chương I – những vấn đề lý luận chung của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và công tác dân vận. Các tác phẩm đề cập đến công tác dân vận ở Thành phố Hồ Chí Minh Tác phẩm: “Đề cương bài giảng công tác dân vận” của Ban Dân vận Thành ủy đã giới thiệu một số chuyên đề về công tác dân vận: Công tác dân vận của cấp ủy trong thời kỳ mới; thực hiện dân chủ ở xã, phương, thị trấn; xây dựng nòng cốt chính trị; một số nghiệp vụ, kỹ năng công tác dân vận. Nội dung chuyên đề mang tính thực tiễn đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Nguyễn Lệ Thủy (2009), Công tác dân vận của Đảng bộ quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh (1996 - 2006) thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXHVNV – ĐHQGTP.HCM; Trần Phạm Hiền (2013), Đảng bộ quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện công tác dân vận từ năm 2000 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ, trường ĐHKHXHVNV – ĐHQGTP.
10 Những tài liệu và công trình nghiên cứu trên là những nguồn tài liệu tham khảo có ích đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình. Tuy nhiên, chưa có một bài viết hay công trình nghiên cứu đi sâu làm rõ công tác lãnh đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ Quận 2 giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục đích nghiến cứu Đề tài “Đảng bộ Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện công tác dân vận giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015” nhằm làm rõ quá trình lãnh đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ Quận 2 qua hai nhiệm kỳ của Đảng bộ quận: 2005-2010 và 2010 - 2015; rút ra các bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo; đưa ra các giải pháp góp phần lãnh đạo thực hiện tốt công tác lãnh đạo công tác dân vận trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu Để hoàn thành mục đích trên, đề tài tập trung làm rõ những nhiệm vụ: Thứ nhất, trình bày quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận; Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo thực hiện công tác dân vận trong thời kỳ đổi mới. Thứ hai, làm rõ thực trạng lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 2005 và tập trung trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015. Thứ ba, đánh gia những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quận 2 trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ Quận 2 giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015. Phạm vi nghiên cứu 11 Phạm vi không gian: Đề tài luận văn được xác định là địa bàn Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh theo địa giới hành chính từ khi thành lập (4/1997) đến nay. Phạm vi thời gian: Thời gian được xác định trong đề tài là giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015. Năm 2005 là năm bắt đầu nhiệm kỳ mới của Đảng bộ Quận 2, cũng là năm bắt đầu thực hiện Nghị quyết 23 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX.
Năm 2015 là thời điểm kết thúc nhiệm kỳ thứ 2, đánh dấu chặng đường 10 năm thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ Quận 2. Tuy nhiên, để thấy rõ những vấn đề của quá khứ (cũng là tiền đề của hiện tại), Luận văn cũng đề cập đến thực trạng công tác dân vận ở Quận 2 giai đoạn trước năm 2005. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu 5. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong quá trình thực hiện đề tài sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu. Ngoài ra, để đáp ứng mục đích của luận văn tác giả tiếp cận một số phương pháp liên ngành như: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh. Nguồn tài liệu Trong luận văn tác giả sử dụng một số nguồn tài liệu sau đây: - Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. - Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc từ lần thứ VI đến XII.
- Các văn kiện của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh. - Các văn kiện của Đảng bộ Quận 2, các báo cáo tổng kết của Quận ủy, Ủy ban nhân dân (UBND), Ban Dân vận, các tổ chức chính trị - xã hội ở Quận 2. - Các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan. - Các bài viết trên báo Sài gòn giải phóng – cơ quan của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh… 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ QUẬN 2 LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC DÂN VẬN (2005 -2015) 1.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công tác dân vận Trước V. Lênin, những nhà tư tưởng tiên phong mà tiêu biểu là C.Ănghen đề cập đến vấn đề công tác vận động quần chúng của chính quyền vô sản tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây: Thứ nhất, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Trong những tác phẩm của mình, C.Ăngghen đã chỉ ra cách mạng vô sản muốn giành thắng lợi cần phải biết tranh thủ lực lượng và sức mạnh của quần chúng.
Trong đó, những hạn chế về mặt nhận thức của quần chúng đã đặt ra yêu cầu: “muốn cho quần chúng hiểu rõ là phải làm gì thì cần phải tiến hành một công tác lâu dài và kiên nhẫn” [33, tr. Có thể hiểu “công tác lâu dài và kiên nhẫn” chính là công tác vận động quần chúng. Từ việc xem xét đặc điểm cách mạng là một quá trình lâu dài, khó khăn: “tinh thần cách mạng ấy của quần chúng hầu như luôn luôn và thường rất nhanh chóng nhường chỗ cho sự mệt mỏi hay thậm chí cho sự chuyển sang một hướng trái ngược lại khi mà ảo tưởng đã bị tiêu tan và niềm thất vọng đã nảy sinh” [33, tr.Ăngghen đã xác định đối tượng và mục đích của việc vận động quần chúng “không phải là lôi kéo đây đó những cá nhân hay nhóm hội viên riêng biệt khỏi phe đối lập mà là phải hoạt động trong quần chúng đông đảo chưa tham gia phong trào” [32, tr. Thứ hai, động lực của việc vận động quần chúng là phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích chung của quần chúng nhân dân.
Có như vậy mới tạo ra sự thống nhất trong hành động của quần chúng nhân dân. Nhu cầu và lợi ích giai cấp không gì khác chính là lợi ích kinh tế: “Rõ ràng là trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp chiếm 13 hữu ruộng đất và giai cấp tư sản, cũng như trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, thì trước hết, vấn đề là ở những lợi ích kinh tế - để thỏa mãn những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng làm một phương tiện đơn thuần” [36, tr. Thứ ba, đoàn kết và tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị là phương thức cơ bản của công tác vận động quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.Ăngghen khi bàn về công tác vận động quần chúng đã nêu ra phương thức thực hiện đó là phải đoàn kết và tổ chức quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Tổng kết về giai cấp công nhân mang bản chất quốc tế là cơ sở và nền tảng vô cùng quan trọng để có thể đoàn kết họ thành một lực lượng to lớn trong đấu tranh giai cấp chống tư sản.
Sau này, một loạt các tác phẩm kinh điển mà tiêu biểu là “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” đã đưa ra khẩu hiệu “Những người lao động trên toàn thế giới đoàn kết lại”. Đánh giá về sức mạnh của việc đoàn kết, C.Mác đã từng kết luận“cách mạng phải là đoàn kết” [35, tr. Sự đoàn kết này phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản - đó là một tổ chức chặt chẽ và có đường lối rõ ràng, là điều kiện tiên phong cho mọi sự thắng lợi của cách mạng vô sản:“…giai cấp vô sản trở thành một sức mạnh từ khi nó thành lập một đảng công nhân độc lập, mà với sức mạnh thì người ta phải chú ý đến” [34, tr. Những vấn đề mà C.Ăngghen đặt ra về quần chúng, công tác vận động quần chúng tiếp tục được V.Lênin kế thừa và phát triển trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản.
Quan điểm của V.Lênin về vận động quần chúng xoay quanh những nội dung cơ bản sau đây: Thứ nhất, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.Lênin trong tác phẩm “Chào mừng những người cộng sản Ý, Pháp, Đức” (1919) đã nhấn mạnh:“Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được” [28, tr. Thứ hai, Đảng cộng sản giữa vai trò lãnh đạo quần chúng.Lênin cho rằng 14 không thể có một phong trào vững chắc nếu không có một tổ chức mà cụ thể là Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo. Yêu vầu đặt ra đó là mỗi một đảng phải thường xuyên liên hệ với quần chúng, tiến hành hoạt động trong quần chúng có như thế mới hiểu, giáo dục, giác ngộ được quần chúng và hướng toàn bộ hoạt của quần chúng theo “một đường lối giai cấp tự giác”. Còn nếu đảng đó cắt đứt liên hệ với quần chúng được xem là một trong những “nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất” [26, tr.426, 608] Thứ ba, công tác vận động quần chúng phải xuất phát từ nhu cầu, lợi ích thiết thân của quần chúng.
Trong đó, kinh tế được xem là lợi ích quan trọng nhất. Chính vì thế cần phải quan tâm về lợi ích về kinh tế của đại đa số nhân dân cũng như là từng cá nhân [23, tr. Thứ tư, đoàn kết giai cấp là phương thức quan trọng nhất đưa cách mạng đi đến thành công. Một trong những quan điểm mà V.Lênin trên cơ sở kế thừa những tư tưởng C.