Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ 1975 đến 2000

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu ussh đảng cộng sản việt nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ 1975 đến 2000, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

159
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.6. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG (TỪ 1975 ĐẾN 1986)

1.1. Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước

1.2. Những hoạt động giáo dục phổ thông bước đầu của nước Việt Nam thống nhất

1.3. Tiến hành cải cách giáo dục lần thứ ba

1.4. Sơ lược hai cuộc cải cách giáo dục sau cách mạng tháng Tám năm 1945

1.5. Quá trình thực hiện cải cách giáo dục phổ thông

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG (TỪ 1986 ĐẾN 2000)

2.1. Đường lối đổi mới giáo dục phổ thông của Đảng

2.2. Đổi mới tư duy giáo dục phổ thông

2.3. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo (1/1993)

2.4. Quá trình thực hiện đường lối đổi mới giáo dục phổ thông trong những năm 1986 - 1996

2.5. Ngành giáo dục phổ thông triển khai thực hiện đường lối đổi mới của Đảng

2.6. Một số kết quả của giáo dục phổ thông giai đoạn 1986 - 1996

2.7. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (12/1996)

2.8. Giáo dục phổ thông Việt Nam trong những năm 1996 - 2000

3. CHƯƠNG 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐÃ ĐẶT RA

3.1. Một vài nhận xét về thành tựu

3.2. Bài học kinh nghiệm

3.3. Những vấn đề đã đặt ra

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giáo dục phổ thông 1975 2000

Giai đoạn từ 1975 đến 2000 là thời kỳ quan trọng trong sự nghiệp giáo dục phổ thông của Việt Nam. Sau khi đất nước thống nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định giáo dục phổ thông là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm xây dựng con người mới, phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước. Đảng đã đưa ra nhiều chính sách và chủ trương nhằm cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.

1.1. Vai trò của Đảng trong sự nghiệp giáo dục phổ thông

Đảng Cộng sản Việt Nam đã đóng vai trò quyết định trong việc định hướng và lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông. Các nghị quyết và chỉ thị của Đảng đã tạo ra khung pháp lý và chính sách cho sự phát triển giáo dục, từ đó hình thành nên một hệ thống giáo dục phù hợp với yêu cầu của xã hội.

1.2. Những thành tựu nổi bật trong giáo dục phổ thông giai đoạn này

Trong giai đoạn 1975-2000, giáo dục phổ thông Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Số lượng học sinh tăng lên đáng kể, chương trình giáo dục được cải cách, và nhiều trường học mới được xây dựng, góp phần nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.

II. Những thách thức trong lãnh đạo giáo dục phổ thông 1975 2000

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giáo dục phổ thông cũng gặp phải không ít thách thức. Các vấn đề như chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất, và sự bất cập trong chương trình học vẫn còn tồn tại.

2.1. Vấn đề chất lượng giáo dục phổ thông

Chất lượng giáo dục phổ thông trong giai đoạn này chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội. Nhiều học sinh tốt nghiệp không đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết để tham gia vào thị trường lao động.

2.2. Cơ sở vật chất và nguồn lực giáo dục

Cơ sở vật chất của nhiều trường học còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và học tập. Đầu tư cho giáo dục chưa được chú trọng đúng mức, dẫn đến tình trạng thiếu giáo viên và trang thiết bị.

III. Phương pháp cải cách giáo dục phổ thông của Đảng 1975 2000

Để khắc phục những thách thức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã triển khai nhiều phương pháp cải cách giáo dục. Các chính sách này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.

3.1. Cải cách chương trình giáo dục phổ thông

Chương trình giáo dục phổ thông đã được cải cách để phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của xã hội. Đảng đã chỉ đạo xây dựng chương trình học tập tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và tư duy độc lập của học sinh.

3.2. Đổi mới phương pháp giảng dạy

Đảng đã khuyến khích việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, chú trọng đến việc phát triển kỹ năng thực hành và tư duy phản biện cho học sinh, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong giáo dục phổ thông

Các chính sách và phương pháp cải cách giáo dục đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của giáo dục phổ thông.

4.1. Kết quả đạt được từ các chính sách giáo dục

Nhiều học sinh đã có cơ hội tiếp cận với giáo dục chất lượng hơn, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tăng lên, và nhiều trường học đã được xây dựng mới, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các bài học kinh nghiệm từ giai đoạn này cho thấy tầm quan trọng của việc lắng nghe ý kiến của giáo viên và học sinh trong quá trình cải cách giáo dục, cũng như việc cần thiết phải đầu tư cho cơ sở vật chất và nguồn lực giáo dục.

V. Kết luận và tương lai của giáo dục phổ thông Việt Nam

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giáo dục phổ thông từ 1975 đến 2000 đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần tiếp tục cải cách và đổi mới giáo dục trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

5.1. Định hướng phát triển giáo dục phổ thông trong tương lai

Đảng cần tiếp tục đưa ra các chính sách phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế.

5.2. Tầm quan trọng của giáo dục trong sự nghiệp xây dựng đất nước

Giáo dục phổ thông không chỉ là nền tảng văn hóa mà còn là sức mạnh tương lai của dân tộc. Đảng cần tiếp tục coi giáo dục là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu năm học là việc tổ chức học tập thư Bác Hồ gửi học sinh nhân ngày khai trường 9/1945 để xác định thái độ, động cơ học tập mới, rèn luyện đạo đức người học sinh dưới chế độ mới. Ngay năm học đầu, các trường phổ thông ở miền Nam đã chuyển sang hệ thống giáo dục mới. Trường phổ thông mới gồm 12 năm chia làm 3 cấp: cấp I (5 năm) gắn 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với trường cấp II (4 năm), cấp III tức trường phổ thông trung học có phân khoa (3 năm). Nội dung giáo dục đổi mới, tiến bộ cả về tư tưởng chính trị lẫn mặt khoa học.

Bộ Giáo dục đã kịp thời ban hành chương trình mới, biên soạn và in 20 triệu bản sách giáo khoa cấp I, cấp II, cấp III gửi vào miền Nam thay cho sách cũ. Hầu hết các giáo viên cũ được tuyển dụng lại. Miền Bắc đã kịp thời cử cán bộ, giáo viên vào Nam bổ sung những nơi thiếu hụt, đặc biệt là đội ngũ quản lý, chỉ đạo giáo dục. Mặt khác, chính quyền mới đã đào tạo cấp tốc một số giáo viên mới.

Mùa hè năm 1975, các giáo viên miền Nam đã được tham dự một lớp học chính trị, nghiệp vụ. Mọi người thảo luận dân chủ về tình hình, nhiệm vụ cách mạng, ý nghĩa chiến thắng đế quốc Mĩ và tay sai, nghiên cứu về chương trình, tính chất của nền giáo dục mới. Nhờ vậy, các giáo viên đã nhận thức rõ ràng hơn, phấn khởi bắt tay vào khôi phục nhanh chóng các sinh hoạt của nhà trường. Cơ cấu thành phần xã hội của học sinh được cải tiến một bước.

Trường học được phân bổ đều hơn, bố trí ở các vùng đông dân lao động, ở nông thôn, ở vùng dân tộc ít người, các khu kinh tế mới. Trường học vùng giải phóng cũ được củng cố và mở rộng thêm. Con em nhân dân lao động, các gia đình cách mạng, liệt sĩ được ưu tiên nhận vào học. Trong chế độ cũ có tới 2.500 trường tư thục, một nửa là tôn giáo, nay là “công lập hóa” một số lớp trường, tách nhà trường khỏi ảnh hưởng của tôn giáo và chủ trương đưa dần toàn bộ trường tư vào sự quản lý của Nhà nước.

Các giáo viên trường tư sẽ được Nhà nước xem xét và tuyển dụng. Học sinh các trường phổ thông đều được miễn học phí. Ngày 19/1/1976, Thủ tướng ra quyết định số 41/TTg về việc ngân sách Nhà nước đảm nhiệm in sách giáo khoa phát không cho toàn thể học sinh ở các cấp học, từ mẫu giáo đến cấp III. Đó là một sự cố gắng lớn của Đảng và Chính phủ.

Nhiều nơi đã có sáng kiến lập tủ sách dùng chung cho nhà trường, tổ chức cho học sinh mượn và bảo quản tốt. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tháng 4/1976 Tổng tuyển cử thống nhất nước nhà tiến hành thắng lợi, bầu ra Quốc hội khóa VI của nước Việt Nam. Đến tháng 12/1976, Đại hội Đảng lần thứ IV đã vạch ra con đường cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn nước ta đã độc lập và thống nhất. Vấn đề xây dựng con người mới, Đại hội chỉ rõ những đặc trưng cần phải bồi dưỡng là “làm chủ tập thể, lao động, yêu nước xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế vô sản”.

Để xây dựng con người mới, giáo dục phổ thông phải là “nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất trọng yếu cho sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Vì vậy, nhiệm vụ của giáo dục trong giai đoạn cách mạng mới là phải “đào tạo có chất lượng tốt những người lao động mới” và thực hiện tốt nguyên lý, phương châm giáo dục của Đảng. Những năm đã qua, giáo dục tuy đã thu hút được những thành tựu to lớn, song cũng còn nhiều mặt yếu kém, thiếu sót. Thực trạng của giáo dục trong thời kỳ mới không đủ đáp ứng những yêu cầu của cách mạng.

Bởi vậy, Đại hội IV đã quyết định phải “tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, làm cho hệ thống giáo dục quốc dân gắn chặt hơn nữa với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Tháng 4/1977, hội nghị tổng kết 5 năm thi đua “Hai tốt” theo gương các điển hình tiên tiến được tổ chức (1971 - 1976). Sau 5 năm phấn đấu, nhiều đơn vị tiên tiến xuất hiện. Số trường vừa học vừa làm lên tới 47 trường phân bố trên khắp các địa bàn đất nước.

Nhiều hình thức học tập và lao động phong phú, thích hợp với từng vùng kinh tế khác nhau. Qua những bài học kinh nghiệm phong phú của các đơn vị mới và cũ, hội nghị một lần nữa khẳng định, đánh giá cao những đóng góp của phong trào, đặc biệt là bài học về tinh thần cách mạng tiến công, tự mình khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, sáng tạo và kiên trì thực hiện mục tiêu, nguyên lý của Đảng về giáo dục. Hội nghị đã nhất trí cao là cần thiết tiếp tục phát động phong trào thi đua “Hai tốt” theo gương các trường 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học tiên tiến. Phát huy kết quả hội nghị, năm học 1977 - 1978 đã diễn ra một khí thế “đồng khởi thi đua” sôi nổi.

Năm 1976 toàn miền Nam có hơn 3 triệu người mù chữ trong đó có 1,5 triệu trong độ tuổi 12 đến 50. Nhưng đến ngày 28/2/1978, toàn miền Nam đã cơ bản hoàn thành xóa nạn mù chữ, với “1.670 người đã thoát nạn mù chữ, tỉ lệ người biết chữ trong độ tuổi 12 đến 50 là 94,15%. Trong năm học 1978 - 1979, ở nhiều địa phương như Tiền Giang, Nghĩa Bình, Nghệ Tĩnh, Hải Hưng… phong trào phổ cập cấp I đã diễn ra sôi nổi. Việc phổ cập cấp II cũng có nhiều tiến bộ mới.

Ngày 21/3/1978, quyết định số 63/CP của Hội đồng Chính phủ đã thể chế hóa loại trường phổ thông vừa học vừa làm, quy định một số biện pháp để đảm bảo cho loại trường này có điều kiện phát triển. Ở miền Nam trong 3 năm cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhà trường phổ thông đều có những tiến bộ mọi mặt. Bên cạnh việc dạy và học văn hóa, các trường thành phố đều tham gia phong trào quét sạch tàn dư văn hóa phản động, cải tạo tư sản thương nghiệp. Các trường nông thôn tham gia phong trào bổ túc văn hóa, phong trào làm thủy lợi.

Ngày 16/6/1978, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị số 47-CT/TW hướng dẫn công tác giáo dục miền Nam trong 3 năm 1978 - 1980, đề ra kế hoạch phát triển giáo dục tích cực và vững chắc về bổ túc văn hóa, mầm non và phổ thông. Về kiến thức văn hóa, điều đáng lưu ý là có nhiều học sinh giỏi xuất hiện. Trong kỳ thi toán quốc tế năm 1979, đoàn học sinh Việt Nam có 4 em thì cả 4 em đều đoạt giải: 1 giải nhất và 3 giải nhì. Tuy vậy, nhìn chung cả nước, chất lượng giáo dục toàn diện còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội của một nước Việt Nam thống nhất.

TIẾN HÀNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC LẦN THỨ BA. SƠ LƢỢC HAI CUỘC CẢI CÁCH GIÁO DỤC SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới của đất nước. Ngày 3/9/1945 trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vai trò của giáo dục phục vụ sự phục hưng của một nước mới giành được độc lập: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Cùng ngày đó, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ”, coi nạn thất học là một thứ giặc nguy hiểm như giặc ngoại xâm và nạn đói, và đề ra nhiệm vụ nâng cao dân trí là một nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ. Vừa tiến hành chiến dịch chống nạn mù chữ, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp tục phát triển đại học và trung học, chủ trương cải cách nền giáo dục thành nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân hữu ích cho đất nước, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực vốn có của học sinh. Chính phủ chủ trương xây dựng một nền giáo dục nhân dân, dân chủ, phụng sự sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một nền giáo dục tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng.

Từ sau cách mạng tháng Tám đến năm 1975, trên đất nước ta đã trải qua 2 cuộc cải cách giáo dục: - Cải cách giáo dục năm 1950. - Cải cách giáo dục năm 1956. Cuộc cải cách giáo dục năm 1950: Ngay từ tháng 10/1945 Chính phủ đã thành lập Hội đồng cố vấn học chính để nghiên cứu một chương trình cải cách giáo dục. Nhưng vì từ tháng 9/1945 ở miền Nam và từ tháng 12/1946 ở cả miền Bắc, nhân dân ta phải tiến hành cuộc chiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp (cuộc chiến tranh này kết thúc bằng thắng lợi của Việt Nam tại chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 5/1954), nên đến tháng 7/1950 Hội đồng Chính phủ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới thông qua đề án cải cách giáo dục và quyết định bắt đầu thực hiện cuộc cải cách này.

Theo đề án cải cách này nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được chính thức tuyên bố là nền giáo dục của dân, do dân, vì dân; được xây dựng theo nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng. Mục tiêu đào tạo: giáo dục thế hệ trẻ thành những người công dân trung thành với Tổ quốc, có năng lực và phẩm chất phục vụ đất nước. Phương châm giáo dục: học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn. Về nội dung giáo dục phổ thông tập trung vào một số môn như tiếng Việt, Văn, Toán, Lí, Hóa, Sinh; có các môn học mới: thời sự - chính sách, giáo dục công dân, tăng gia sản xuất; không học các môn: ngoại ngữ, nhạc, vẽ, nữ công gia chánh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ