Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ( 2010 - 2015) 1. Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo vệ môi trường 1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo vệ môi trường * Tình hình thế giới, trong nước Tình hình thế giới và khu vực: Một là, hòa bình, hợp tác, phát triển và toàn cầu hóa vẫn là xu thế lớn; cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học, công nghệ. Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XI của Đảng (01/2011) nhận định: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn,…Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ” [25, tr.
Xu thế lớn đó giúp Việt Nam được tiếp cận với khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại, “xanh” và “thân thiện” với môi trường; nhưng mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường cũng tạo ra sức ép không nhỏ đối với Việt Nam. Điều này đòi hỏi Đảng ta phải có quan điểm đúng đắn, luôn coi bảo vệ môi trường là một trong những trụ cột của chiến lược phát triển bền vững đất nước. Hai là, các quốc gia đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường trong chiến lược phát triển bền vững. Sau những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, với các biện pháp quyết liệt, kinh tế nhiều nước đã từng bước vực dậy.
Thước đo của sự phục hồi đó, ngoài tăng trưởng kinh tế, nó còn được xem xét ở khía cạnh bảo vệ môi trường theo các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Theo đó, sau cuộc đại khủng hoảng này, bảo vệ môi trường trên thế giới tiếp tục được chính phủ các nước quan tâm nhiều hơn. Vấn đề trên đặt ra yêu cầu Đảng, Nhà nước ta không thể để vấn đề môi trường “đi sau” kinh tế. 15 Ba là, Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực quan trọng, năng động nhưng tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn.
Sự phát triển ở khu vực này sau cuộc khủng hoảng năm 2008 đã góp phần cải thiện các dịch vụ thiết yếu cho người dân; nhưng đây vẫn là khu vực “còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định” [25, tr.28], trong đó vấn nạn chất thải vi nhựa, nhựa biển là vấn đề mới nổi. Ở khu vực Đông Nam Á, vai trò trung tâm kết nối của ASEAN trong các thiết chế khu vực tiếp tục được khẳng định nhưng còn nhiều thách thức, trong đó có vấn đề ô nhiễm môi trường do tốc độ đô thị hóa và phát triển công nghiệp quá nóng của các nước. Để giải quyết vấn môi trường nói trên, ASEAN đã có nhiều nỗ lực trong nội khối và liên kết quốc tế. Trong nỗ lực chung ấy, Việt Nam phải khẳng định mình là thành viên tích cực và có trách nhiệm lớn đối với môi trường của khu vực.
Tình hình trong nước: Một là, công cuộc đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Sau 25 năm đổi mới (1986 - 2011), 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển KT - XH (2001 - 2010), “đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng” [25, tr. Thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo tiền đề quan trọng để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH; đồng thời, chú trọng hơn đến vấn đề môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước. Hai là, thực tiễn bảo vệ môi trường đã được Đảng, Nhà nước, toàn xã hội quan tâm và đạt được một số kết quả tích cực.
Sau một thời gian triển khai thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW (11/2004) của Bộ Chính trị, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng (2006); các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện, bước đầu đáp ứng được nhu cầu thực tiễn; “Nhận thức về bảo vệ môi trường được nâng lên. Việc phòng ngừa, khắc phục suy thoái, ô nhiễm môi trường được quan tâm và đạt được một số kết quả tích cực” [25, tr. 16 Ba là, một số khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đã tác động không nhỏ đến vấn đề bảo vệ môi trường của đất nước. Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta cũng cho rằng: “những thành tựu đạt được là chưa tương xứng với tiềm năng.
Kinh tế phát triển chưa bền vững” [25, tr. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục; tình hình CT - XH đang tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định. Theo đó, những hạn chế nói trên đã tác động không nhỏ đến vấn đề bảo vệ môi trường của đất nước, hệ quả là tình trạng môi trường ở nhiều nơi tiếp tục bị xuống cấp, một số nơi đã đến mức báo động. Bối cảnh thế giới và trong nước nêu trên đã tạo cho Việt Nam và các địa phương trên cả nước, trong đó có tỉnh Bắc Ninh nói riêng nhiều thuận lợi và cơ hội to lớn, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức gay gắt trong quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường.
* Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường Chủ trương của Đảng về bảo vệ môi trường: Phương hướng Để bảo vệ môi trường thật sự chuyển biến về cả nhận thức và hành động, văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng (01/2011) xác định: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo và ứng phó với sự biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên.
Tăng cường quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia [25, tr. 17 Phương hướng về bảo vệ môi trường nêu trên của Đảng ta là những định hướng lớn, đó là căn cứ để Đảng tiếp tục đề ra các mục tiêu bảo vệ môi trường phù hợp với các mục tiêu chung trong Chiến lược phát triển KT - XH của đất nước. Mục tiêu Từ phương hướng bảo vệ môi trường nêu trên, Chiến lược phát triển KT - XH (2011 - 2020) trình Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu lên một số mục tiêu chủ yếu về môi trường cần đạt được, đó là: “Cải thiện chất lượng môi trường. Đến năm 2020, tỉ lệ che phủ rừng đạt 45%” [25, tr.
Tuy nhiên, Đảng tiếp tục cụ thể hóa mục tiêu che phủ rừng cho giai đoạn 2011 - 2015 là “Tỉ lệ che phủ rừng năm 2015 đạt 42 - 43%” [25, tr.191]; đồng thời xác định: Hầu hết dân cư thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh. Các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung, 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn. Cải thiện và phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm nặng.
Hạn chế tác hại của thiên tai; chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng [25, tr. Các mục tiêu về cải thiện độ che phủ rừng; sử dụng nước sạch của người dân; các cơ sở sản xuất kinh doanh, khu, cụm công nghiệp đạt tiêu chuẩn môi trường; mức độ xử lý chất thải cùng việc ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng được đề ra là phù hợp với mục tiêu chung phát triển KT - XH và xuất phát từ chính thực trạng môi trường của đất nước trước khi diễn ra Đại hội Đảng lần thứ XI. Để cụ thể hóa những mục tiêu đã đề ra, Đảng yêu cầu cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp cơ bản. 18 Nhiệm vụ và giải pháp Một là, đổi mới công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động bảo vệ môi trường.
Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội” [25, tr. Nghị quyết 24-NQ/TW, Hội nghị lần thứ Bảy BCHTW Đảng khóa XI tiếp tục nhấn mạnh: “tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động bảo vệ môi trường là giải pháp quan trọng hàng đầu” [26, tr. Theo đó, cần đa dạng hóa hình thức, đổi mới nội dung và xác định rõ các đối tượng ưu tiên để tuyên truyền, giáo dục; đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình đào tạo các cấp học, đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tăng cường dư luận xã hội lên án các hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Xây dựng tiêu chí về bảo vệ môi trường trong hoạt động của cơ quan, doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên; hình thành các thiết chế văn hóa, đạo đức môi trường trong xã hội; thực hiện đánh giá, phân hạng về môi trường đối với các ngành và địa phương. Hai là, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường. “Chú trọng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường, thực hiện nghiêm ngặt lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường” [25, tr. Theo đó, phải sửa đổi, bổ sung các chế tài hành chính, kinh tế, hình sự về bảo vệ môi trường.
Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật. Nghiên cứu kiện toàn tổ chức bộ máy, hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực; “xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, khắc phục triệt để tình trạng phân tán, chồng chéo trong quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” [26, tr. Thực hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn hiệu quả nạn phá rừng; tăng cường diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên.