Lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong việc xây dựng căn cứ du kích Tiên Quế Võ (1945-1954)

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu ussh đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích tiên quế võ trong thời kỳ kháng chiến, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

128
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH XÂY DỰNG CƠ SỞ CHÍNH TRỊ, TIẾN LÊN XÂY DỰNG CĂN CỨ DU KÍCH TIÊN-QUẾ-VÕ GIAI ĐOẠN 1945 – 1950

1.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chỗ đứng chân trên địa bàn Tiên - Quế - Võ và chủ trương của Đảng bộ

1.1.1. Những yếu tố chi phối đến việc xây dựng chỗ đứng chân kháng chiến trên địa bàn Tiên - Quế - Võ

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH XÂY DỰNG CĂN CỨ DU KÍCH TIÊN - QUẾ - VÕ GIAI ĐOẠN 1951-1954

2.1. Yêu cầu đẩy mạnh xây dựng hậu phương tại chỗ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và chủ trương của Đảng bộ

2.1.1. Yêu cầu đẩy mạnh xây dựng hậu phương tại chỗ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ

2.1.3. Sự chỉ đạo của Đảng bộ

2.1.3.1. Chỉ đạo mở căn cứ du kích
2.1.3.2. Chỉ đạo xây dựng căn cứ du kích
2.1.3.3. Chỉ đạo cuộc đấu tranh bảo vệ căn cứ

2.2. Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ và một số kinh nghiệm

2.2.1. Nhận xét và kinh nghiệm

2.2.2. Một số kinh nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích Tiên Quế Võ

Căn cứ du kích Tiên Quế Võ là một trong những biểu tượng quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1945 đến 1954. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã có những chủ trương và chính sách đúng đắn nhằm xây dựng và phát triển căn cứ này. Căn cứ không chỉ là nơi trú ẩn cho lực lượng kháng chiến mà còn là điểm tựa cho nhân dân trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù. Sự lãnh đạo của Đảng bộ đã tạo ra một mô hình chiến tranh du kích hiệu quả, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến.

1.1. Vai trò của căn cứ du kích trong kháng chiến chống Pháp

Căn cứ du kích Tiên Quế Võ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển lực lượng kháng chiến. Đây là nơi tập hợp lực lượng, tổ chức các hoạt động quân sự và chính trị, đồng thời là chỗ dựa cho nhân dân trong vùng. Căn cứ đã giúp phân tán lực lượng địch và tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cuộc kháng chiến.

1.2. Lịch sử hình thành căn cứ du kích Tiên Quế Võ

Căn cứ du kích Tiên Quế Võ được hình thành trong bối cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã quyết định thành lập căn cứ này vào tháng 12 năm 1949, nhằm tạo ra một điểm tựa vững chắc cho lực lượng kháng chiến. Sự ra đời của căn cứ đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong chiến lược kháng chiến của Đảng.

II. Những thách thức trong việc xây dựng căn cứ du kích Tiên Quế Võ

Việc xây dựng căn cứ du kích Tiên Quế Võ không chỉ gặp phải những khó khăn về điều kiện tự nhiên mà còn phải đối mặt với sự đàn áp của thực dân Pháp. Địa hình phức tạp, sự thiếu thốn về vật chất và sự tấn công liên tục của địch đã tạo ra nhiều thách thức cho lực lượng kháng chiến. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ, những khó khăn này đã được vượt qua.

2.1. Điều kiện tự nhiên và địa hình ảnh hưởng đến căn cứ

Địa hình của Tiên Quế Võ có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Các con sông lớn và hệ thống giao thông phức tạp đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển và tổ chức hoạt động quân sự. Tuy nhiên, điều này cũng khiến cho căn cứ dễ bị phát hiện và tấn công bởi địch.

2.2. Sự đàn áp của thực dân Pháp đối với căn cứ

Thực dân Pháp đã thực hiện nhiều chiến dịch quân sự nhằm tiêu diệt căn cứ du kích Tiên Quế Võ. Sự đàn áp này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của căn cứ mà còn tác động đến tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, với sự kiên cường và quyết tâm, lực lượng kháng chiến đã vượt qua những khó khăn này.

III. Phương pháp xây dựng căn cứ du kích Tiên Quế Võ hiệu quả

Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để xây dựng căn cứ du kích Tiên Quế Võ. Những phương pháp này không chỉ giúp củng cố lực lượng kháng chiến mà còn tạo ra một môi trường an toàn cho nhân dân. Sự kết hợp giữa chiến tranh du kích và hoạt động chính trị đã tạo ra một mô hình hiệu quả trong việc xây dựng căn cứ.

3.1. Tổ chức lực lượng và xây dựng cơ sở chính trị

Việc tổ chức lực lượng kháng chiến và xây dựng cơ sở chính trị là một trong những phương pháp quan trọng trong việc xây dựng căn cứ du kích. Đảng bộ đã chỉ đạo thành lập các tổ chức quần chúng, tạo ra một mạng lưới hỗ trợ vững chắc cho lực lượng kháng chiến.

3.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và vận động quần chúng

Công tác tuyên truyền và vận động quần chúng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng căn cứ du kích. Đảng bộ đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về vai trò của căn cứ và khuyến khích họ tham gia vào cuộc kháng chiến.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn từ căn cứ du kích Tiên Quế Võ

Căn cứ du kích Tiên Quế Võ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những thành công này không chỉ góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến mà còn tạo ra những bài học quý giá cho các thế hệ sau. Các kinh nghiệm từ căn cứ này có thể được áp dụng trong các cuộc kháng chiến và xây dựng lực lượng vũ trang hiện nay.

4.1. Những thành tựu nổi bật của căn cứ du kích

Căn cứ du kích Tiên Quế Võ đã tổ chức nhiều hoạt động quân sự thành công, góp phần vào việc tiêu diệt sinh lực địch và bảo vệ vùng tự do. Những thành tựu này đã tạo ra một sức mạnh tổng hợp cho lực lượng kháng chiến.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ căn cứ du kích Tiên Quế Võ

Những bài học kinh nghiệm từ căn cứ du kích Tiên Quế Võ có thể được áp dụng trong việc xây dựng lực lượng vũ trang hiện nay. Sự kết hợp giữa chiến tranh du kích và hoạt động chính trị là một trong những yếu tố quan trọng giúp đạt được thành công.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về căn cứ du kích Tiên Quế Võ

Nghiên cứu về căn cứ du kích Tiên Quế Võ không chỉ giúp khôi phục lại lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp mà còn tạo ra những giá trị thực tiễn cho các thế hệ sau. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục được mở rộng để làm rõ hơn vai trò và đóng góp của căn cứ trong cuộc kháng chiến.

5.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu lịch sử căn cứ du kích

Việc nghiên cứu lịch sử căn cứ du kích Tiên Quế Võ giúp khôi phục lại những giá trị lịch sử và văn hóa của dân tộc. Điều này không chỉ giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về quá khứ mà còn tạo ra động lực cho các hoạt động hiện tại.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Định hướng nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc khai thác các tư liệu lịch sử, phỏng vấn nhân chứng và tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của căn cứ du kích trong cuộc kháng chiến.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích tiên quế võ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp 1945 1954

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh xây dựng cơ sở chính trị, tiến lên xây dựng căn cứ du kích Tiên- Quế- Võ giai đoạn 1945-1950 Chương 2. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh xây dựng căn cứ du kích Tiên- Quế- Võ giai đoạn 1951-1954. Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ và một số kinh nghiệm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH XÂY DỰNG CƠ SỞ CHÍNH TRỊ, TIẾN LÊN XÂY DỰNG CĂN CỨ DU KÍCH TIÊN-QUẾ-VÕ GIAI ĐOẠN 1945 – 1950 1.

Những yếu tố ảnh hƣởng đến việc xây dựng chỗ đứng chân trên địa bàn Tiên - Quế - Võ và chủ trƣơng của Đảng bộ 1. Những yếu tố chi phối đến việc xây dựng chỗ đứng chân kháng chiến trên địa bàn Tiên - Quế - Võ Điều kiện tự nhiên Tỉnh Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong khoảng 20”58’B đến 20”16’B và 105”54’Đ đến 106”19’Đ, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông và Tây nam giáp Thành phố Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và phía Đông giáp tỉnh Hải Dương với tổng diện tích toàn tỉnh là 822,7 km2 Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ, điều kiện khí hậu giữa các huyện trong tỉnh ít có sự khác biệt, đặc biệt là tỉnh có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, trong đó có hai con sông lớn là sông Cầu, sông Đuống, ngoài ra có sông Ngũ Huyện Khê, Tiêu Tương, Tào Khê có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa của nhân dân, Mặt khác, những con sông này có vị trí quan trọng về mặt quân sự cho quân dân tỉnh Bắc Ninh. Bên cạnh đó thì tuyến đường huyết mạch quốc lộ 1 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, cùng các tuyến quốc lộ 2,3 chạy qua vùng Tiên - Quế - Võ cũng tạo điều kiện cho việc liên lạc với các vùng lân cận, và với vị thế huyết mạch như vậy thì đây cũng là khu vực thường xuyên xảy ra tranh chấp giữa ta với thực dân Pháp. Cư dân vùng Tiên - Quế - Võ có gần 43.000 người sinh sống trên những vùng đất cao và thường ở xung quanh các sườn đồi, gò đất, lối ra vào chính là hai cổng tiền và hậu, ngoài ra được rào, chắn bởi các lũy tre, các loại cây có gai, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và khoảng cách giữa các xã, làng từ 500 đến 1.

Với điều kiện tự nhiên phong phú, xóm làng đông đúc tạo điều kiện thuận lợi cho Tiên - Quế - Võ có những tiện lợi nhất định để lập làng chiến đấu và xây dựng căn cứ du kích, kháng chiến lâu dài. Với địa hình trũng nhằm giam chân địch chúng chỉ có một con đường duy nhất vào căn cứ, tuy nhiên ta cũng gặp không ít khó khăn trong việc bảo quản và cất giữ lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược. Do những điều kiện quan trọng về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nói trên đã cho thấy căn cứ du kích Tiên - Quế - Võ là địa bàn có lợi cho Pháp phát huy ưu thế của mình, đồng thời cũng là khu vực quan trọng mà Pháp buộc phải dốc nhiều lực lượng để khống chế và chiếm lấy. Do vậy nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hình thành, phát triển và hiệu quả hoạt động của khu du kích Tiên - Quế - Võ.

Trước khi bị thực dân Pháp chiếm đóng các đơn vị hành chính của huyện Võ Giàng không thay đổi, thời kỳ này ở huyện Võ Giàng gồm có 15 xã là: Vũ Ninh, Đại Phúc, Võ Cường, Nam Sơn, Vân Dương, Kim Chân, Khắc Niệm, Đại Xuân, Việt Thống, Nhân Hòa, Bằng An, Hán Quảng, Cộng Lạc, Quốc Tuấn, Tân Dân. Và đến năm 1950, các xã Vũ Ninh, Võ Cường, Đại Phúc, Kim Chân cắt về thị xã Bắc Ninh, số xã còn lại là 11. Các đơn vị hành chính này được giữ nguyên trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và cho tới khi hòa bình được lặp lại. Huyện Tiên Du sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 có 1 thị trấn là Lim và 13 xã là: Cảnh Hưng, Hiên Vân, Đại Đồng, Hoàn Sơn, Minh Đạo, Tri Phương, Lạc Vệ, Tân Chi, Việt Đoàn, Nội Duệ, Liên Bão, Phú Lâm, Phật Tích.

Huyện Quế Dương có 12 xã: Bồng Lai, Cách Bi, Châu Phong, Chi Lăng, Đào Viên, Đức Long, Mộ Đạo, Ngọc Xá, Phù Lãng, Phù Lương, Phượng Mao, Việt Hùng. Theo quyết định của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng Hòa ngày 6-8-1961 hai huyện Quế Dương và Võ Giàng sát nhập và lấy tên là huyện Quế Võ thuộc tỉnh Bắc Ninh. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dân cư và truyền thống yêu nước của nhân dân vùng Tiên- Quế- Võ Ngay từ thời kỳ đầu của lịch sử nhân dân Bắc Ninh nói chung và nhân dân Tiên - Quế - Võ nói riêng đã có tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường. Cư dân Việt cổ xuất hiện trên vùng đất Tiên - Quế - Võ từ khá sớm (khoảng thời đại đồng thau- sắt sớm), sinh sống dọc theo đôi bờ các dòng sông Tiêu Tương, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cầu, sông Đuống, dân ở đây đều là người Kinh, sống tập trung thành những làng lớn nằm kề nhau.

Do có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp nên cư dân sống chủ yếu bằng việc trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi. Trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Ninh thì vùng Tiên - Quế - Võ, có một nền kinh tế khá phát triển, con người nơi đây khéo tay, tài hoa, giỏi nghề dệt, buôn bán, nghề rèn ở Việt Vân (Quế Võ), làm gốm Phù Lãng, nghề mộc Đại Đồng, nghề mây tre đan xuất khẩu ở Lạc Vệ, Xuân Hội, nghề trồng dâu nuôi tằm, xây dựng ở Nội Duệ, trồng cây cảnh Phú Lâm, nghề khảm trai, nghề dệt làng Tam Tảo, nghề rèn ở làng Nga Hoàng. Sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề truyền thống đã thu hút đông đảo người dân lao động trong tỉnh và các vùng lân cận tham gia. Chính vì vậy, nó tạo ra tình tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau của những người lao động.

Nó mở ra mối quan hệ tiếp xúc, giao thương giữa các tầng lớp nhân dân ở các làng xã, địa phương trong và ngoài tỉnh. Đồng thời nó còn có tác dụng truyền bá những tư tưởng mới, những tư tưởng cách mạng từ nơi này đến nơi khác, từ vùng này đến vùng khác rất nhanh chóng. Hoạt động buôn bán trên địa bàn Tiên - Quế -Võ cũng diễn ra sôi nổi, tấp nập. Người dân nơi đây chủ yếu bán những mặt hàng thủ công do chính đôi bàn tay mình làm ra, đem các sản phẩm của mình đến buôn bán ở các chợ trên địa bàn huyện, đồng thời thường xuyên đi lại giữa các vùng chợ nông thôn và thành phố trên địa bàn tỉnh, sang thời Pháp thuộc, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứ hai của thực dân Pháp đã làm thay đổi nền kinh tế - xã hội của Tiên- Quế- Võ.

Sự phát triển về kinh tế dẫn đến sự biến đổi và phân hóa xã hội một cách mạnh mẽ. Tầng lớp địa chủ xuất hiện nhiều, có tiềm lực kinh tế và địa vị chính trị ở nông thôn. Tầng lớp nông dân đông đảo về số lượng nhưng ngày càng lún sâu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào con đường bần cùng hóa. Nông dân Tiên - Quế - Võ mất đất phải làm tá điền, lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, chịu tô cao, thuế nặng, cuộc sống vô cùng cực khổ.

Một bộ phận khác phải bỏ ruộng đồng, thậm chí bỏ làng ra đi, làm thuê cho các nhà máy, đồn điền, nhưng cũng bị bọn chủ tư bản đối xử tàn tệ và nhận những đồng lương rẻ mạt. Giai cấp công nhân ở đây dần hình thành qua nhiều thời kỳ trên nhiều lĩnh vực khác nhau: xây dựng đường bộ, làm đường sắt, làm thuê trong các nhà máy gạch, khuy, giấy, sửa chữa xe lửa, và những công nhân đồn điền. Những công nhân này xuất thân từ nông dân nên họ có quan hệ tự nhiên với người nông dân, vì ở gần nhà máy, đồn điền nên người công nhân thường ở nhà của mình, vì thế mà mối quan hệ của họ và những người nông dân càng trở lên gần gũi. Đó cũng chính là một trong những lý do khiến những tư tưởng tiến bộ nếu được du nhập sẽ nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong phong trào quần chúng, trong đó có chủ nghĩa Mác- Lênin.

Do làng nghề và thương nghiệp phát triển khá sớm nên giai cấp tiểu tư sản phát triển nhanh chóng ở nhiều vùng Tiên - Quế - Võ. Họ là những thị dân, cả những người buôn chuyến, bán có quầy, có cửa hàng lớn để những người mua thúng bán mẹt, những người thợ thủ công hoặc những người thợ tri thức khá đông đảo được đào tạo ở Bắc Ninh và Hà Nội. Họ rất nhạy bén với thời cuộc, mang trong mình dòng máu yêu nước, lại ở một địa phương có điều kiện giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài, rất gần với Hà Nội nên tiểu tư sản là những người tiên phong trong việc nắm bắt, nhận thức và truyền bá tư tưởng mới mẻ, cách mạng vào nhân dân. Tóm lại, sự biến đổi về kinh tế và kết cấu giai cấp trong xã hội ở Tiên - Quế - Võ có giá trị trong việc hình thành và phát triển các trào lưu tư tưởng và các phong trào chính trị lúc đó trên phạm vi Bắc Ninh nói riêng và cả nước nói chung.

Nói một cách cụ thể, do điều kiện kinh tế khá phát triển, trình độ dân trí tương đối cao, tầng lớp tri thức đông đảo, nhạy bén, đội ngũ công nhân có tinh thần đấu tranh cách mạng, nhân dân có truyền thống yêu nước, nên đây là mảnh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất màu mỡ cho chủ nghĩa Mác - Lênin nhanh chóng nảy nở, phát triển trong quần chúng nhân dân. Trước đây trong lịch sử thời Bắc thuộc, Tiên - Quế - Võ thuộc bộ Vũ Ninh của quốc gia Văn Lang. Truyền thuyết Thánh Gióng ở làng Phù Đổng, dãy tre ngà ở Phù Chẩn, dãy ao hồ trên đất Tiên Du là minh chứng cho tinh thần chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta trong những buổi đầu của lịch sử.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ