Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử của Vũ Thị Quyên, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 03 15), nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây dựng đội ngũ công nhân (ĐNCN) trong giai đoạn 1986–2013. Người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Đinh Quang Hải và PGS.TS Nguyễn Quang Liệu.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tác giả lập luận rằng giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam giữ vai trò "lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" và là "cơ sở xã hội chủ yếu của Đảng". Đại hội XI của Đảng khẳng định phải "quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển GCCN cả về số lượng và chất lượng". Tuy nhiên, trên thực tế nhiều chủ trương, chính sách xây dựng GCCN còn chậm đổi mới; nhiều nơi coi nhẹ vị trí, vai trò của GCCN; nhiều cấp uỷ chưa quan tâm đúng mức đến việc giải quyết các vấn đề bức xúc như lao động, việc làm, nhà ở và tiền lương. Riêng tại Thái Bình, ĐNCN bộc lộ các hạn chế cụ thể: số lượng ít, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật thấp, kỷ luật lao động chưa cao, đa số xuất thân từ nông dân, khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật còn chậm, giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị chưa đồng đều. Tính đến thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây dựng ĐNCN trong thời kỳ đổi mới dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng, tạo ra khoảng trống mà luận án lựa chọn lấp đầy.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu gồm hai nội dung: (1) làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây dựng ĐNCN trong những năm 1986–2013; (2) nêu lên những ưu điểm, hạn chế và bước đầu đúc rút một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh để vận dụng vào thực tiễn xây dựng ĐNCN.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; phân tích các yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo; hệ thống các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Đảng bộ tỉnh về xây dựng ĐNCN; làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh chỉ đạo thực hiện; nhận xét ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra kinh nghiệm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xây dựng ĐNCN của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1986 đến năm 2013.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai mặt chính là số lượng, cơ cấu và chất lượng công nhân công nghiệp.
- Phạm vi thời gian: 1986–2013; chia thành hai giai đoạn 1986–2000 và 2001–2013. Năm 1986 gắn với Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và đường lối đổi mới toàn diện của Đảng. Năm 2013 là thời điểm Tỉnh ủy Thái Bình tổ chức sơ kết thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về "Tiếp tục xây dựng GCCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước". Việc lấy mốc năm 2000 thay vì 1996 được lý giải bởi đặc điểm của một tỉnh thuần nông, với mốc tổng kết Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội (1990–2000) và Nghị quyết 09-NQ/TU về phát triển công nghiệp của tỉnh.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thái Bình, tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại
Tác giả phân chia tài liệu thành hai nhóm chính:
Nhóm 1 — Nghiên cứu về giai cấp công nhân:
Về tài liệu nước ngoài (đã dịch sang tiếng Việt), tác giả điểm các công trình: bài "Giai cấp công nhân vẫn là lực lượng chính trị quan trọng nhất" của Maicen Nhépsi (Tạp chí Động thái lý luận nước ngoài, Trung Quốc, số 11, 2004); bài "Thực trạng cuộc sống của người lao động Mỹ" của Michel Parenty (trích từ cuốn Nền dân chủ cho thiểu số, Nxb "Generation", New York, 2006, bản dịch trên Tạp chí Thông tin những vấn đề lý luận, số 2/2007); bài "Sự chuyển biến mang tính lịch sử về hình thái tổ chức của Đảng Cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa" của GS Nhiếp Văn Lân (Tạp chí Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội, Trung Quốc, số 6, 2007); và cuốn Vị trí và vai trò của giai cấp công nhân đương đại (Liễu Khả Bạch, Vương Mai, Diêm Xuân Chi, Nxb Lao động, Hà Nội, 2008).
Về tài liệu trong nước, tác giả khảo sát nhiều công trình tiêu biểu: Giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI (Viện Công nhân và Công đoàn, 2002); Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của PGS.TS Dương Xuân Ngọc (Nxb Chính trị quốc gia, 2004); Một số vấn đề cơ bản về xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa do TS Dương Văn Sao chủ biên (Nxb Lao động, 2004); bài "Một vài suy nghĩ về chủ trương, chính sách đối với việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay" của GS Văn Tạo (Tạp chí Tư tưởng - Văn hoá, số 10/2007); các bài viết của Phạm Tất Thắng (Tạp chí Cộng sản, 5/2/2008) và GS.TS Dương Xuân Ngọc (Tạp chí Lý luận, số 4/2008) về nâng cao ý thức chính trị của GCCN; Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam giai đoạn 2011–2020 do TS Đặng Ngọc Tùng chủ biên (Nxb Lao động, 2010); đề tài cấp bộ "Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho công nhân, lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất" (mã số 03 XH-TLĐ/2007, do Ths Trương Thanh Cần chủ nhiệm); và công trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ đổi mới (1986–2006) của TS Lê Thanh Hà (Nxb Lao động, 2007).
Nhóm 2 — Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Bình:
Tác giả điểm các công trình về lãnh đạo GCCN cấp Trung ương như Đảng lãnh đạo xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay của TS Nguyễn Văn Giang (Nxb Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2008); bài "Quan điểm mới về giai cấp công nhân Việt Nam trong Văn kiện Đại hội X của Đảng" của Văn Tạo (Tạp chí Cộng sản, tháng 5/2006); và bài "Xây dựng, phát triển toàn diện giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đổi mới" của Nguyễn Hòa Bình (Tạp chí Cộng sản, số 778, 2007).
Về tài liệu gắn với địa bàn tỉnh Thái Bình, tác giả tham khảo: Lịch sử Đảng bộ Thái Bình (1975–2000) (Nxb Chính trị quốc gia, 2004); Lịch sử phong trào công nhân, viên chức, lao động và hoạt động công đoàn tỉnh Thái Bình từ năm 1945 đến năm 2003 (Nxb Lao động, 2003); luận án tiến sĩ kinh tế Xây dựng mô hình phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Thái Bình của Viên Thị An (2011); luận án tiến sĩ kinh tế Toàn dụng nguồn lao động ở Thái Bình của Nhâm Gia Quân (2008); luận án tiến sĩ kinh tế Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ở Thái Bình của Phí Thị Hằng (2014); và luận án tiến sĩ lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 của Phạm Thị Kim Lan (2015).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Qua tổng quan, tác giả xác định: chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đối với việc xây dựng ĐNCN công nghiệp dưới góc độ Lịch sử Đảng. Các công trình về địa bàn Thái Bình hoặc tiếp cận từ góc độ kinh tế, hoặc chỉ đề cập đến phong trào công nhân viên chức lao động theo diện rộng mà chưa đi vào phương thức, nội dung lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trên từng mặt cụ thể (số lượng, cơ cấu, chất lượng) của ĐNCN công nghiệp suốt giai đoạn đổi mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng giai cấp công nhân.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic, kết hợp chặt chẽ hai phương pháp đó. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng thêm các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và đánh giá nhằm làm nổi bật thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ĐNCN của Đảng bộ tỉnh Thái Bình.
Nguồn tư liệu
Luận án sử dụng ba nhóm tư liệu chính:
- Văn kiện, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, các văn bản của Nhà nước, bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng về GCCN.
- Nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động, báo cáo của Tỉnh ủy Thái Bình; quyết định của UBND tỉnh; đề án, báo cáo tổng kết của UBND tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh, Đảng ủy khối doanh nghiệp, Ban quản lý khu công nghiệp, Sở Công thương, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê tỉnh.
- Các công trình khoa học và bài báo, tạp chí liên quan được đăng tải trên báo Trung ương, địa phương và các trang web cơ quan, tổ chức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này hệ thống hoá và đánh giá hai nhóm công trình nghiên cứu liên quan: nhóm các công trình về giai cấp công nhân (bao gồm nghiên cứu của tác giả nước ngoài và trong nước) và nhóm công trình về sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Bình liên quan đến GCCN. Tác giả nhận xét rằng các công trình trước đã làm rõ khái niệm GCCN, vai trò trong CNH, HĐH, thực trạng và sự cần thiết xây dựng GCCN, nhưng chưa đi sâu vào phương thức lãnh đạo của cấp uỷ địa phương, chưa làm rõ trách nhiệm của các tổ chức cơ sở đảng trong triển khai chủ trương, đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây dựng ĐNCN công nghiệp dưới góc độ Lịch sử Đảng. Từ đó, chương xác định những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện xây dựng đội ngũ công nhân của Đảng bộ tỉnh Thái Bình (1986–2000)
Chương này phân tích các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, bao gồm đặc điểm tự nhiên, kinh tế–xã hội của Thái Bình (một tỉnh đồng bằng sông Hồng thuần nông với nguồn lao động dồi dào) và thực trạng ĐNCN trước đổi mới. Trước năm 1954, ĐNCN Thái Bình rất nhỏ bé: năm 1930 chỉ có trạm biến thế điện và trạm cấp thoát nước; năm 1938 có thêm nhà máy rượu Quốc Khánh với khoảng 30 công nhân bán chuyên nghiệp. Đến năm 1977, số công nhân viên chức tỉnh là 52.000 người, năm 1980 tăng lên 56.000 người; năm 1983 đạt 57.000 người (trong đó 47% là nữ, 32,8% là đảng viên, hơn 20.000 người có trình độ từ trung cấp trở lên, 4.500 người có trình độ đại học, 28 người sau đại học và 9 phó tiến sĩ). Đến năm 1985, toàn tỉnh có trên 1.500 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (57 cơ sở quốc doanh), 780.000 lao động thường xuyên có việc làm.
Chương trình bày chủ trương của Đảng (từ Đại hội VI đến Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ bảy BCHTW khóa VII) và quá trình Đảng bộ tỉnh cụ thể hóa các chủ trương đó. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (27/10/1986) xác định phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là nhiệm vụ quan trọng, với trọng tâm là công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm và khai thác khí đốt. Ngày 9/6/1987, Tỉnh ủy ban hành Thông báo số 19 TB/TU về "Một số ý kiến của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác vận động công nhân và hoạt động công đoàn trong tình hình mới", đánh giá thực trạng: tính đến năm 1987 toàn tỉnh có trên 60.000 công nhân viên chức, trong đó 52% thuộc khu vực sản xuất vật chất.
Tốc độ tăng bình quân công nghiệp ba năm 1991–1993 đạt 7,6%; đặc biệt sáu tháng đầu năm 1994 tăng 54,6% so với cùng kỳ năm 1993. Chương còn trình bày sự chỉ đạo về xây dựng số lượng, cơ cấu và bước đầu nâng cao chất lượng ĐNCN, trong đó có dữ liệu từ các bảng số liệu: Bảng 2.1 (lao động công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 1987–2000), Bảng 2.2 và 2.3 (số công nhân phân theo ngành 1987–1992 và 1995–2000), Bảng 2.4 (kết quả kiểm tra an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp 1995–1997), và Bảng 2.5 (kết quả xây dựng công đoàn cơ sở ngoài quốc doanh 1996–2000).
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng đội ngũ công nhân trong tình hình mới (2001–2013)
Chương phân tích các yêu cầu mới đặt ra từ bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, từ tác động của cuộc cách mạng khoa học–công nghệ và xu thế toàn cầu hóa. Trên cơ sở đó, Đảng bộ tỉnh đề ra chủ trương đẩy mạnh xây dựng ĐNCN trong giai đoạn 2001–2013 với trọng tâm là phát triển các khu công nghiệp, thu hút đầu tư và mở rộng quy mô lao động công nghiệp.
Chương làm rõ sự chỉ đạo trên hai mặt: (1) đẩy mạnh xây dựng ĐNCN lớn mạnh về số lượng, đa dạng về cơ cấu — thể hiện qua dữ liệu trong bảng số liệu về công nhân lao động công nghiệp phân theo loại hình và ngành của tỉnh những năm 2001–2013; và (2) không ngừng nâng cao chất lượng ĐNCN. Chương cũng trình bày bảng số liệu về số lượng đảng viên và đoàn thể chính trị–xã hội trong các doanh nghiệp tỉnh Thái Bình những năm 2004–2013. Các khu công nghiệp phát triển nhanh kéo theo sự lớn mạnh của ĐNCN về số lượng, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp bách về nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động của công nhân.
Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Chương đánh giá toàn diện quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây dựng ĐNCN qua hai giai đoạn 1986–2000 và 2001–2013, bao gồm những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong hoạch định chủ trương và chỉ đạo tổ chức thực hiện. Từ đó, chương đúc rút năm kinh nghiệm chủ yếu: (1) coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo trong thực tiễn; (2) quan tâm chỉ đạo hoạt động của các tổ chức cơ sở Đảng tại các doanh nghiệp; (3) tập trung chỉ đạo việc thực hiện tốt pháp luật lao động và các chế độ chính sách đối với đội ngũ công nhân; (4) coi phát triển công nghiệp là nhiệm vụ chiến lược; (5) phát huy vai trò của tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo phần "Đóng góp của luận án", tác giả tự nêu bốn đóng góp chính:
-
Về lý luận: Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo xây dựng ĐNCN của Đảng bộ trong hai giai đoạn 1986–2000 và 2001–2013; hệ thống hoá các chủ trương, biện pháp chỉ đạo xây dựng ĐNCN của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1986 đến năm 2013, tập trung vào hai vấn đề chính: số lượng, cơ cấu và chất lượng của ĐNCN.
-
Về tư liệu lịch sử: Góp phần tái hiện lại một cách khách quan, trung thực quá trình xây dựng ĐNCN tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong những năm 1986–2013.
-
Về đánh giá thực tiễn: Đánh giá và luận giải những ưu điểm, hạn chế trong lãnh đạo xây dựng ĐNCN của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trên các mặt hoạch định chủ trương và chỉ đạo tổ chức thực hiện; làm rõ nguyên nhân của những hạn chế; rút ra một số kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn.
-
Về tham khảo và ứng dụng: Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu lịch sử Đảng, lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong thời kỳ đổi mới; đồng thời góp phần làm sáng tỏ đường lối xây dựng GCCN của Đảng ở một địa bàn cụ thể.
Về kinh nghiệm và giải pháp đề xuất, luận án kiến nghị: đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục chính trị cho công nhân; tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp; thực hiện đầy đủ pháp luật lao động và các chế độ chính sách; coi phát triển công nghiệp là nhiệm vụ chiến lược; phát huy vai trò tổ chức công đoàn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án thừa nhận rằng "khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế" nhưng không liệt kê cụ thể từng hạn chế trong một mục riêng. Từ phạm vi nghiên cứu đã xác định, có thể nhận thấy một số giới hạn khách quan: luận án tập trung vào công nhân công nghiệp và không bao quát toàn bộ công nhân viên chức lao động; phạm vi không gian giới hạn trong một tỉnh nên các kết quả kinh nghiệm cần được đối chiếu thận trọng khi vận dụng sang địa bàn có đặc điểm kinh tế–xã hội khác biệt. Tác giả cũng lưu ý rằng đối với giai đoạn trước 1986 và sau 2013, chỉ được đề cập thêm nhằm bổ sung cơ sở khoa học cho đánh giá, không phải trọng tâm phân tích. Hướng tiếp tục mà tác giả gợi mở là vận dụng kinh nghiệm rút ra vào phát triển ĐNCN tỉnh Thái Bình trong giai đoạn mới sau năm 2013.
Giá trị tham khảo
Luận án có thể hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
-
Nghiên cứu sinh và giảng viên thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt những người nghiên cứu về lịch sử Đảng bộ địa phương cấp tỉnh và lịch sử GCCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Phần hệ thống hoá chủ trương của Đảng qua các kỳ Đại hội (VI, VII, VIII) về xây dựng GCCN là tư liệu có hệ thống.
-
Nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế–xã hội quan tâm đến quá trình CNH, HĐH ở cấp tỉnh; hệ thống bảng số liệu về lao động công nghiệp Thái Bình từ 1987 đến 2013 là dữ liệu lịch sử được khai thác từ lưu trữ Tỉnh ủy và các sở ngành.
-
Người làm công tác Đảng, công tác công đoàn và quản lý lao động tại các địa phương tương đồng về đặc điểm (tỉnh thuần nông đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH). Phần chương 4 về kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng ĐNCN của Đảng bộ tỉnh là phần có giá trị tham khảo thực tiễn trực tiếp nhất.
-
Nhà hoạch định chính sách lao động cấp tỉnh, đặc biệt trong bối cảnh các địa phương đang triển khai thu hút đầu tư, mở rộng khu công nghiệp và cần xây dựng lực lượng lao động công nghiệp có chất lượng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án chọn mốc năm 2000 làm điểm phân kỳ thay vì năm 1996 như thông lệ nghiên cứu về CNH, HĐH trên cả nước?
Tác giả lý giải rằng Thái Bình là tỉnh thuần nông, quá trình CNH, HĐH diễn ra muộn hơn các tỉnh khác. Năm 2000 là năm Đảng bộ tỉnh tổng kết việc thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế–xã hội (1990–2000) và Nghị quyết 09-NQ/TU về phát triển công nghiệp của tỉnh, nên được coi là mốc phù hợp với đặc điểm lịch sử của địa phương.
2. Thực trạng số lượng công nhân viên chức tỉnh Thái Bình như thế nào trước năm 1986?
Năm 1977, số lượng công nhân viên chức là 52.000 người; năm 1980 tăng lên 56.000 người; năm 1983 là 57.000 người, trong đó 47% là nữ và 32,8% là đảng viên. Đến năm 1985, toàn tỉnh có trên 1.500 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (57 cơ sở quốc doanh) và 780.000 lao động thường xuyên có việc làm.
3. Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã xác định những hạn chế nào của ĐNCN trong thời kỳ đầu đổi mới?
Theo Thông báo số 19 TB/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (ngày 9/6/1987), ĐNCN tỉnh còn tồn tại: trình độ nhận thức và vận dụng đường lối của Đảng về khoa học kỹ thuật còn yếu; tính năng động nhạy bén trong chỉ đạo chưa mạnh; đời sống của số đông công nhân nhiều khó khăn; một bộ phận không nhỏ có tư tưởng làm chủ và ý thức tự phát còn thấp; và một trong những nguyên nhân được nêu rõ là các cấp ủy đảng "chưa khai thác được tiềm năng, chất xám của đội ngũ công nhân bằng các hệ thống chính sách đòn bẩy kinh tế".
4. Năm kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng ĐNCN mà Đảng bộ tỉnh Thái Bình rút ra là gì?
Chương 4 đúc rút năm kinh nghiệm: (1) coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo trong thực tiễn; (2) quan tâm chỉ đạo hoạt động của các tổ chức cơ sở Đảng tại các doanh nghiệp; (3) tập trung chỉ đạo việc thực hiện tốt pháp luật lao động và các chế độ chính sách đối với đội ngũ công nhân; (4) coi phát triển công nghiệp là nhiệm vụ chiến lược; (5) phát huy vai trò của tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp.
5. Nguồn tư liệu gốc chính mà tác giả khai thác để phục dựng quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh là gì?
Tư liệu gốc chủ yếu là văn kiện lưu trữ tại phòng Lưu trữ Tỉnh ủy và UBND tỉnh Thái Bình, gồm nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động, báo cáo tổng kết của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh, Đảng ủy khối doanh nghiệp, Ban quản lý khu công nghiệp, Sở Công thương, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, và Cục Thống kê tỉnh.
Kết luận
Luận án của Vũ Thị Quyên cung cấp một khảo cứu lịch sử có hệ thống về quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây dựng ĐNCN công nghiệp qua hai giai đoạn 1986–2000 và 2001–2013, tiếp cận từ góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam với phương pháp lịch sử và logic làm nền tảng. Luận án hệ thống hoá chủ trương của Đảng qua các kỳ Đại hội (VI đến X) và cụ thể hóa vào điều kiện của một tỉnh thuần nông đang chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Thông qua khai thác tư liệu lưu trữ từ nhiều cơ quan tỉnh Thái Bình, luận án phục dựng quá trình phát triển ĐNCN từ quy mô nhỏ trước đổi mới đến giai đoạn mở rộng khu công nghiệp những năm 2000, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong lãnh đạo và đề xuất năm kinh nghiệm thực tiễn. Đây là công trình lịch sử địa phương lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về sự lãnh đạo của một Đảng bộ tỉnh cụ thể trong công tác xây dựng giai cấp công nhân, có thể tham chiếu khi nghiên cứu các trường hợp tương đồng ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng.