Tổng quan nghiên cứu

Kinh tế nông nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực và ổn định kinh tế - xã hội tại Việt Nam, nơi có hơn 70% dân số sống bằng nghề nông. Tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, sau khi tái lập theo Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 24/7/1999 của Chính phủ, tỷ lệ lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản chiếm tới 62,37% (tương ứng 30.269 người trên tổng số 48.534 lao động trong độ tuổi). Đảng bộ huyện đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm bứt phá khỏi nền sản xuất thuần nông, tự cung tự cấp, giải quyết căn bản tình trạng canh tác manh mún và cải thiện đời sống cho 80.219 cư dân nông thôn (chiếm 82% dân số toàn huyện).

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là hệ thống hóa đường lối của Đảng, phân tích quá trình vận dụng sáng tạo chủ trương vào thực tiễn của Đảng bộ huyện Lâm Thao từ năm 1999 đến năm 2010, đánh giá toàn diện thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian 14 đơn vị hành chính của huyện với tổng diện tích tự nhiên 9.769,11 ha trong khung thời gian 11 năm (1999 - 2010). Ý nghĩa của luận văn thể hiện ở việc cung cấp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng, minh chứng cho sự tăng trưởng vượt bậc của giá trị sản xuất từ 24,9 triệu đồng/ha năm 2001 lên trên 30 triệu đồng/ha năm 2005, góp phần định hình đường lối phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, vai trò chủ thể của giai cấp nông dân và liên minh công - nông trong thời kỳ quá độ. Luận văn vận dụng trực tiếp đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn qua các kỳ Đại hội VI, VIII, IX, X, đặc biệt là Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Hội nghị Trung ương 7 khóa X.

Mô hình nghiên cứu tiếp cận kinh tế nông nghiệp dưới góc độ kinh tế ngành gắn với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, liên kết chặt chẽ giữa công nghiệp chế biến, thị trường tiêu thụ và các hình thức tổ chức sản xuất. Khung lý thuyết tập trung vào 4 khái niệm trọng tâm: CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; kinh tế nông nghiệp hàng hóa; và mô hình kinh tế trang trại kết hợp hợp tác xã kiểu mới. Các chỉ tiêu định lượng bám sát định hướng của Tỉnh ủy Phú Thọ khóa XV, XVI với mục tiêu duy trì tỷ trọng nông nghiệp toàn huyện ở mức 50 - 55% trong giai đoạn đầu và chuyển dịch lao động nông nghiệp còn khoảng 30% đến năm 2020.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng sinh thái kết hợp điển hình hóa trên toàn bộ 14 xã, thị trấn của huyện Lâm Thao. Cỡ mẫu nghiên cứu khảo sát chuyên sâu 54 mô hình kinh tế trang trại và hơn 230 mô hình trình diễn khuyến nông đại diện cho 2 tiểu vùng: tiểu vùng đồng bằng phù sa màu mỡ (chiếm 55,66% diện tích) và tiểu vùng đồi núi thấp trung du.

Nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ hệ thống văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Nghị quyết số 10-NQ/HU năm 2001 của Huyện ủy Lâm Thao, các đề án của Ủy ban nhân dân huyện cùng hệ thống báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn 1999 - 2010. Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là sự kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện chân thực tiến trình lãnh đạo theo thời gian gắn với bản chất vận động kinh tế. Lý do lựa chọn phương pháp này cùng các kỹ thuật phân tích, tổng hợp và so sánh thống kê là nhằm lượng hóa chính xác các biến động về năng suất, sản lượng, bảo đảm tính khách quan khi đánh giá hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ trong suốt 11 năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp đạt mức cao và ổn định. Giai đoạn 1999 - 2005, tổng giá trị sản xuất toàn huyện tăng bình quân 19,9%/năm (vượt mục tiêu đề ra là 8 - 9%/năm), trong đó giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 7,14%/năm (vượt chỉ tiêu 5 - 6%/năm). Đến năm 2005, tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 48.000 tấn, giữ vững vai trò vùng trọng điểm sản xuất lương thực của tỉnh Phú Thọ.

Thứ hai, cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp chuyển dịch mang tính đột phá. Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 75,2% năm 2001 xuống 57,9% năm 2005, trong khi tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản tăng mạnh từ 22,3% lên 40,9% vào năm 2005. Năng suất lúa bình quân toàn huyện tăng từ 44 tạ/ha lên 54,07 tạ/ha năm 2005 (tăng gần 10 tạ/ha so với năm 2000), đưa mức lương thực bình quân đạt 404 kg/người/năm.

Thứ ba, kinh tế trang trại và sản xuất hàng hóa phát triển mạnh mẽ. Đến năm 2005, toàn huyện hình thành 54 trang trại (gồm 28 trang trại tổng hợp, 19 trang trại thủy sản, 3 trang trại chăn nuôi và 4 trang trại trồng cây hàng năm) với tổng vốn đầu tư 11,297 tỷ đồng, tạo ra doanh thu 7,843 tỷ đồng/năm và đạt lợi nhuận ròng 3,127 tỷ đồng/năm. Giá trị thu được trên 1 ha canh tác tăng từ 24,9 triệu đồng năm 2001 lên hơn 30 triệu đồng năm 2005.

Thứ tư, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đạt kết quả vượt trội qua hơn 230 mô hình trình diễn. Toàn huyện triển khai 20 mô hình lúa lai rộng 125 ha cho năng suất 230 - 280 kg/sào, 10 mô hình lúa chất lượng cao rộng 97 ha tại Vĩnh Lại, Cao Xá, Tứ Xã, cùng các mô hình rau màu vụ đông cao cấp như dưa chuột Nhật, cà chua đem lại thu nhập gấp 4 - 6 lần so với cấy lúa truyền thống.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu trên là sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Huyện ủy thông qua việc ban hành Nghị quyết số 10-NQ/HU (tháng 11/2001) với 5 chương trình dự án trọng điểm về lương thực, vụ đông, lợn xuất khẩu, đàn bò và thủy sản. Sự kết hợp giữa chính sách trợ giá giống lúa lai và chương trình kiên cố hóa hơn 40 km kênh mương đã giải quyết căn bản nhu cầu tưới tiêu, thúc đẩy thâm canh tăng vụ. Trong phân tích học thuật, các dữ liệu chuyển dịch cơ cấu nội ngành giai đoạn 1999 - 2005 có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ tròn so sánh tỷ trọng trồng trọt - chăn nuôi, kết hợp bảng số liệu đối chiếu năng suất lúa và giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác giữa các mốc thời gian.

So với các địa bàn lân cận như Phong Châu trước đây hay Tam Nông, Lâm Thao bứt phá nhanh hơn nhờ tận dụng hiệu quả 4.296,79 ha đất phù sa màu mỡ (chiếm 55,66% tổng diện tích) và nguồn nước dồi dào từ 28,4 km sông Hồng. Dẫu vậy, liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông) vẫn còn lỏng lẻo; hoạt động của các hợp tác xã sau chuyển đổi chưa đáp ứng tốt yêu cầu tiêu thụ nông sản; giá trị kinh tế đồi rừng tại 3 xã trung du chưa tương xứng với tiềm năng và còn chịu nhiều tác động bất lợi từ biến động thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch phân vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung. Ủy ban nhân dân huyện Lâm Thao cần chủ trì rà soát lại quỹ đất 5.953,92 ha đất nông nghiệp, đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, mở rộng các cánh đồng mẫu lớn chuyên canh lúa chất lượng cao và rau an toàn tại các xã Cao Xá, Vĩnh Lại, Bản Nguyên, hướng tới mục tiêu nâng giá trị sản xuất đạt trên 50 triệu đồng/ha canh tác vào năm 2015.

Thứ hai, đẩy mạnh cơ giới hóa và chuyển giao công nghệ sinh học. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện mở rộng chính sách trợ giá giống mới, đưa máy móc vào khâu làm đất, gieo cấy và thu hoạch, phấn đấu đạt tỷ lệ cơ giới hóa trên 80% vào năm 2013 nhằm hạ giá thành sản xuất.

Thứ ba, củng cố và nâng cao năng lực hoạt động của kinh tế tập thể. Cấp ủy Đảng các xã, thị trấn tập trung kiện toàn 100% hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã, bảo đảm thực hiện tốt 5 khâu dịch vụ then chốt (giống, thủy lợi, điện, nước sạch, bảo vệ thực vật) và chủ động kết nối doanh nghiệp để bao tiêu nông sản trong giai đoạn 2011 - 2015.

Thứ tư, tiếp tục đầu tư kiên cố hóa kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông thôn. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp cần huy động các nguồn vốn ngân sách kết hợp xã hội hóa để nâng cấp trạm bơm tưới tiêu, kiên cố hóa thêm 30 km kênh mương nội đồng và cứng hóa 100% đường trục chính giao thông nội đồng trước năm 2015.

Thứ năm, tăng cường đào tạo nghề và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Trung tâm Dạy nghề huyện phối hợp Hội Nông dân tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi trang trại, nuôi thủy sản thâm canh cho ít nhất 1.200 lao động mỗi năm, phấn đấu giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống dưới 50% tổng lực lượng lao động vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cấp ủy Đảng và cán bộ quản lý nhà nước cấp huyện, xã. Luận văn cung cấp nhiều kinh nghiệm thực tiễn về phương thức ban hành nghị quyết chuyên đề, kỹ năng điều hành chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và xử lý các vấn đề quản lý kinh tế nông nghiệp tại cơ sở.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng và Kinh tế phát triển. Công trình là tài liệu tham khảo chuẩn mực, cung cấp phương pháp luận lịch sử - logic trong việc đánh giá sự vận dụng đường lối đổi mới của Đảng vào một địa bàn nông nghiệp cấp huyện cụ thể.

Thứ ba, chuyên viên quy hoạch phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Hệ thống dữ liệu thực chứng về 54 mô hình trang trại, hiệu quả của 20 mô hình lúa lai và phương thức kiên cố hóa thủy lợi là cơ sở thực tiễn giá trị để xây dựng đề án nông thôn mới.

Thứ tư, các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã và chủ trang trại. Luận văn phác thảo bức tranh tổng thể về tài nguyên đất đai với 55,66% đất phù sa màu mỡ và tập quán canh tác địa phương, mở ra cơ hội hợp tác đầu tư chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và phân phối nông sản hàng hóa tại Phú Thọ.

Câu hỏi thường gặp

Đảng bộ huyện Lâm Thao đã ban hành nghị quyết chuyên đề then chốt nào để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp? Tháng 11/2001, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/HU về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Nghị quyết được Ủy ban nhân dân huyện cụ thể hóa thành 5 chương trình dự án trọng điểm gồm: sản xuất lương thực, sản xuất vụ đông, chăn nuôi lợn xuất khẩu, phát triển đàn bò và nuôi trồng thủy sản, tạo bước đột phá kinh tế địa phương.

Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp huyện Lâm Thao chuyển dịch như thế nào giai đoạn 2001 - 2005? Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch rất tích cực theo hướng hàng hóa. Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 75,2% năm 2001 xuống 57,9% năm 2005. Ngược lại, tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản tăng nhanh từ 22,3% lên 40,9% vào năm 2005, trong đó năng suất lúa bình quân năm 2005 đạt 54,07 tạ/ha, tăng gần 10 tạ/ha so với năm 2000.

Mô hình kinh tế trang trại tại Lâm Thao đạt được những thành tựu kinh tế cụ thể nào đến năm 2005? Toàn huyện đã xây dựng được 54 trang trại đa dạng loại hình (gồm 28 trang trại tổng hợp, 19 trang trại thủy sản, 3 trang trại chăn nuôi và 4 trang trại trồng cây hàng năm). Tổng vốn đầu tư đạt 11,297 tỷ đồng, mang lại doanh thu bình quân 7,843 tỷ đồng/năm và đem lại lợi nhuận ròng 3,127 tỷ đồng/năm cho người dân.

Huyện Lâm Thao đã triển khai những giải pháp kỹ thuật nào để nâng cao giá trị trên 1 ha đất canh tác? Huyện đẩy mạnh xây dựng hơn 230 mô hình trình diễn khoa học kỹ thuật, đưa 20 mô hình lúa lai (125 ha) cho năng suất 230 - 280 kg/sào vào canh tác. Đồng thời, các giống rau màu vụ đông như dưa chuột Nhật, cà chua được nhân rộng theo công thức luân canh, nâng giá trị canh tác đạt trên 30 triệu đồng/ha năm 2005.

Những bài học kinh nghiệm sâu sắc nhất rút ra từ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Lâm Thao là gì? Bài học lớn nhất là cấp ủy Đảng phải luôn bám sát các nghị quyết cấp trên để cụ thể hóa thành đề án kinh tế sát thực tế địa phương; chủ động huy động nguồn lực kiên cố hóa hơn 40 km kênh mương thủy lợi; đẩy mạnh chuyển giao giống mới và phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của người nông dân.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện và sâu sắc quá trình Đảng bộ huyện Lâm Thao lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1999 đến năm 2010, làm rõ sự vận dụng sáng tạo đường lối CNH, HĐH nông nghiệp của Đảng vào thực tiễn địa phương.
  • Khẳng định tính đúng đắn của Nghị quyết số 10-NQ/HU, tạo bước đột phá nâng tốc độ tăng trưởng giá trị nông nghiệp đạt 7,14%/năm và chuyển dịch tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản lên 40,9% vào năm 2005.
  • Đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử quý báu về công tác quy hoạch vùng, kiên cố hóa hạ tầng thủy lợi, trợ giá giống mới và phát huy hiệu quả của 54 mô hình trang trại quy mô lớn.
  • Xác định lộ trình phát triển giai đoạn 2011 - 2020 tập trung hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, mở rộng cánh đồng mẫu lớn và nâng cao chuỗi liên kết giá trị nông sản hàng hóa bền vững.
  • Độc giả, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý hãy nghiên cứu toàn văn luận văn thạc sĩ để khai thác nguồn tư liệu lịch sử thực chứng và ứng dụng các bài học thực tiễn vào phát triển nông nghiệp địa phương.