Lãnh đạo công tác thanh niên tỉnh Yên Bái từ năm 2000 đến năm 2014

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ tỉnh yên bái lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2000 đến năm 2014 yen bai provincial, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

98
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp khoa học của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Những cơ sở để xác định chủ trương

1.1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái

1.2. Khái quát phong trào thanh niên Yên Bái trước năm 2000

1.3. Quan điểm của Đảng về công tác thanh niên từ năm 2000 đến năm 2005

1.4. Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2000 đến năm 2005

1.4.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về công tác thanh niên từ năm 2000 đến năm 2005

1.4.2. Quá trình chỉ đạo và những kết quả đạt được trong công tác thanh niên từ năm 2000 đến năm 2005

1.4.2.1. Quá trình chỉ đạo
1.4.2.2. Kết quả đạt được

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THANH NIÊN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014

2.1. Quan điểm của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về công tác thanh niên từ năm 2006 đến năm 2014

2.1.1. Quan điểm của Đảng về công tác thanh niên

2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về công tác thanh niên từ năm 2006 đến năm 2014

2.2. Quá trình chỉ đạo và những kết quả đạt được trong công tác thanh niên từ năm 2006 đến năm 2014

2.2.1. Quá trình chỉ đạo

2.2.2. Kết quả đạt được

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Bài học kinh nghiệm

3.3. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC BẢNG PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo công tác thanh niên tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 2014

Giai đoạn 2000-2014 là thời kỳ quan trọng trong công tác thanh niên tại tỉnh Yên Bái. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, công tác thanh niên đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Các chính sách thanh niên được triển khai đồng bộ, tạo điều kiện cho thanh niên phát huy vai trò của mình trong xã hội.

1.1. Đặc điểm tình hình thanh niên tỉnh Yên Bái trước năm 2000

Trước năm 2000, thanh niên Yên Bái đối mặt với nhiều thách thức như thiếu cơ hội việc làm, thiếu thông tin và kỹ năng. Tuy nhiên, họ cũng thể hiện tinh thần xung kích, sáng tạo trong các phong trào thanh niên.

1.2. Vai trò của Đảng bộ tỉnh trong công tác thanh niên

Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã xác định công tác thanh niên là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Các nghị quyết, chỉ thị được ban hành nhằm định hướng phát triển thanh niên, tạo điều kiện cho họ tham gia vào các hoạt động xã hội.

II. Những thách thức trong công tác thanh niên tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 2014

Mặc dù có nhiều thành tựu, công tác thanh niên tại Yên Bái vẫn gặp phải không ít thách thức. Các vấn đề như việc làm, giáo dục và đào tạo nghề cho thanh niên vẫn còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, sự phân hóa giữa các vùng miền trong tỉnh cũng tạo ra những khó khăn trong việc triển khai các chính sách thanh niên.

2.1. Vấn đề việc làm cho thanh niên

Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm cho thanh niên là một trong những vấn đề lớn. Nhiều thanh niên sau khi tốt nghiệp không tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn.

2.2. Thiếu hụt kỹ năng và đào tạo nghề

Nhiều thanh niên chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng cần thiết cho thị trường lao động. Việc đào tạo nghề chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

III. Phương pháp lãnh đạo công tác thanh niên tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 2014

Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo hiệu quả trong công tác thanh niên. Các chương trình, dự án được triển khai nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của thanh niên trong việc xây dựng quê hương.

3.1. Chương trình phát triển thanh niên

Các chương trình phát triển thanh niên được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của địa phương, nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho thanh niên phát triển.

3.2. Tăng cường sự tham gia của thanh niên

Đảng bộ tỉnh khuyến khích thanh niên tham gia vào các hoạt động xã hội, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm và khả năng lãnh đạo của họ.

IV. Kết quả đạt được trong công tác thanh niên tỉnh Yên Bái giai đoạn 2000 2014

Công tác thanh niên tại Yên Bái đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Sự tham gia của thanh niên vào các hoạt động xã hội, kinh tế đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững cho tỉnh.

4.1. Thành tựu trong giáo dục và đào tạo

Nhiều thanh niên đã được đào tạo nghề và có việc làm ổn định, góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh.

4.2. Sự phát triển của phong trào thanh niên

Phong trào thanh niên tại Yên Bái ngày càng phát triển mạnh mẽ, với nhiều hoạt động thiết thực, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của thanh niên.

V. Kết luận và hướng phát triển công tác thanh niên tỉnh Yên Bái trong tương lai

Công tác thanh niên tại Yên Bái cần tiếp tục được củng cố và phát triển. Đảng bộ tỉnh cần có những chính sách phù hợp để hỗ trợ thanh niên, đồng thời khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động xã hội, góp phần xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

5.1. Định hướng phát triển công tác thanh niên

Cần xây dựng các chương trình, dự án cụ thể nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho thanh niên, tạo điều kiện cho họ phát triển toàn diện.

5.2. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp

Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong công tác thanh niên là rất cần thiết để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc triển khai các chính sách.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái đối với công tác thanh niên từ năm 2000 đến năm 2005 Chương 2: Đảng bộ tỉnh Yên Bái tăng cường lãnh đạo công tác thanh niên từ năm 2006 đến năm 2014 Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI VỀ CÔNG TÁC THANH NIÊN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Những cơ sở để xác định chủ trƣơng 1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái - Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội Yên Bái trước khi trở thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh là một địa bàn nằm trong tỉnh Hưng Hóa – một tỉnh lớn về diện tích, trải rộng khắp vùng trung du và thượng du Bắc Kỳ (khu vực Tây Bắc). Ngày 11 tháng 4 năm 1900 tỉnh Yên Bái được thành lập có địa giới hành chính gồm có Phủ Trấn Yên, Châu Văn Chấn, Văn Bàn và thị xã Yên Bái. Ngày 27 tháng 12 năm 1975 tỉnh Hoàng Liên Sơn được ra đời trên cơ sở sáp nhập các tỉnh Lào Cai, Yên Bái và các huyện Mù Căng Chải, Văn Chấn, Trạm Tấu, Than Uyên của tỉnh Nghĩa Lộ (riêng 2 huyện Bắc Yên và Phù Yên nhập vào tỉnh Sơn La).

Khi hợp nhất, tỉnh Hoàng Liên Sơn có 4 thị xã: thị xã Yên Bái (tỉnh lị), Cam Đường, Lào Cai, Nghĩa Lộ và 16 huyện: Bắc Hà, Bảo Thắng, Bảo Yên, Bát Xát, Lục Yên, Mù Cang Chải, Mường Khương, Sa Pa, Si Ma Cai, Than Uyên, Trạm Tấu, Trấn Yên, Văn Bàn, Văn Chấn, Văn Yên, Yên Bình. Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn để tái lập tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái. Yên Bái có phạm vi giới hạn ở toạ độ địa lý từ 21024’ - 22016’ vĩ độ Bắc; 103056’ - 105003’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và phía Tây giáp tỉnh Sơn La.

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Yên Bái là 688.627,64 ha, bằng 2% diện tích tự nhiên của cả nước và bằng 10,4% diện tích vùng Đông Bắc; xếp thứ 8 so với 11 tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc về quy mô đất đai. Hiện nay Yên Bái có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn (157 xã và 23 phường, thị trấn); trong đó có 70 xã vùng cao và 62 xã đặc biệt 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào Mông chiếm trên 80%) nằm trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước… Yên Bái có lợi thế để phát triển ngành nông – lâm sản gắn với vùng nguyên liệu: trồng rừng và chế biến giấy, bột giấy, ván nhân tạo; trồng và chế biến quế, chè, cà phê; trồng và chế biến sắn, hoa quả; nuôi trồng và chế biến thuỷ sản. Với nguồn khoáng sản phong phú, tỉnh có điều kiện thuận lợi trong việc khai thác và chế biến khoáng sản như: đá quý, cao lanh, fenspat, bột cácbonnát canxi, sắt…và sản xuất vật liệu xây dựng: xi măng, gạch, sứ kỹ thuật, sứ dân dụng, đá xẻ ốp lát, đá mỹ thuật và các loại vật liệu xây dựng khác. Yên Bái là một tỉnh miền núi, phong cảnh thiên nhiên đa dạng và đẹp: hang Thẩm Lé (Văn Chấn), động Xuân Long, động Thuỷ Tiên (Yên Bình), hồ Thác Bà, du lịch sinh thái Suối Giàng, cánh đồng Mường Lò; di tích mộ Nguyễn Thái Học, Căng Đồn, Nghĩa Lộ …Tỉnh Yên Bái có nhiều dân tộc thiểu số và mỗi dân tộc mang đậm một bản sắc văn hoá riêng, là điều kiện để kết hợp phát triển du lịch sinh thái.

Với vị trí địa lý là cửa ngõ miền Tây Bắc, lại nằm trên trung điểm của một trong những tuyến hành lang kinh tế chủ lực Trung Quốc – Việt Nam: Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, có hệ thống giao thông tương đối đa dạng đã tạo cho Yên Bái có điều kiện và cơ hội thuận lợi để tăng cường hội nhập và giao lưu kinh tế thương mại, phát triển văn hóa xã hội…không chỉ với các tỉnh trong vùng, các trung tâm kinh tế lớn trong cả nước mà còn cả trong giao lưu kinh tế quốc tế, đặc biệt là với các tỉnh Tây Nam Trung Quốc. Yên Bái có vị trí quan trọng trong chiến lược bảo vệ an ninh quốc phòng đã được khẳng định trong lịch sử đấu tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, Yên Bái đã và đang được xây dựng thành khu vực mạnh về 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế và trở thành khu vực phòng thủ vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Dân cư và các thành phần dân tộc Theo kết quả tổng hợp sơ bộ tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, tổng dân số toàn tỉnh là 752.

Mật độ dân số bình quân năm 2008 là 109 người/km2, tập trung ở một số khu đô thị như thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ và các thị trấn huyện lỵ. Theo số liệu điều tra, trên địa bàn tỉnh Yên Bái có tới 30 dân tộc sinh sống, trong đó có bảy dân tộc có dân số trên 10.000 người, hai dân tộc có từ 2.000 người, ba dân tộc có từ 500 -2. Trong đó, người Kinh chiếm 49,6%, người Tày chiếm 18,58%, người Dao chiếm 10,31%, người H’mông chiếm 8,9% người Thái chiếm 6,7%, người Cao Lan chiếm 1%, còn lại là các dân tộc khác. Vùng thung lũng sông Hồng chiếm 41% dân số toàn tỉnh, trong đó: người Kinh chiếm 43%, người Tày chiếm 33%, người Dao chiếm 10%, người H’mông chiếm 1,3% so với dân số toàn vùng.Vùng thung lũng sông Chảy chiếm 28% dân số toàn tỉnh.

Trong đó, người Kinh chiếm 43%, người Tày chiếm 11%, người Dao chiếm 13%, người Nùng chiếm 7%. so với dân số toàn vùng. Vùng ba huyện phía Tây (Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn) chiếm 31% dân số toàn tỉnh. Trong đó, người Kinh là 33%; người Thái 19,2%, Tày 11,8%, Hmông 24,1%; người Mường 5,2% và người Dao 5,1% so với dân số toàn vùng.

Cộng đồng và các dân tộc trong tỉnh với những truyền thống và bản sắc riêng đã hình thành nên một nền văn hóa rất đa dạng và phong phú, có nhiều nét độc đáo, sâu sắc nhân văn và những truyền thống tập quán trong lao động sản xuất có nhiều bản sắc dân tộc. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Truyền thống văn hóa Sự định cư của đồng bào Kinh trên vùng đất Trung du miền núi không xa cố đô Phong Châu đã mang theo những nét văn hóa đặc sắc của người Việt giao hòa với nét văn hóa riêng của dân tộc thiểu số tạo nên bản sắc văn hóa khác lạ rất đáng quý của dân tộc Kinh Yên Bái, góp phần tôn phong giá trị văn hóa chung của nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái. Người Kinh có mặt ở Yên Bái rất sớm và họ đã cùng với đồng bào các dân tộc thiểu số hòa nhập để cùng mở mang khai phá vùng đất. Gia phả họ Phạm, người Tày ở Trấn Yên và Văn Chấn ghi rõ “cụ Tổ” Phạm Bá Lực quê gốc ở Hải Dương lên Yên Bái tính đến năm 1997 là chín đời.

Đình làng Dọc (xã Việt Hồng) dựng năm 1937 là ngôi đình duy nhất còn lại đến ngày nay thờ ông tổ họ Phạm nói trên. Phong tục tập quán và văn hóa tín ngưỡng của người Kinh Yên Bái không còn giữ được đầy đủ như quê gốc đồng bằng. Một phần do quá trình thuyên chuyển cần có sự đơn giản hóa để phù hợp với môi trường mới, phần khác do điều kiện sinh hoạt ở miền núi không cho phép. Chẳng hạn ngày tết nguyên đán nếu đồng bằng, thành phố thì tổ chức thăm viếng, vui chơi, đi hội, đi lễ; tết thanh minh thì tảo mộ; tết trung thu thì rước đèn, ngày rằm, ngày mồng một thì thắp hương… người Kinh ở thôn quê Yên Bái hạn chế hơn; hoặc lễ hỏi - cưới nơi thành phố thường thể hiện sự sang trọng lịch lãm, ở nông thôn miền xuôi thể hiện chất làng quê vừa lễ tiết vừa thâm cổ.

Còn lễ hỏi cưới của người Kinh miền núi thì dân dã, gọn gàng. Cố nhiên vẫn giữ cái lễ chung của các bước: ngỏ lời, ăn hỏi, cưới xin và đón dâu. Tín ngưỡng truyền thống của đồng bào Kinh là thờ cúng tổ tiên. Truyền thống tín ngưỡng này gần như được đại gia đình các dân tộc Việt Nam tôn trọng, hướng theo.

Người Kinh miền xuôi tôn thờ bốn vị linh thiêng đất nước: Mẫu Thượng Ngàn, Thần núi Tản Viên, Thánh Gióng, Đức thánh Trần Hưng Đạo, thì ở Yên Bái người Kinh một số nơi đặt bài vị thờ bốn vị này (đến 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đông Cuông, đến Thác Bà, đến Bách Lẫm…). Rõ ràng nơi thờ tự các nghi lễ tâm linh của người Kinh ở miền núi gần như không thay đổi so với các vùng quê gốc. Một bộ phận người Kinh miền núi trước đây theo đạo Thiên chúa, đạo Phật, nay chính gia đình, bản thân và con cháu họ có xu hướng thoát đạo, bà con muốn coi đây là sinh hoạt văn hóa tâm linh của con người cầu cho sự sống nhân đức, thuỷ chung, khỏe mạnh, thành đạt hơn. Sinh hoạt văn hóa và nghề truyền thống của người Kinh ở Yên Bái mang tính quần chúng, phổ thông nhiều hơn độ chuyên sâu.

Có lẽ do nguồn gốc lịch sử, Yên Bái là nơi hội tụ người Kinh từ nhiều vùng quê khác nhau qua nhiều thế kỷ nên các loại hình văn hóa như: sàn diễn, âm nhạc, hội họa, làng nghề truyền thống… chưa trở thành món ăn tinh thần đặc sắc.Qua các cuộc khởi nghĩa Cần Vương, khởi nghĩa Yên Bái, các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và công cuộc xây dựng CNXH hiện nay; đồng bào Kinh Yên Bái tiếp tục có những tác phẩm văn học viết tác phẩm văn học truyền miệng được nhân dân thừa nhận, lưu truyền. Đó là niềm tự hào, là giá trị văn hóa đích thực chẳng những của dân tộc Kinh mà còn của cả gia đình các dân tộc Yên Bái. Sống trên mảnh đất Yên Bái, mỗi dân tộc đều sáng tạo nên những bản sắc văn hóa riêng của mình trong nếp ở, nếp ăn, sự giao tiếp, văn học nghệ thuật và tín ngưỡng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ