Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh thái bình lãnh đạo chiến tranh du kích trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp 1946 1954

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ tỉnh thái bình lãnh đạo chiến tranh du kích trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2015

128
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

0.6. Đóng góp của Luận văn

0.7. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG PHONG TRÀO CHIẾN TRANH DU KÍCH THỜI KỲ ĐẤU KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1950)

1.1. Đôi nét về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội và truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân Thái Bình

1.1.1. Đôi nét về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội

1.1.2. Truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân Thái Bình

1.2. Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo tổ chức xây dựng phong trào chiến tranh du kích, góp phần cùng quân dân Liên khu ngăn chặn âm mưu mở rộng phạm vi chiếm đóng của thực dân Pháp (1946 - 2/1950)

1.2.1. Khái niệm về chiến tranh du kích, khu du kích, căn cứ du kích, làng kháng chiến

1.2.2. Đảng bộ lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức phát động phong trào du kích chiến tranh

1.2.3. Đảng bộ lãnh đạo quân dân địa phương xây dựng, bảo vệ vùng tự do, cùng quân dân Liên khu chiến đấu ngăn chặn âm mưu mở rộng phạm vi chiếm đóng của thực dân Pháp

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANH DU KÍCH TỪNG BƯỚC ĐÁNH BẠI MỌI ÂM MƯU THỦ ĐOẠN CÀN QUÉT, KHỦNG BỐ, BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH, GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG (2/1950 –7/1954)

2.1. Đảng bộ tổ chức phát động chiến tranh du kích đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn càn quét, khủng bố, bình định của địch (2/1950 –1951)

2.1.1. Đảng bộ tổ chức phát động cuộc chiến tranh du kích ngay sau khi Thực dân Pháp đánh chiếm Thái Bình (2/1950)

2.1.2. Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo củng cố, mở rộng các làng kháng chiến, đẩy mạnh chiến tranh du kích, chống âm mưu càn quét bình định của địch (6/1950- 12/1951)

2.1.3. Lãnh đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn, góp phần cùng quân dân cả nước kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến (11/1951–7/1954)

2.2. Tiểu kết chương 2

3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Một số bài học kinh nghiệm

3.2.1. Chiến tranh du kích muốn giành thắng lợi phải kiên trì bám đất, bám dân, bám đánh địch

3.2.2. Chiến tranh du kích phải xây dựng được hậu phương tại chỗ

3.2.3. Chiến tranh du kích cần có sự kết hợp giữa các lực lượng, hình thức và mặt trận đấu tranh. Cần coi việc chống càn quét là một quy luật của chiến tranh du kích, từ đó chủ động đề ra các biện pháp chống càn. Đảng bộ địa phương phải không ngừng củng cố và hoàn thiện về tổ chức và năng lực lãnh đạo

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo chiến tranh du kích của Đảng bộ tỉnh Thái Bình

Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp từ 1946 đến 1954, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã đóng vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo phong trào chiến tranh du kích. Tỉnh Thái Bình, với vị trí địa lý chiến lược, đã trở thành một trong những địa bàn quan trọng trong cuộc kháng chiến. Đảng bộ đã tổ chức phát động phong trào chiến tranh du kích, xây dựng các căn cứ, khu du kích và tổ chức lực lượng vũ trang địa phương để chống lại sự chiếm đóng của thực dân Pháp. Sự lãnh đạo của Đảng bộ đã góp phần quan trọng vào việc duy trì tinh thần kháng chiến và tạo ra những chiến công vang dội trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

1.1. Đặc điểm địa lý và xã hội của Thái Bình trong kháng chiến

Thái Bình nằm ở đồng bằng sông Hồng, với địa hình chủ yếu là đất trồng trọt màu mỡ. Địa lý này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển phong trào kháng chiến. Dân cư nơi đây có truyền thống yêu nước mạnh mẽ, sẵn sàng tham gia vào các hoạt động kháng chiến. Đặc biệt, sự kết hợp giữa địa lý và tinh thần yêu nước đã giúp Đảng bộ tỉnh Thái Bình dễ dàng tổ chức và phát động phong trào chiến tranh du kích.

1.2. Vai trò của Đảng bộ trong việc lãnh đạo chiến tranh du kích

Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã thể hiện vai trò lãnh đạo quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động chiến tranh du kích. Đảng bộ đã xây dựng các kế hoạch chiến lược, phát động phong trào kháng chiến, và tổ chức lực lượng vũ trang địa phương. Sự lãnh đạo này không chỉ giúp duy trì tinh thần kháng chiến mà còn tạo ra những chiến công lớn trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp.

II. Những thách thức trong lãnh đạo chiến tranh du kích tại Thái Bình

Trong quá trình lãnh đạo chiến tranh du kích, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Sự chiếm đóng của thực dân Pháp đã tạo ra nhiều khó khăn cho việc tổ chức và phát động phong trào kháng chiến. Đặc biệt, các âm mưu càn quét, khủng bố của địch đã gây ra nhiều khó khăn cho lực lượng kháng chiến. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo sáng tạo và quyết tâm cao, Đảng bộ đã tìm ra những giải pháp hiệu quả để vượt qua những thách thức này.

2.1. Âm mưu và thủ đoạn của thực dân Pháp

Thực dân Pháp đã áp dụng nhiều âm mưu và thủ đoạn nhằm tiêu diệt phong trào kháng chiến tại Thái Bình. Họ đã thực hiện các chiến dịch càn quét, khủng bố nhằm vào các làng kháng chiến và lực lượng vũ trang địa phương. Những hành động này đã gây ra nhiều khó khăn cho Đảng bộ trong việc tổ chức và duy trì phong trào chiến tranh du kích.

2.2. Khó khăn trong việc tổ chức lực lượng kháng chiến

Việc tổ chức lực lượng kháng chiến tại Thái Bình gặp nhiều khó khăn do sự chiếm đóng của địch. Đảng bộ phải đối mặt với việc thiếu hụt nhân lực, vũ khí và trang thiết bị. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo sáng tạo, Đảng bộ đã tìm ra những phương pháp hiệu quả để tổ chức lực lượng kháng chiến, từ đó duy trì được phong trào chiến tranh du kích.

III. Phương pháp lãnh đạo chiến tranh du kích của Đảng bộ Thái Bình

Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo hiệu quả trong việc tổ chức và phát động phong trào chiến tranh du kích. Các phương pháp này bao gồm việc xây dựng các căn cứ du kích, tổ chức lực lượng vũ trang địa phương, và phát động phong trào kháng chiến rộng khắp. Sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự và chính trị đã giúp Đảng bộ đạt được nhiều thành công trong cuộc kháng chiến.

3.1. Xây dựng căn cứ du kích và khu du kích

Đảng bộ đã chú trọng đến việc xây dựng các căn cứ du kích và khu du kích để làm nơi tập trung lực lượng kháng chiến. Các căn cứ này không chỉ là nơi trú ẩn mà còn là nơi tổ chức các hoạt động kháng chiến, phát động phong trào chiến tranh du kích. Sự xây dựng này đã tạo ra một mạng lưới kháng chiến vững chắc tại Thái Bình.

3.2. Tổ chức lực lượng vũ trang địa phương

Đảng bộ đã tổ chức lực lượng vũ trang địa phương để tham gia vào các hoạt động kháng chiến. Lực lượng này được đào tạo và trang bị để có thể thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu hiệu quả. Sự tổ chức này đã giúp tăng cường sức mạnh cho phong trào chiến tranh du kích tại Thái Bình.

IV. Kết quả và thành tựu của phong trào chiến tranh du kích

Phong trào chiến tranh du kích tại Thái Bình đã đạt được nhiều kết quả và thành tựu quan trọng trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp. Đảng bộ đã lãnh đạo quân dân Thái Bình giành được nhiều chiến công lớn, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến. Những thành tựu này không chỉ thể hiện sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ mà còn khẳng định tinh thần yêu nước của nhân dân Thái Bình.

4.1. Những chiến công nổi bật trong kháng chiến

Trong quá trình kháng chiến, quân dân Thái Bình đã thực hiện nhiều chiến công nổi bật, tiêu biểu là các trận đánh lớn chống lại thực dân Pháp. Những chiến công này không chỉ góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến mà còn nâng cao tinh thần yêu nước của nhân dân.

4.2. Đóng góp của Đảng bộ vào thắng lợi chung

Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sự lãnh đạo sáng tạo và quyết tâm cao của Đảng bộ đã giúp duy trì phong trào chiến tranh du kích, từ đó góp phần vào việc giải phóng quê hương.

V. Kết luận và bài học kinh nghiệm từ lãnh đạo chiến tranh du kích

Kết thúc giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu từ quá trình lãnh đạo chiến tranh du kích. Những bài học này không chỉ có giá trị trong bối cảnh lịch sử mà còn có thể áp dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng bộ là một trong những yếu tố quyết định đến thành công của phong trào kháng chiến.

5.1. Bài học về sự lãnh đạo sáng tạo

Sự lãnh đạo sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã giúp phong trào chiến tranh du kích đạt được nhiều thành công. Bài học này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng linh hoạt các phương pháp lãnh đạo trong từng hoàn cảnh cụ thể.

5.2. Bài học về sự kết hợp giữa quân sự và chính trị

Việc kết hợp giữa đấu tranh quân sự và chính trị đã giúp Đảng bộ tỉnh Thái Bình duy trì được phong trào kháng chiến. Bài học này cho thấy sự cần thiết phải có một chiến lược toàn diện trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào kháng chiến.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh thái bình lãnh đạo chiến tranh du kích trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp 1946 1954

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo xây dựng phong trào chiến tranh du kích thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1950). Chương 2: Đảng bộ lãnh đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích từng bước đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn càn quét, khủng bố, bình định của địch, giải phóng quê hương (2/1950 –7/1954) Chương 3. Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG PHONG TRÀO CHIẾN TRANH DU KÍCH THỜI KỲ ĐẤU KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1950) 1.

Đôi nét về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội và truyền thống yêu nƣớc cách mạng của nhân dân Thái Bình 1.1 Đôi nét về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội Tỉnh Thái Bình nằm ở phía đông nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, có diện tích tự nhiên 1546 km2 (số liệu 2003) được bao bọc bởi 3 dòng sông lớn. Phía Tây và Tây Nam là sông Hồng, giáp hai tỉnh Hà Nam và Nam Định. Phía Bắc là sông Luộc giáp hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương. Phía Đông Bắc là sông Hóa giáp với thành phố Hải Phòng.

Phía Đông là biển cả mênh mông với trên 54km bờ biển trong Vịnh Bắc Bộ. Cùng với 3 dòng sông lớn bao quanh, trên địa bàn còn có 70 dòng sông lớn nhỏ. Thời nước Văn Lang của các vua Hùng, tỉnh Thái Bình ngày nay thuộc bộ Lục Hải. Thời Bắc thuộc thuộc huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ.

Sau khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng ( năm 938) chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, vùng đất Thái Bình hiện nay thuộc Châu Đông. Năm 1005, thời Tiền Lê, Châu Đông được đổi thành phủ Thái Bình. Tên Thái Bình có từ đây. Đến thời Lý, Trần vùng đất Thái Bình hiện nay thuộc các lộ Kiến Xương, Long Hưng, Tiên Hưng.

Phủ Long Hưng có các huyện Ngự Thiên, Duyên Hà, Cổ Lan, Thần Khê. Phủ Kiến Xương có các huyện Bí, Bồng Điền, Kiến Xương, Chân Lợi. Phủ Tiên Hưng có các huyện Thái Bình, A Côi, Đa Dực, Tây Quan. Thời Hậu Lê, theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Thái Bình có 3 phủ, 11 huyện, 525 châu, xã, thôn, trang… Thời Nguyễn vùng đất Thái Bình hiện nay thuộc trấn Sơn Nam Hạ chia làm 3 phủ gồm 11 huyện, 82 tổng, 602 xã, thôn, trang, phường.1890, toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình.

Tính đến ngày 1.1893 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tỉnh Thái Bình có 2 phủ gồm 10 huyện, 79 tổng, 548 xã. Đến năm 1926 Thái bình có 12 phủ huyện gồm 95 tổng, 814 xã và 1 thị xã. Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng tổ chức lại cấp xã. Xã mới thường gồm một số xã cũ (hoặc một số làng) hoặc là một tổng cũ.

Trong kháng chiến chống Pháp, Thái Bình có 1 thị xã và 12 huyện ( Vũ Tiên, Thư Trì, Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Ninh, Thụy Anh, Đông Quan, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Duyên Hà, Hưng Nhân, Tiên Hưng) và 162 xã. Hiện nay, Thái Bình có 1 thành phố và 7 huyện ( Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Thái Thụy) với 7 thị trấn và 286 xã, phường. So với các tỉnh đồng bằng Tả Ngạn sông Hồng, Thái Bình có diện tích tự nhiên tương đối rộng. Sông Hồng đoạn chảy qua Thái Bình dài 80km qua các huyện Hưng Nhân, Thư Trì , Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải rồi đổ ra biển theo cửa Ba Lạt chỗ rộng nhất lên tới 1000m, có nhiều đoạn quanh co gấp khúc bên lở bên bồi, sâu từ 15 đến 30m.

Trong kháng chiến, sông Hồng là tuyến giao thông đường thủy chiến lược đối với việc vận chuyển lương thực, quân số, vũ khí của địch từ ngoài biển vào Nam Định, Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Phía Tây Bắc là sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) bắt nguồn từ Hà Xá (Hưng Nhân) chảy qua huyện Hưng Nhân, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Vĩnh Bảo (Hải Phòng) dài 40km, chỗ rộng nhất 150m, hẹp nhất 70m. Sông Luộc cũng là con đường thủy vô cùng quan trọng. Phía Đông Bắc là sông Hóa dài 60km, bắt nguồn từ Lộng Khê ( Phụ Dực) chạy theo ven huyện Thụy Anh, Phụ Dực ra biển, quãng rộng nhất là 150m, hẹp nhất 70m.

Cả ba con sông này địch đều thiết lập một hệ thống đồn bốt để bảo vệ, gây cho ta nhiều trong bảo quản giao thông liên lạc và tác chiến. Bờ biển Thái Bình dài 54km, có các cửa sông lớn như: cửa Ba Lạt, cửa sông Trà Lý, cửa sông Thái Bình và cửa Lân.8] Ngoài ba con sông lớn bao quanh, nội đia Thái Bình còn có 4 con sông tương đối lớn khác là: Trà Lý, Diêm Hộ, Kiến Giang, Sa Lung. Thái Bình là 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tỉnh duy nhất của miền Bắc không có núi rừng, đất đai màu mỡ, phì nhiêu, nông nghiệp và ngư nghiệp khá phát triển, là 1 trong những vựa lúa lớn của đồng bằng sông Hồng. Do điều kiện tự nhiên là vùng đất được phù sa bồi đắp, bằng phẳng, các cánh đồng phần lớn có nước quanh năm.

Đặc điểm địa hình kể trên khiến cho việc bảo đảm hậu cần, cơ động lực lượng tác chiến của quân dân ta rất khó giữ bí mật,việc phát triển, cất giấu thóc lúa, của cải và đào hầm hào cũng rất khó khăn…Địa hình bằng phẳng còn có lợi thế cho địch đóng cứ điểm, xây lô cốt cao, có thể kiểm soát cả một vùng. Thái Bình còn có hệ thống giao thông đường bộ thuận tiện. Từ Thái Bình theo đường quốc lộ số 10 có thể đi Hải Phòng, Quảng Ninh, cũng theo đường 10 có thể đến Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa vào Khu 4. Đường 39 nối Thái Bình với Hưng Yên, theo đường này có thể xuống Hải Dương, lên Hà Nội và các tỉnh Đông Bắc, Tây Bắc.

Cùng với 2 con đường quan trọng này, Thái Bình còn có một hệ thống đường giao thông liên huyện là đường 216, 217,218,219,220… dài tổng cộng 500km. Hệ thống đường giao thông ngang dọc chia cắt địa bàn Thái Bình thành từng khu vực nhỏ từ 3-7km, tuy thuận tiện cho việc giao thông, có lợi phần nào cho cách đánh du kích, nhưng cũng gây trở ngại cho ta khi địch chiếm đóng chốt giữ những đoạn yết hầu với những phương tiện hiện đại của chúng.7] Nhìn chung, địa hình, đất đai, khí hậu… của Thái Bình đối với hoạt động của con người chứa đựng sẵn hai mặt: thuận lợi, ưu đãi và khó khăn, thách thức. Những thuận lợi tạo ra khả năng cho Thái Bình xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc, đảm bảo yêu cầu thiết yếu cho cuộc sống và chiến đấu. Song những khó khăn lại đòi hỏi cư dân ở đây phải cố kết chặt chẽ, phải biết lợi dụng quy luật tự nhiên, và chiến đấu chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, tạo điều kiện cho ý thức cộng đồng sớm hình thành và phát triển.

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong chiến tranh đây là địa bàn địch có khả năng phát huy ưu thế về phương tiện và vũ khí hiện đại. Thực tế đó đòi hỏi quân dân Thái Bình phải biết lợi dụng và cải biến địa hình địa vật để tổ chức xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phát động chiến tranh du kích để duy trì và phát triển lực lượng, chủ động đánh địch với những hình thức thích hợp. Dân cư Thái Bình có nguồn gốc từ nhiều nơi. Họ tụ cư và hợp cư ở đây bằng lao động, chinh phục và cải tạo tự nhiên.

Sau cách mạng tháng Tám dân số Thái Bình có gần 1 triệu người, mật độ dân số 650 người /km2, xếp hạng thứ 4 của đồng bằng sông Hồng và thứ 5 so với cả nước[66, tr. Vì vậy, Thái Bình được ví như là kho người mà ta và địch đều muốn giành giật. So với các tỉnh khác thuộc châu thổ Bắc Bộ thì Thái Bình có lịch sử hình thành đất đai và cư dân mang tính gối sóng tương đối rõ rệt. Nhiều làng cổ thuộc vùng đất Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Vũ Thư có lịch sử trên dưới 2000 năm.

Tuy nhiên, số làng được khai phá từ thời Trần trở về sau chiếm tỉ lệ cao, những làng coi là mới được xác lập ở Tiền Hải từ cuộc đại khẩn hoang của Nguyễn Công Trứ bắt đầu từ năm 1828 đến nay cũng đã có lịch sử gần 200 năm. Cư dân Thái Bình vốn là sự hội tụ từ các luồng cư dân có gốc từ Sơn Tây, Hà Đông, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Quảng Yên, Hải Dương, Hưng Yên, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Nam, Nam Định,. và có cả một bộ phận theo đường biển từ Bắc xuống, từ Nam ra vốn làm nghề đánh cá về sau định cư trên đất Thái Bình. Họ mang theo những tập quán sản xuất, những truyền thống văn hóa ở nơi ở cũ đến vùng này và nhanh chóng hòa nhập với sự phát triển chung của nền văn hóa bản địa.

Đến nay, ở Thái Bình có 58 dòng họ, cư dân hầu hết là người Kinh. Người dân Thái Bình sống bằng nghề nông là chủ yếu nên làng xã là điểm quần cư của họ. Những xóm làng nhỏ liền nhau được bao bọc bởi những cánh đồng lúa nước mênh mông, có nơi làng nọ áp lưng vào làng kia, hay chỉ cách nhau một con đường hoặc một con sông đào…Trong làng có nhiều ao, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngòi, xen lẫn với những lũy tre, ngăn cách thành từng khu vực nhỏ. Xung quanh làng thường được bao bọc bởi các lũy tre xanh tốt, dày đặc.

Nhiều làng còn được bao quanh bởi những con sông hoặc nằm giữa cánh đồng lầy. Làng xóm ở phía bắc tỉnh thường rải rác nhỏ hẹp khó tổ chức chiến đấu chống địch càn quét, dễ bị địch bao vây chia cắt. Các làng xóm ở phía nam tỉnh rộng lớn hơn, gần kề liên tiếp nhau thuận lợi cho việc xây dựng trận địa liên hoàn và rào làng kháng chiến như những khu : Thần Huống (Thái Ninh), Trại Chè ( Kiến Xương), Quang Thẩm (Vũ Tiên)… Nhìn chung, làng xóm ở Thái Bình thường gọn và tập trung, dễ bị phi pháo của địch phá hoại, nhưng cũng là chướng ngại cho địch, chúng không thể dễ dàng triển khai hành quân theo đội hình cũng như không thể giữ vững cự ly của các mũi tiến quân, hoặc hoạt động của cơ giới khi bị ta phá hoại đường xá. Về phía ta, đây là nơi bộ đội địa phương và dân quân du kích có thể tiến hành chiến tranh du kích rộng khắp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ