Tổng quan luận án
Bản luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2010" do nghiên cứu sinh Trần Thị Thúy Hà thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Phạm Quang Minh, được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016, thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62.01).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ hoạt động đối ngoại nhân dân (ĐNND) là các hoạt động đối ngoại không thuộc ngoại giao Nhà nước và đối ngoại của Đảng, do các tổ chức chính trị – xã hội, các hội nghề nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học hoặc cá nhân thuộc các tầng lớp nhân dân tiến hành với các đối tác nước ngoài tương ứng. Cùng với đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân hợp thành ba bộ phận cấu thành nên nền ngoại giao tổng thể của Việt Nam. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, các quan hệ quốc tế chứng kiến sự chuyển dịch khi các quốc gia không chỉ vận hành kênh ngoại giao truyền thống giữa các chính phủ (G2G – Government to Government) mà còn coi trọng mối liên kết giữa nhân dân với nhân dân (P2P – People to People relations). Trước bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chuyển hướng chiến lược đối ngoại sang độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Việc nghiên cứu có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng đối với đối ngoại nhân dân giai đoạn 1991–2010 là một khoảng trống khoa học cần được làm sáng tỏ, nhằm tổng kết thực tiễn, đánh giá thành tựu và khuyết điểm, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm phục vụ sự nghiệp đổi mới.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2010, từ đó đánh giá toàn diện hoạt động này và rút ra các bài học kinh nghiệm thực tiễn.
Luận án thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Khái quát hoạt động đối ngoại nhân dân của Việt Nam trước năm 1991.
- Phân tích những yếu tố tác động tới quá trình hình thành, phát triển chủ trương đối ngoại nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2010.
- Trình bày một cách hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2010.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2010, rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động đối ngoại nhân dân.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ trên ba phương diện:
- Phạm vi nội dung: Tập trung làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng đối với hoạt động đối ngoại nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa. Về chủ thể thực hiện, luận án khảo sát hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội nòng cốt bao gồm: Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (VUFO), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (LĐLĐVN), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (HLHPNVN), Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (ĐTNCSHCM), Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2010. Mốc 1991 gắn với thời điểm Đại hội VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác lập định hướng đối ngoại rộng mở. Năm 2001 là mốc bản lề phân chia giai đoạn (1991–2001 và 2001–2010). Mốc kết thúc năm 2010 đánh dấu chặng đường 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, kết thúc nhiệm kỳ Đại hội X để chuẩn bị bước sang Đại hội XI. Ngoài ra, luận án khảo sát khái quát giai đoạn trước năm 1991 nhằm bảo đảm tính kế thừa lịch sử.
- Phạm vi không gian: Không gian hoạt động của các chủ thể đối ngoại nhân dân Việt Nam trong tương tác với các quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế có liên quan trên thế giới.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong văn bản được tác giả phân định thành hai nhóm công trình chính:
Nhóm thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu về đối ngoại nhân dân Việt Nam nói chung:
- Các nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với đối ngoại nhân dân: Vũ Xuân Hồng (2003) với bài viết "Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân" trên Tạp chí Cộng sản số 697 chỉ rõ phương châm kết hợp ba kênh đối ngoại và đoàn kết quốc tế; Phạm Hoàng Điệp (2011) trên Tạp chí Đối ngoại số 5 với bài viết "Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người mở đường cho Ngoại giao nhân dân Việt Nam" điểm lại các sự kiện đối ngoại nhân dân đầu tiên sau năm 1945; Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011) trên Tạp chí Tuyên giáo số 10 khẳng định nguyên tắc dựa vào dân; Nguyễn Thế Hưởng (2012) trên Tạp chí Thông tin đối ngoại số 4 bàn về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thông tin đối ngoại; Nguyễn Năng Nam và Trần Hồng Khánh (2012) trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số 3 khái quát bốn nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác này.
- Các ấn phẩm khái quát về đối ngoại nhân dân: Cuốn sách chuyên khảo "Hoạt động đối ngoại nhân dân Việt Nam" (NXB Chính trị Quốc gia, 2003) hệ thống hóa quá trình thành lập và hoạt động hòa bình, hữu nghị, vận động viện trợ phi chính phủ của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam; PGS.TS Vũ Dương Huân (2009) trong công trình "Ngoại giao và công tác ngoại giao" (NXB Chính trị Quốc gia) phân tích đặc tính linh hoạt, rộng mở, không bị ràng buộc bởi lễ tân nhà nước của ngoại giao nhân dân; cuốn sách "Hỏi - đáp về tình hình thế giới và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta" do Bộ Ngoại giao biên soạn (NXB Chính trị Quốc gia, 2012) đề cập kết quả vận động các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (TCPCPNN); bài viết của Nguyễn Văn Du (2011) trên Tạp chí Lịch sử Đảng và Nguyễn Văn Long (2012) trên Tạp chí Công tác tôn giáo phản ánh các khía cạnh đối ngoại tôn giáo và vận động nhân dân.
- Hoạt động đối ngoại của các tổ chức đoàn thể: Cuốn sách "Một số vấn đề lý luận về thực tiễn công tác mặt trận" do Vũ Trọng Kim chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia, 2009); bài viết của Hà Văn Núi (2009) về Mặt trận Tổ quốc; Trần Hanh (2009) về Hội Cựu chiến binh; cùng các luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Liên Hương (2010) về Hội Liên hiệp Phụ nữ, Lại Thị Thu Thủy (2009) về Đoàn Thanh niên, Phí Thị Loan (2009) về Mặt trận Tổ quốc.
- Công trình về quan hệ song phương: Lê Văn Phong (2011) trên Tạp chí Đối ngoại số 8 phân tích vai trò của ngoại giao nhân dân trong quan hệ Việt – Mỹ; Somxayphone Thipphavong (luận văn thạc sĩ) nghiên cứu đối ngoại nhân dân trong quan hệ Lào – Việt Nam.
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu trực tiếp về sự lãnh đạo của Đảng đối với đối ngoại nhân dân:
- Tác giả Vũ Xuân Hồng công bố loạt bài viết trên Tạp chí Thông tin đối ngoại (số 2/2007, số 8/2007, số 1/2009, số 2/2010) phân tích cơ chế gắn kết ba kênh đối ngoại và vai trò lãnh đạo của Đảng; tác giả Lê Thị Tình (2009) có bài viết trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 7. Đáng chú ý là luận án tiến sĩ của Lê Thị Tình (2010) với đề tài "ĐCSVN lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân từ năm 1986 đến 2006".
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Tác giả chỉ rõ các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận hoạt động đối ngoại nhân dân ở cấp độ từng tổ chức riêng lẻ (nổi bật là VUFO), tiếp cận tổng quát từ góc độ ngoại giao chung hoặc dừng lại ở mốc năm 2006. Luận án của Lê Thị Tình chưa khai thác sâu nguồn tài liệu lưu trữ trực tiếp tại các cơ quan đoàn thể chính trị – xã hội và chưa mở rộng khung phân tích lý luận đối sánh quốc tế. Luận án của Trần Thị Thúy Hà tập trung giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo cứu toàn diện, có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng từ năm 1991 đến năm 2010, phân tích đồng thời trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và mở rộng phạm vi khảo sát tới đầy đủ các tổ chức chính trị – xã hội nòng cốt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và khung phân tích, luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại.
Tác giả tiến hành phân định rõ ba khái niệm trong quan hệ quốc tế:
- Ngoại giao truyền thống / Ngoại giao Nhà nước (G2G – Government to Government): Quan hệ chính thức giữa các chính phủ, tuân thủ nghiêm ngặt các nghi thức lễ tân ngoại giao quốc tế.
- Ngoại giao công chúng (Public Diplomacy – G2P): Chính sách của chính phủ nhằm tác động đến nhận thức của công chúng nước ngoài để phục vụ mục tiêu đối ngoại của nhà nước.
- Đối ngoại nhân dân (People to People relations – P2P): Mối quan hệ giữa nhân dân của một quốc gia với nhân dân các nước khác thông qua các tổ chức chính trị – xã hội, hội đoàn, cơ quan nghiên cứu và cá nhân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ "Đối ngoại nhân dân" (P2P) trong toàn bộ luận án.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, đề tài thuộc chuyên ngành lịch sử nên phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Hai phương pháp này được kết hợp nhằm khôi phục tiến trình lịch sử khách quan, đồng thời khái quát hóa bản chất chủ trương và quy luật vận động của hoạt động đối ngoại nhân dân qua từng thời kỳ. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế: Phân tích bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa và các mối tương tác đa phương.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Xử lý khối lượng tư liệu lưu trữ và các văn kiện chính sách.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đánh giá sự chuyển biến về nội dung, phương thức hoạt động giữa giai đoạn 1991–2001 và 2001–2010.
- Phương pháp hệ thống hóa: Phân loại hoạt động theo từng lĩnh vực (chính trị, kinh tế, văn hóa) và từng chủ thể đoàn thể.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án được khai thác từ các nguồn tài liệu chính thống:
- Hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
- Nguồn tài liệu lưu trữ gốc: Báo cáo tổng kết công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, Cục Lưu trữ thuộc Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Hợp tác quốc tế của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam.
- Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, thông cáo báo chí, các công trình chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Ngoại giao, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội).
- Luận văn, luận án lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Thư viện Quân đội và một số công trình của học giả quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Cấu trúc nội dung của luận án gồm phần Mở đầu, 4 chương (chia thành 10 tiết), phần Kết luận, Danh mục công trình của tác giả, Tài liệu tham khảo và Phụ lục.
| Chương |
Tên chương trong văn bản |
Nội dung cốt lõi |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu |
Phân tích 2 nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; phân định các khái niệm G2G, G2P, P2P; chỉ ra khoảng trống khoa học và xác định 4 vấn đề luận án tập trung giải quyết. |
| Chương 2 |
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động đối ngoại nhân dân giai đoạn 1991–2001 |
Bối cảnh lịch sử; khái quát ĐNND trước 1991; chủ trương của Đảng qua Đại hội VII, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII, Chỉ thị số 44-CT/TW (1994); sự chỉ đạo thực hiện trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa. |
| Chương 3 |
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân giai đoạn 2001 – 2010 |
Chuyển biến bối cảnh thế giới và trong nước; chủ trương tại Đại hội IX, Đại hội X, Chỉ thị 28-CT/TW (2008); chỉ đạo mở rộng mạng lưới đối tác, vận động viện trợ phi chính phủ, hội nhập kinh tế quốc tế. |
| Chương 4 |
Nhận xét và kinh nghiệm |
Đánh giá ưu điểm, hạn chế và kết quả hoạt động ĐNND; tổng kết 4 bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo của Đảng đối với đối ngoại nhân dân. |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 tập trung hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài theo hai nhóm: nhóm nghiên cứu về đối ngoại nhân dân Việt Nam và nhóm nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với đối ngoại nhân dân.
Tác giả đi sâu phân tích bối cảnh học thuật quốc tế khi thuật ngữ "people to people relations" được ghi nhận từ cuộc tiếp xúc giữa Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower và nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev tại Geneva vào tháng 7/1955. Luận án làm rõ sự khác biệt mang tính bản chất giữa ngoại giao nhà nước (G2G), ngoại giao công chúng (G2P) và đối ngoại nhân dân (P2P), từ đó khẳng định tính đặc thù của mô hình đối ngoại nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng. Chương 1 kết luận bằng việc xác định rõ 4 nội dung luận án sẽ giải quyết nhằm lấp đầy các khoảng trống tư liệu và lý luận mà các công trình đi trước chưa khảo cứu thấu đáo.
Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động đối ngoại nhân dân giai đoạn 1991–2001
Chương 2 làm rõ bối cảnh và quá trình hình thành đường lối, sự chỉ đạo của Đảng trong thập niên đầu thời kỳ đổi mới:
- Khái quát trước năm 1991: Giai đoạn 1945–1975, đối ngoại nhân dân đã tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, hình thành ba tầng mặt trận (mặt trận đoàn kết trong nước, mặt trận đoàn kết Việt – Lào – Campuchia, mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam), làm nên phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ. Sau năm 1975, đất nước đối mặt với khủng hoảng và cấm vận. Đại hội VI (12/1986) và Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (5/1988) đã đặt nền móng chuyển hướng chiến lược đối ngoại sang hòa bình và phát triển. Tháng 8/1989, Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hữu nghị với nhân dân các nước được đổi tên thành Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam và được giao nhiệm vụ quản lý, điều phối viện trợ nhân dân (tháng 6/1989). Hoạt động ĐNND thời kỳ này đã hỗ trợ tích cực cho tiến trình rút quân tình nguyện khỏi Campuchia (hoàn tất ngày 26/9/1989), bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991) và giải quyết vấn đề tù binh, người Mỹ mất tích trong chiến tranh (POW/MIA).
- Chủ trương của Đảng giai đoạn 1991–2001: Đại hội VII (6/1991) khẳng định mục tiêu mở rộng quan hệ hữu nghị theo phương châm "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1992) đề ra nhiệm vụ mở rộng và đổi mới đối ngoại nhân dân. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1/1994) tiếp tục cụ thể hóa chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa. Ngày 20/9/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành văn bản mang tính dấu mốc: Chỉ thị số 44-CT/TW "Về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân", khẳng định đối ngoại nhân dân là một bộ phận cấu thành hữu cơ của mặt trận đối ngoại chung của đất nước.
- Quá trình chỉ đạo: Đảng chỉ đạo các đoàn thể chính trị – xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Công đoàn, Nông dân, Cựu chiến binh) đổi mới phương thức tiếp cận, mở rộng quan hệ từ các đối tác truyền thống (Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ) sang các đối tác tại khu vực ASEAN, Tây Âu, Bắc Âu, Bắc Mỹ, và các tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thông qua Ban điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM), hoạt động ĐNND đã vận động các nguồn lực nhân đạo hỗ trợ khắc phục hậu quả chiến tranh, xóa đói giảm nghèo, song hành cùng tiến trình gia nhập ASEAN (1995) và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ (1995).
Chương 3: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại nhân dân giai đoạn 2001 – 2010
Chương 3 trình bày sự lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh quốc tế đầu thế kỷ XXI có nhiều biến động (sự kiện khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ, toàn cầu hóa kinh tế sâu sắc, Việt Nam gia nhập WTO năm 2007):
- Chủ trương của Đảng: Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006) xác định chủ trương "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác". Ngày 2/12/2008, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 28-CT/TW về "Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam", xác định rõ vị trí của VUFO là lực lượng nòng cốt trong hoạt động đối ngoại nhân dân. Đồng thời, Nghị quyết số 36-NQ/TW (26/3/2004) của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã tạo hành lang chính trị mở rộng quan hệ gắn kết kiều bào với quê hương.
- Sự chỉ đạo cụ thể:
- Lĩnh vực chính trị – an ninh: Tăng cường quan hệ hữu nghị song phương với các nước láng giềng có chung đường biên giới (Lào, Campuchia, Trung Quốc); tham gia các diễn đàn đa phương nhân dân như Diễn đàn Nhân dân ASEAN (APF), Diễn đàn Xã hội Thế giới (WSF); chủ động đấu tranh trên mặt trận dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, bảo vệ chủ quyền biên giới, lãnh thổ và biển đảo.
- Lĩnh vực kinh tế và viện trợ phi chính phủ: Thông qua đầu mối VUFO và PACCOM, Đảng chỉ đạo mở rộng cơ chế hợp tác với các TCPCPNN. Giai đoạn này ghi nhận sự gia tăng về số lượng tổ chức phi chính phủ hoạt động tại Việt Nam và giá trị giải ngân viện trợ phục vụ phát triển cộng đồng, y tế, giáo dục, giải quyết hậu quả chất độc da cam/dioxin và rà phá bom mìn.
- Lĩnh vực văn hóa – xã hội: Tăng cường các hoạt động giao lưu văn hóa, trao đổi đoàn nghệ thuật, kỷ niệm năm đoàn kết hữu nghị; tuyên truyền thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh đất nước đổi mới; tổ chức các chương trình giao lưu thanh niên, trại hè cho kiều bào trẻ. Các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Tổng Liên đoàn Lao động) chủ động đăng cai và tham gia các hội nghị chuyên đề quốc tế.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn 20 năm lãnh đạo (1991–2010), chương 4 khái quát các ưu điểm, hạn chế và đúc kết 4 bài học kinh nghiệm:
- Một số ưu điểm và kết quả: Đối ngoại nhân dân đã phát huy vai trò tiên phong, mở đường trong giai đoạn khó khăn, góp phần phá bỏ thế bao vây cấm vận; xây dựng mạng lưới đối tác bạn bè quốc tế rộng khắp; huy động được nguồn lực tài chính và kỹ thuật lớn từ viện trợ phi chính phủ nước ngoài để phục vụ an sinh xã hội; phối hợp hiệu quả với ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Đảng tạo nên sức mạnh tổng thể.
- Một số hạn chế: Nhận thức về vị trí, vai trò của đối ngoại nhân dân ở một số cấp ủy, chính quyền và đoàn thể chưa thực sự đầy đủ; cơ chế phối hợp giữa ba kênh đối ngoại có thời điểm thiếu nhịp nhàng; năng lực chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kỹ năng vận động quốc tế của đội ngũ cán bộ làm ĐNND còn bất cập; nguồn kinh phí và cơ sở vật chất bảo đảm cho hoạt động ĐNND còn hạn hẹp so với yêu cầu nhiệm vụ.
- 4 bài học kinh nghiệm:
- Xuất phát từ thực tiễn, nhận thức đúng tình hình, kịp thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng: Đảng phải luôn theo dõi sát diễn biến quốc tế và trong nước, kịp thời ban hành các chỉ thị, nghị quyết chuyên đề để định hướng hoạt động cho từng thời kỳ.
- Quán triệt sâu sắc chủ trương và nguyên tắc đối ngoại của Đảng, bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực, tự cường: Hoạt động đối ngoại nhân dân phải luôn đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Đảng, kiên định mục tiêu hòa bình, độc lập và bảo vệ chủ quyền quốc gia trong mọi tình huống giao lưu quốc tế.
- Đa dạng hóa, đa phương hóa các hoạt động đối ngoại nhân dân, đồng thời xác định trọng tâm, chú trọng tính hiệu quả và chiều sâu: Tránh dàn trải hình thức, tập trung vào các đối tác chiến lược, láng giềng truyền thống và các tổ chức có tiềm lực hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội.
- Coi trọng công tác nghiên cứu, dự báo và xây dựng đội ngũ làm đối ngoại nhân dân: Thường xuyên nâng cao chất lượng nghiên cứu thông tin đối ngoại; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, thành thạo kỹ năng nghiệp vụ và ngoại ngữ.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt tư liệu:
- Luận án đã khai thác, hệ thống hóa và bổ sung nhiều nguồn tư liệu gốc có giá trị, đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Đối ngoại Trung ương và các ban hợp tác quốc tế của các đoàn thể chính trị – xã hội (MTTQVN, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHPN Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Tổng LĐLĐ, VUFO).
- Cung cấp nguồn cứ liệu có hệ thống, phản ánh quá trình hình thành, phát triển các chủ trương của Đảng về đối ngoại nhân dân từ năm 1991 đến năm 2010.
Về mặt khoa học và lý luận:
- Làm sáng tỏ quá trình chuyển biến tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân dân trong thời kỳ đổi mới: từ chỗ chủ yếu dựa trên quan hệ ý thức hệ truyền thống sang đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa, xem đối ngoại nhân dân là một bộ phận hợp thành của nền ngoại giao toàn diện.
- Khẳng định trên cơ sở khoa học vai trò của đối ngoại nhân dân trong cấu trúc "kiềng ba chân" của mặt trận đối ngoại Việt Nam, làm rõ những đóng góp cụ thể của từng tổ chức chính trị – xã hội nòng cốt.
- Đánh giá khách quan, toàn diện những ưu điểm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động này suốt hai thập kỷ (1991–2010).
- Đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn, đóng góp cơ sở khoa học để Đảng và Nhà nước tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối đối ngoại trong giai đoạn tiếp theo.
Về kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Luận án nhấn mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế phối hợp đồng bộ giữa Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, VUFO và các tổ chức chính trị – xã hội.
- Tăng cường đầu tư nguồn lực ngân sách, cơ sở vật chất và có chính sách thỏa đáng nhằm xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác đối ngoại nhân dân có bản lĩnh chính trị và trình độ ngoại ngữ chuyên sâu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Văn bản luận án chỉ tập trung khảo sát hoạt động đối ngoại nhân dân của các tổ chức chính trị – xã hội nòng cốt trong hệ thống chính trị Việt Nam (VUFO, MTTQ, Phụ nữ, Thanh niên, Công đoàn, Nông dân, Cựu chiến binh); chưa bao quát được toàn diện hoạt động giao lưu đối ngoại của các hội ngành nghề xã hội nhỏ lẻ hoặc hoạt động đối ngoại của từng cá nhân nhân dân.
- Phạm vi nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 2010, chưa bao hàm giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2011) và các văn bản chỉ đạo đối ngoại sau đó.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với đối ngoại nhân dân trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay theo tinh thần Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 và các kỳ Đại hội gần đây.
- Khai thác sâu hơn hoạt động đối ngoại nhân dân trong từng chuyên đề hẹp, như đối ngoại tôn giáo, ngoại giao nhân dân trong giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo, hoặc việc ứng dụng công nghệ thông tin và mạng xã hội trong hoạt động đối ngoại nhân dân đương đại.
Giá trị tham khảo
Bản luận án mang lại nhiều giá trị ứng dụng cụ thể:
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các học phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử ngoại giao Việt Nam và Quan hệ quốc tế.
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và cán bộ làm công tác đối ngoại: Cung cấp tư liệu thực tế có giá trị cho cán bộ chuyên trách tại Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan đối ngoại của các đoàn thể chính trị – xã hội trong việc xây dựng chương trình hành động, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa ba kênh đối ngoại.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống tư liệu chỉ đạo của Đảng (Chỉ thị 44-CT/TW năm 1994, Chỉ thị 28-CT/TW năm 2008) tại Chương 2, Chương 3 và 4 bài học kinh nghiệm được đúc kết có tính thực tiễn cao tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "thế kiềng ba chân" của nền ngoại giao Việt Nam trong luận án được hiểu như thế nào?
Trong luận án, tác giả nêu rõ "thế kiềng ba chân" của nền ngoại giao Việt Nam là sự kết hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa ba lực lượng cấu thành: đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Trong đó, đối ngoại nhân dân không bị hạn chế bởi các nghi thức lễ tân ngoại giao nhà nước, có lực lượng tham gia đông đảo, cơ sở sâu rộng và phương thức hoạt động linh hoạt, tạo thành sức mạnh tổng thể cho mặt trận đối ngoại quốc gia.
2. Cơ sở nào để tác giả lựa chọn năm 2001 làm mốc phân chia giai đoạn nghiên cứu của luận án?
Năm 2001 được chọn làm mốc phân kỳ vì đây là năm bản lề diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng. Năm 2001 ghi nhận bước phát triển mới trong đường lối đối ngoại của Việt Nam với chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới đối ngoại đề ra từ Cương lĩnh năm 1991, đồng thời mở ra một thập niên mới với nhiều chuyển biến sâu sắc của tình hình quốc tế và trong nước tác động đến công tác đối ngoại nhân dân.
3. Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/9/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng có vai trò như thế nào đối với hoạt động đối ngoại nhân dân?
Chỉ thị số 44-CT/TW "Về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân" là văn bản chỉ đạo chuyên đề đầu tiên của Đảng về công tác này trong thời kỳ đổi mới. Chỉ thị có ý nghĩa bước ngoặt khi chính thức khẳng định đối ngoại nhân dân là một bộ phận cấu thành của công tác đối ngoại chung của đất nước, kiểm điểm những kết quả đã đạt được và định hướng toàn diện việc mở rộng mạng lưới bạn bè quốc tế, đổi mới phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân nhằm phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
4. Sự khác biệt cơ bản giữa "Đối ngoại nhân dân" (P2P) và "Ngoại giao công chúng" (PD) được tác giả luận án chỉ ra là gì?
Theo tác giả, ngoại giao công chúng (Public Diplomacy – G2P) là chính sách do chính phủ các nước (phổ biến ở phương Tây) tiến hành nhằm định hướng nhận thức của công chúng trong và ngoài nước để phục vụ mục tiêu chính trị của chính quyền. Trong khi đó, đối ngoại nhân dân (P2P – People to People relations) ở Việt Nam là mối quan hệ hữu nghị, hợp tác do chính các tổ chức chính trị – xã hội, hội nghề nghiệp và các tầng lớp nhân dân trực tiếp tiến hành với nhân dân các nước, được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
5. Luận án đúc kết những bài học kinh nghiệm lớn nào từ sự lãnh đạo của Đảng đối với đối ngoại nhân dân giai đoạn 1991–2010?
Chương 4 của luận án đúc kết 4 bài học kinh nghiệm:
- Một là: Xuất phát từ thực tiễn, nhận thức đúng tình hình thế giới và trong nước, kịp thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng;
- Hai là: Quán triệt sâu sắc chủ trương và nguyên tắc đối ngoại của Đảng, bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực, tự cường;
- Ba là: Đa dạng hóa, đa phương hóa các hoạt động đối ngoại nhân dân, đồng thời xác định trọng tâm, chú trọng tính hiệu quả và chiều sâu;
- Bốn là: Coi trọng công tác nghiên cứu, dự báo tình hình và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác đối ngoại nhân dân.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thúy Hà là một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phản ánh một cách hệ thống và khách quan sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động đối ngoại nhân dân trong hai thập niên 1991–2010. Dựa trên nguồn tư liệu phong phú từ các cơ quan lưu trữ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị – xã hội nòng cốt, tác giả đã làm rõ quá trình đổi mới tư duy, cơ chế chỉ đạo và những thành tựu nổi bật trên các mặt chính trị, kinh tế và văn hóa. Công trình không chỉ khẳng định vị trí cấu thành của đối ngoại nhân dân trong nền ngoại giao hiện đại mà còn đúc kết 4 bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn thiết thực cho công tác đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.