Luận văn thạc sĩ về lãnh đạo kinh tế nông nghiệp huyện Lâm Thao (Phú Thọ) từ năm 1999 đến năm 2010

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích ussh đảng bộ huyện lâm thao phú thọ lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1999 đến năm 2010, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2014

108
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN LÂM THAO (PHÚ THỌ) TỪ NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Những yếu tố tác động đến chủ trƣơng của Đảng bộ về phát triển kinh tế nông nghiệp

1.1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.2. Vị trí địa lý

1.1.3. Địa hình

1.1.4. Khí hậu

1.1.5. Tài nguyên nước

2. ĐẢNG BỘ HUYỆN LÂM THAO (PHÚ THỌ) LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (2006 - 2010)

3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Lãnh đạo Kinh tế Nông nghiệp Huyện Lâm Thao 1999 2010

Giai đoạn 1999-2010 là thời kỳ quan trọng trong sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Trong bối cảnh đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới, huyện Lâm Thao đã có những bước tiến đáng kể trong việc lãnh đạo và phát triển kinh tế nông nghiệp. Đảng bộ huyện đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống người dân và nâng cao hiệu quả kinh tế. Những thành tựu này không chỉ góp phần vào sự phát triển kinh tế của huyện mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

1.1. Vai trò của Đảng bộ trong phát triển kinh tế nông nghiệp

Đảng bộ huyện Lâm Thao đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp. Các chính sách được ban hành nhằm khuyến khích nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng nông sản.

1.2. Tình hình nông nghiệp huyện Lâm Thao trước năm 1999

Trước năm 1999, kinh tế nông nghiệp huyện Lâm Thao gặp nhiều khó khăn. Cơ sở hạ tầng yếu kém, sản xuất manh mún, và thiếu vốn đầu tư là những thách thức lớn. Tuy nhiên, với sự quyết tâm của Đảng bộ, huyện đã bắt đầu có những bước chuyển mình tích cực.

II. Những thách thức trong phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1999 2005

Trong giai đoạn 1999-2005, huyện Lâm Thao phải đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Những yếu tố như biến đổi khí hậu, sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, và cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Đảng bộ huyện đã nhận diện và tìm cách khắc phục những vấn đề này.

2.1. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sản xuất nông nghiệp

Điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai và nguồn nước có ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp. Huyện Lâm Thao thường xuyên phải đối mặt với tình trạng hạn hán và lũ lụt, gây thiệt hại cho mùa màng.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ mới

Nông dân huyện Lâm Thao gặp khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ mới và kiến thức sản xuất hiện đại. Điều này dẫn đến năng suất thấp và chất lượng nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường.

III. Phương pháp lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ 2006 2010

Giai đoạn 2006-2010, Đảng bộ huyện Lâm Thao đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo mới nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp. Các chính sách khuyến khích hợp tác xã, liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản đã được triển khai hiệu quả, tạo ra những bước tiến đáng kể trong sản xuất nông nghiệp.

3.1. Chính sách khuyến khích hợp tác xã nông nghiệp

Đảng bộ huyện đã khuyến khích thành lập các hợp tác xã nông nghiệp, tạo điều kiện cho nông dân hợp tác sản xuất, chia sẻ kinh nghiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế.

3.2. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ

Việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đã được chú trọng. Đảng bộ đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, chuyển giao công nghệ cho nông dân, giúp họ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

IV. Kết quả phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Lâm Thao 1999 2010

Kết quả phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Lâm Thao trong giai đoạn 1999-2010 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sản xuất nông nghiệp không chỉ tăng trưởng về số lượng mà còn cải thiện về chất lượng. Huyện đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.

4.1. Thành tựu trong sản xuất nông nghiệp

Sản lượng nông sản tăng đáng kể, đặc biệt là lúa gạo và các loại cây ăn quả. Huyện Lâm Thao đã trở thành một trong những vùng sản xuất nông sản chủ lực của tỉnh Phú Thọ.

4.2. Cải thiện đời sống người dân

Nhờ vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp, đời sống của người dân huyện Lâm Thao đã được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm, nhiều gia đình đã có điều kiện sống tốt hơn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của kinh tế nông nghiệp huyện Lâm Thao

Kinh tế nông nghiệp huyện Lâm Thao đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 1999-2010. Tuy nhiên, để phát triển bền vững trong tương lai, huyện cần tiếp tục cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ sản xuất và ứng dụng công nghệ mới. Đảng bộ huyện cần có những chính sách phù hợp để hỗ trợ nông dân và phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại.

5.1. Định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững

Huyện Lâm Thao cần xây dựng chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường và phát triển xã hội.

5.2. Vai trò của Đảng bộ trong tương lai

Đảng bộ huyện cần tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo, tạo điều kiện cho nông dân phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện lâm thao phú thọ lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1999 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Lâm Thao (Phú Thọ) từ năm 1999 đến năm 2005. Đảng bộ huyện Lâm Thao (Phú Thọ) lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp (2006 – 2010). Một số nhận xét và kinh nghiệm.

11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN LÂM THAO (PHÚ THỌ) TỪ NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2005 1. Những yếu tố tác động đến chủ trƣơng của Đảng bộ về phát triển kinh tế nông nghiệp 1. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Lâm Thao là huyện đồng bằng đồi núi thấp nằm phía Tây của tỉnh Phú Thọ với tổng diện tích là 9.769,11ha, dân số: 101. Phía Bắc huyện giáp với huyện Phù Ninh và thị xã Phú Thọ, phía Đông giáp thành phố Việt Trì, thành phố Hà Nội, phía Nam giáp huyện Tam Nông, phía Tây giáp thị xã Phú Thọ.

Lâm Thao có 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 12 xã và 2 thị trấn, trong đó có 3 xã, thị trấn miền núi, 11 xã thị trấn là đồng bằng. Trung tâm huyện cách thành phố Việt Trì 10 km về phía Tây. Huyện có tuyến đường: Quốc lộ 2, Quốc lộ 32C, Đường tỉnh 323, 324, 324B và tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai chạy qua. Như vậy, với vị trí địa lý đó, huyện Lâm Thao có đầy đủ điều kiện để phát huy tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Địa hình Huyện Lâm Thao nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và vùng đồi trung du nên địa hình tương đối đa dạng tiêu biểu của vùng bán sơn địa, đất đai có địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, thuận lợi cho việc sử dụng đất và sản xuất nông lâm nghiệp. Nhìn chung địa hình địa mạo của huyện chia làm 2 dạng chính: Địa hình đồng bằng phù sa: tập trung ở 11 xã, thị trấn (Xuân Huy, Thạch Sơn, Thị trấn Lâm Thao, Sơn Vi, Hợp Hải, Sơn Dương, Tứ Xã, Cao Xá, Vĩnh Lại, Bản Nguyên và Kinh Kệ) trên địa bàn huyện. Đây là dải đất tương đối bằng phẳng được bồi đắp bởi hệ thống sông Hồng (gồm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sông Thao và sông Đà). Địa hình trung du: Tập trung ở Thị trấn Hùng Sơn , xã Tiên Kiên, xã Xuân Lũng; Địa hình địa mạo ở vùng này chủ yếu là đồi núi thấp.

Khí hậu Huyện Lâm Thao nằm trong vùng đồng bằng và trung du của tỉnh Phú Thọ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm với đặc trưng cơ bản là lượng bức xạ cao, có nền nhiệt độ cao, lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa. Nhiệt độ trung bình ngày: 23C, số giờ nắng trung bình: 135 giờ/ tháng. Lượng mưa trung bình/ năm: 1720mm, trung bình tháng là 143 mm, độ ẩm trung bình: 85%. Theo phân vùng khí hậu toàn tỉnh Phú Thọ (nguồn số liệu do Đài khí tượng thủy văn Việt Bắc) thì huyện Lâm Thao chia làm 2 tiểu vùng khí hậu: Tiểu vùng đồi trung du gồm 3 xã: Thị trấn Hùng Sơn, Tiên Kiên, Xuân Lũng.

Tổng lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600 mm, là tiểu vùng khô hạn. Mưa thất thường, năm nhiều có tới 6 tháng mưa lớn, năm ít chỉ có 1- 2 tháng. Tổng lượng mưa năm nhiều nhất 2.600 mm, năm ít nhất chỉ từ 1. Do đó hạn hán, úng lụt cục bộ thường xẩy ra gây thiệt hại cả về kinh tế và xã hội.

Độ ẩm tương đối trung bình 84%, thấp nhất là 24%, nhiệt độ ở tiểu vùng này cao hơn các tiểu vùng khác, nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24C; tổng diện tích nhiệt trung bình khoảng 8. Tiểu vùng đồng bằng gồm 11 xã, thị trấn lấy đường đẳng tích nhiệt năm 8.500C làm ranh giới phân chia với vùng đồi trung du. Có thể nói đây là vùng đồng bằng khô hạn nhất tỉnh, độ ẩm tương đối trung bình là 82%. Tổng lượng mưa trung bình năm 1.600mm, lượng mưa mùa mưa khoảng 1.

Năm mưa nhiều nhất khoảng 2.200mm, năm mưa ít nhất chưa đến 1000mmm. Tài nguyên nước Lâm Thao có nguồn tài nguyên nước phong phú đa dạng với các nguồn nước khác nhau như nước sông ngòi, hồ đầm, kênh mương, nước ngầm và 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước mưa hàng năm. Nguồn nước sông ngòi (sông Hồng) có trữ lượng lớn, đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp nước cho giao thông đường thủy, công nghiệp, xây dựng và các nhu cầu sinh hoạt khác. Sông Hồng chảy qua địa bàn huyện Lâm Thao từ xã Xuân Huy đến xã Cao Xá với chiều dài khoảng 28,4km.

Lưu lượng dòng chảy vào mùa lũ là 1860m3/s, mùa khô rất thấp chỉ khoảng 900m3/s. Sông Hồng đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất đồng thời cũng cung cấp lượng phù sa không nhỏ phục vụ việc cải tạo đồng ruộng. Do lưu lượng nước vào mùa mưa lớn nên xảy ra các hiện tượng úng lụt ở các xã vùng phía Đông và phía Nam của huyện. Nguồn nước ngầm khá phong phú có lưu lượng khoảng 30 lít/s, nguồn nước này đang được khai thác dưới dạng giếng đào, giếng khoan trong dân.

Nguồn nước mặt ở các ao hồ, kênh mương cũng góp phần không nhỏ trong việc phục vụ sản xuất trên địa bàn huyện. Hệ thống thủy lợi của huyện tương đối hoàn chỉnh nên diện tích đất được tưới tiêu chủ động là khá lớn, tuy nhiên do ảnh hưởng của mùa mưa, mực nước sông dâng cao việc bơm nước gặp khó khăn gây ra hiện tượng úng cục bộ ở một số khu vực. Tài nguyên đất Theo kết quả thống kê năm 2008, tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là: 9769,11ha phân theo 3 loại đất chính, bao gồm: đất nông nghiệp: 5953,92ha; đất phi nông nghiệp: 3612,78ha; đất chưa sử dụng 202,41ha. Lâm Thao là một trong những huyện được hình thành chủ yếu do quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng, sông Đà, một số được hình thành tại chỗ (đất ngập úng, đất bạc màu trên phù sa cổ).

Nằm ở vị trí tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng nên đất đai của huyện tương đối phong phú và đa dạng, bao gồm một số loại đất chính như: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đất phù sa có diện tích là 4296,79 ha chiếm 55,66% trên tổng diện tích đất toàn huyện. - Đất đỏ vàng phát triển trên nền đá phiến Mica và Gnai có diện tích là 521,58 ha chiếm 6,76% trên tổng diện tích đất toàn huyện. - Đất cát có diện tích là 758,23 ha chiếm 9,82% trên tổng diện tích đất toàn huyện. - Đất xám phát triển trên nền phù sa cổ, có diện tích là 1822,70 ha chiếm 27,75% trên tổng diện tích đất toàn huyện.

- Đất tầng mỏng có diện tích là 72,86 ha chiếm 0,94% trên tổng diện tích đất toàn huyện. Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội Văn hóa - xã hội Lâm Thao là vùng đồng bằng của tỉnh Phú Thọ, nơi cội nguồn của dân tộc Việt Nam với những di chỉ khảo cổ học in đậm dấu tích của tổ tiên người Lạc Việt như: Di chỉ văn hóa Sơn Vy, Gò Mun, Phùng Nguyên … đang được lưu giữ. Phủ Lâm Thao được xác lập từ cuối thế kỷ XIX. Thời Hùng Vương, Lâm Thao là đất bản bộ của các Vua Hùng với tên gọi Phong Châu, kinh đô của Nhà nước Văn Lang, trải qua nhiều tên gọi khác nhau, đến sau Cách mạng tháng Tám có tên gọi là Lâm Thao.

Năm 1977, huyện Lâm Thao và huyện Phù Ninh hợp nhất thành huyện Phong Châu. Ngày 24/7/1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định 59/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính và chia tách huyện Phong Châu thành huyện Phù Ninh và Lâm Thao. Huyện Lâm Thao sau 22 năm hợp nhất đã tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/9/1999. Lâm Thao là huyện có bề dày truyền thống cách mạng và văn hóa lâu đời, Đảng bộ và nhân dân trong huyện có truyền thống đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.

Chính vì vậy, kinh tế nông nghiệp của huyện luôn theo hướng phát triển và thu được nhiều 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, đóng góp vào sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh Phú Thọ. Dân số Năm 2010 dân số toàn huyện là 98.363 người, chiếm 8,5% dân số toàn tỉnh với 26.135 hộ, quy mô hộ gia đình 3,76 người/hộ. Dân cư phân bố không đồng đều. Dân cư nông thôn là 80.219 người (chiếm 82% tổng dân số toàn huyện), dân cư đô thị là 17.

Xã có số dân đông nhất là xã Tứ Xã 10.033 người, xã có dân số thấp nhất là xã Hợp Hải 3. Mật độ dân số bình quân toàn huyện là 1017 người/km2, cao nhất là tại thị trấn Lâm Thao 1.569 người/km2, thấp nhất là tại xã Hợp Hải 656 người/km2. Tỷ lệ tăng dân sốtự nhiên của huyện năm 2010 là 0,84%. Nguồn nhân lực Thực hiện Nghị quyết số 59/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 1999 của chính phủ, huyện Lâm Thao được tái lập sau hơn 22 năm hợp nhất với huyện Phù Nin.

Ngày 14/11/1999, hội đồng nhân dân huyện nhiệm kỳ 1999-2004 được bầu ra có 31 đại biểu, trong đó có 81,36% đại biểu có trình độ Trung cấp và đại học về chuyên môn nghiệp vụ.534 lao động trong độ tuổi, chiếm 49,61% tổng dân số của huyện. Trong đó số lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản là 30.269 người (chiếm 62,37% số lao động trong độ tuổi), lao động trong ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là 9.608 người, lao động trong ngành thương mại, dịch vụ là 8. Trong tổng số 48.023 người có khả năng lao động và 511 người không có khả năng lao động. Tỷ lệ lao động có khả năng làm việc thường xuyên chiếm 89% còn lại là 9% không có việc làm thường xuyên và 2% lao động có khả năng lao động nhưng không có việc làm.

Nhìn chung, nguồn nhân lực tuy dồi dào về số lượng nhưng chất lượng còn thấp, thiếu đội 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngũ cán bộ có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu, nhất là cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý năng động, cơ sở hạ tầng còn yếu kém. Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện rất thuận lợi cho sự phát triển các loại cây trồng, vật nuôi đa dạng về chủng loại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ