chữa do các yếu tố thời tiết tác động. "Nâng cao tỈ lệ cơ giới hoá trong xây dựng cũng như chế tạo các thành phẩm hoặc bán thành phẩm trong công xưởng.
e) Mục đích cuối cùng của tổ chức và quản lý sản xuất xây dựng là hoàn thành công trình đúng thời hạn, đảm bảo chất lượng và có lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy, cần lựa chọn phương án tổ chức thi công tối ưu, tận dụng tối đa các nguồn vật tư, nhân lực tại địa phương để giảm giá thành xây dựng. Quá trình đầu tư xây dựng Những đặc điểm riêng của sản phẩm xây dựng và sản xuất xây dựng đã chi phối trực tiếp đến công tác tổ chức quản lý, điều hành hoạt động trong quy trình thực hiện đầu tư. Do vậy, hoạt động đầu tư và xây dựng đòi hỏi phải tuân thủ trình tự và các bước theo từng giai đoạn.
Việc chấp hành những quy định về trình tự đầu tư và xây dựng có ảnh hưởng rất lớn; có tính quyết định đến chất lượng công trình, chi phí xây dựng công trình trong quá trình thi công xây dựng và tác dụng của công trình sau khi hoàn thành xây dựng đưa vào sử dụng đối với nền kinh tế. Quá trình đầu tư xây dựng gồm các giai đoạn sau: 1. Giai đoạn chuẩn bị đầu trr. Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, nội dung quan trọng nhất là lập các hồ sơ dự án đầu tư để đánh giá tính khả thi của việc thực hiện dự án.