Luận văn thạc sĩ: Làng chài Cửa Vạn, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Khám phá làng chài Cửa Vạn, di sản văn hóa độc đáo trên Vịnh Hạ Long. Tìm hiểu về lịch sử hình thành, đời sống kinh tế, xã hội và con người.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Nhân văn

2015

115
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vị Trí Địa Lý và Điều Kiện Tự Nhiên của Làng Chài Cửa Vạn

Làng chài Cửa Vạn nằm trên Vịnh Hạ Long, một trong những di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận. Khu vực này có vị trí chiến l略̀c quan trọng, nằm sát với thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Điều kiện tự nhiên của làng chài Cửa Vạn rất đặc biệt với những vách đá vôi hùng vĩ, nước biển trong xanh và hệ sinh thái phong phú. Cửa Vạn là cửa biển thiên nhiên, tạo điều kiện lý tưởng cho hoạt động đánh cá và giao thương hàng hải. Khí hậu ôn hòa quanh năm, có gió nhẹ, thuận lợi cho cuộc sống của cư dân biển. Địa hình đặc thù này đã tạo nên nét đặc trưng riêng cho văn hóa làng chài Cửa Vạn, khác biệt so với các khu vực khác trong vùng Hạ Long.

1.1. Đặc Điểm Địa Lý của Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là một vùng biển kỳ lạ với hàng nghìn hòn đảo đá vôi chập chùng. Địa hình này tạo ra nhiều vũng cảng tự nhiên an toàn, nơi cư dân làng chài có thể tránh trú và thực hiện hoạt động đánh cá hiệu quả. Cửa Vạn là một trong những điểm giao dịch chính, nơi tập trung lớn cộng đồng cư dân sống bằng biển. Những hòn đảo xung quanh cung cấp nguồn lợi thủy sản phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế biển phát triển bền vững.

1.2. Điều Kiện Khí Hậu và Mùa Vụ Đánh Cá

Thời tiết tại Cửa Vạn có hai mùa chính: mùa gió đông bắc (Đông - Tây nguyên) và mùa gió tây nam. Mùa đánh cá chính kéo dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, khi biển yên tĩnh và gió nhẹ. Điều kiện khí hậu này ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sống và phong tục tập quán của cư dân. Lễ hội và nghi lễ dân gian thường được tổ chức vào những thời điểm đặc biệt liên quan đến vụ đánh cá.

II. Đặc Điểm Cư Dân và Lịch Sử Hình Thành

Cư dân làng chài Cửa Vạn có nguồn gốc lịch sử sâu xa, chủ yếu là những người Kinh di cư từ các vùng khác tìm đến Vịnh Hạ Long để sống bằng biển. Cộng đồng cư dân này đã hình thành từ thế kỷ 18-19 và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử. Họ mang theo văn hóa truyền thống phong phú, gắn liền với biển cả và hoạt động đánh cá. Cửa Vạn không chỉ là một nơi ở, mà còn là trung tâm văn hóa biển nơi tín ngưỡng dân gianphong tục tập quán được gìn giữ qua các thế hệ. Nhân khẩu làng chài Cửa Vạn bao gồm những gia đình có truyền thống đánh cá lâu đời, với kiến thức sâu rộng về môi trường biển.

2.1. Nguồn Gốc Cộng Đồng Cư Dân

Cử dân Cửa Vạn là hậu duệ của các nhà bècộng đồng biển được hình thành cách đây hơn 2 thế kỷ. Họ di cư từ các vùng đồng bằng Bắc Bộ để tìm kiếm cuộc sống tại Vịnh Hạ Long. Lịch sử hình thành của làng chài gắn liền với sự phát triển giao thương và đánh cá trên biển. Qua bao nhiêu thế hệ, cư dân đã tạo nên một cộng đồng đoàn kết với những giá trị văn hóa biển độc đáo và có sức sống mạnh mẽ.

2.2. Quá Trình Hình Thành Làng Chài

Làng chài Cửa Vạn hình thành từ việc tập trung các gia đình đánh cá có chung địa bàn hoạt động. Ban đầu, cư dân sống trên các nhà bè trên biển, sau đó dần dần tạo thành những khu cộng đồng có tính chất lâu dài. Lịch sử phát triển của Cửa Vạn phản ánh quá trình thích ứng của con người với môi trường biển khắc nghiệt, đồng thời duy trì và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống.

III. Nền Tảng Kinh Tế và Quan Hệ Cộng Đồng

Kinh tế của làng chài Cửa Vạn chủ yếu dựa vào đánh cá và các hoạt động liên quan đến biển. Cư dân sở hữu những kỹ năng đánh cá truyền thống được tích lũy qua nhiều thế hệ, từ việc sử dụng lưới, máy bơm đến việc xác định mùa vụ thích hợp. Ngoài đánh cá, cư dân còn tham gia nuôi trồng thủy sản, bán buôn hải sản và du lịch biển. Quan hệ cộng đồng rất chặt chẽ, với những tín ngưỡng dân gian liên quan đến thần linh biển, những lễ hội gắn liền với vụ đánh cá và các nghi lễ truyền thống quan trọng. Cộng đồng cư dân có hệ thống tự quản riêng, những quy tắc không thành文 nhưng rất hiệu lực.

3.1. Kinh Tế Đánh Cá Sinh Kế Chính

Đánh cá là hoạt động kinh tế chính của cư dân Cửa Vạn, với những phương pháp truyền thống kết hợp công nghệ hiện đại. Cư dân sử dụng các loại thuyền, lưới khác nhau tùy theo mùa vụloại cá cần đánh. Kinh nghiệm đi biển được truyền dạy từ cha sang con, tạo nên những kỹ năng đặc thù. Thu nhập từ đánh cá là nguồn sống chính của hầu hết gia đình biển, đó là lý do cộng đồng luôn chú trọng bảo vệ môi trường biển và duy trì các phong tục tập quán liên quan.**

3.1. Hoạt Động Kinh Tế Phụ Trợ

Bên cạnh đánh cá, cư dân Cửa Vạn tham gia nhiều hoạt động kinh tế khác nhau. Nuôi trồng thủy sản trong lồng bè, chế biến hải sản, bán buôn cá tại chợ địa phương và du lịch biển là những hoạt động bổ sung. Phụ nữ thường tham gia chế biến, muối cábán hàng, góp phần quan trọng vào thu nhập gia đình. Những hoạt động này giúp cộng đồng giảm bớt phụ thuộc vào mùa vụ và tăng ổn định kinh tế.

IV. Đời Sống Văn Hóa và Di Sản Truyền Thống

Văn hóa làng chài Cửa Vạn là một di sản văn hóa phong phú, gắn sâu với biển cảsinh hoạt cộng đồng. Phong tục tập quán của cư dân phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường biển khắc nghiệt. Tín ngưỡng dân gian tập trung vào sùng bái các thần linh biển, với thần MẫuÔng Địa Biển là những vị thần quan trọng nhất. Dân ca, ca dao, tục ngữ của cư dân biển chứa đầy những lời khuyên, kinh nghiệm đánh cásinh hoạt biển quý báu. Lễ hội truyền thống như Tết Nguyên Đán, Tết đánh cá hay Lễ hội Mẫu là những dịp quan trọng để cộng đồng tập hợp, bảo tồn và truyền lại giá trị văn hóa cho thế hệ tiếp theo.

4.1. Phong Tục Tập Quán và Tín Ngưỡng Dân Gian

Phong tục tập quán của cư dân Cửa Vạn bao gồm nhiều nghi lễ liên quan đến đánh cácuộc sống biển. Tín ngưỡng dân gian mạnh mẽ, với những lễ vật cầu cung trước vụ đánh cá và những nghi lễ tạ ơn sau mùa vụ bội thu. Cộng đồng có những quy tắc riêng về cách xử lý thuyền, lưới và các công cụ đánh cá, được coi là trang nghiêm và thiêng liêng. Những phong tục này không chỉ có ý nghĩa văn hóa mà còn mang tính thực dụng trong việc bảo vệ an toàn biển và duy trì trật tự cộng đồng.

4.2. Dân Ca Lễ Hội và Giá Trị Di Sản

Dân caca dao tục ngữ của cư dân biển là kho tàng di sản văn hóa bất tàn, chứa những câu chuyện sinh hoạt biển, tình cảm gia đình và những bài học sống chung. Lễ hội truyền thống được tổ chức theo lịch âm, gắn liền với mùa vụ đánh cá và các nghi lễ tôn giáo. Những lễ hội này là những dịp quan trọng để cộng đồng biểu lộ tín ngưỡng, giáo dục giới trẻ về giá trị truyền thống và tạo sự đoàn kết cộng đồng bền vững.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Làng chài Cửa Vạn - Thành phố Hạ Long - Tỉnh Quảng Ninh. Chƣơng 2: Kết cấu kinh tế - xã hội của làng chài Cửa Vạn. Chƣơng 3 : Đời sống văn hóa làng chài Cửa Vạn. Chƣơng 4: Làng chài Cửa Vạn trong quá trình đô thị hóa của thành phố thành phố Hạ Long - Quảng Ninh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 http://www.vn/ NỘI DUNG Chƣơng 1 LÀNG CHÀI CỬA VẠN - THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH 1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, nằm ở Đông Bắc Việt Nam, Vịnh Hạ Long bao gồm thành phố Hạ Long, Vịnh Bái Tử Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Vịnh Hạ Long phía Tây giáp đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng, phía Đông là biển, phần còn lại giáp đất liền với đƣờng biển dài 120km, đƣợc giới hạn từ 105058 – 107022 phút kinh Đông và 20045 phút – 20050 phút vĩ độ Bắc với tổng diện tích 1553km2 bao gồm 1969 hòn đảo trong đó có 989 đảo có tên và 980 đảo chƣa có tên.7] Đảo của Vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam (thuộc vịnh Bái Tử Long) và vùng phía Tây Nam (thuộc vùng vịnh Hạ Long) có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 – 280 triệu năm. Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long bao gồm vùng vịnh Hạ Long và một phần Bái Tử Long [5, tr.12] Vùng di sản thiên nhiên thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, nhƣ một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phần phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam), đảo Cống (phía Đông), vùng kề bên (vùng phụ cận) là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia đƣợc Bộ văn hóa thông tin nay là Bộ văn hóa thể thao và du lịch xếp hạng từ năm 1962.7] Bờ biển ở đây có nhiều bãi bằng và núi đá, các bãi bằng phủ đầy cây sú, vẹt, dọc theo các bãi bằng là các lạch sông suối. Có nhiều dãy núi đá vôi cao từ 80 đến 100 mét, dốc xuống từ 100 đến 200.

Các đảo phía Đông Nam Vịnh Hạ Long đƣợc hình thành do quá trình chuyển đổi CO2 có độ tuổi vào thời kỳ đồ đá. Qua quá trình biến đổi, các đảo đá biến dạng tạo nên cấu trúc tự nhiên, đặc sắc hiếm có, những cảnh quan ngoạn mục nổi tiếng thế giới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 http://www.vn/ Vịnh bị ảnh hƣởng mạnh của thủy triều ngày và đêm mức chênh lệch là 4,6 m, các luồng chảy của Hạ Long đƣợc hình thành từ các dòng chảy của sông, luồng gió thủy triều và các đảo ngầm, nhƣng yếu tố chính tác động là thủy triều. Khi thủy triều xuống theo hƣớng Nam sang Tây Nam.

Phía trong Cửa Lục dòng chảy của thủy triều đổi hƣớng 450 đổ vào hƣớng Nam sang hƣớng Tây Bắc khi thủy triều lên, đổ vào hƣớng Nam sang hƣớng Tây Nam khi thủy triều xuống. Tốc độ thủy triều xuống gấp 1,5 - 2 lần tốc độ thủy triều lên. Do đƣợc bao bọc bởi nhiều đảo đá cho nên vịnh Hạ Long hầu nhƣ không bị ảnh hƣởng bởi các con sóng đại dƣơng. Nƣớc vùng vịnh có nhiệt độ trung bình hàng năm thấp nhất 220C, cao nhất từ 290 – 320C.

Nhiệt độ nƣớc vùng vịnh bị ảnh hƣởng rất lớn của thủy triều, nồng độ muối trong nƣớc của vịnh Hạ Long khoảng 1,85% - 2,7%.8] Đặc điểm của Vịnh Hạ Long là biển ăn sâu vào đất liền, bờ biển khúc khuỷu, lồi lõm, đặc biệt là địa hình đảo, núi xen kẽ giữa các trũng biển, là vùng bằng cát mặn có sú, vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng rất tƣơng phản nhau. Hầu hết các đảo nhỏ bị phong hóa bởi mƣa, nắng và bị bào mòn bởi sóng biển tạo nên các hang động, các hƣờm đá làm nơi trú ngụ rất an toàn cho các thuyền nhỏ. Khí hậu ở khu vực vịnh Hạ Long tƣơng đối ôn hòa, nhiệt không thay đổi nhiều giữa các mùa. Mùa lạnh trung bình từ 16 0C đến 170C.

Biên độ thủy triều lớn nhƣng vịnh không có sóng, sự hình thành đảo đá trong vịnh khiến cho Hạ Long thành những ao chuôm khổng lồ, là nơi sinh sống ổn định cho hàng ngàn loài tôm cá, với lƣợng thức ăn phong phú từ các cửa sông đổ ra vịnh. Thảm động thực vật trên vịnh phong phú, đa dạng, đƣợc đánh giá là một vùng biển giàu tài nguyên. Làng chài Cửa Vạn nằm trong vụng Tùng Sâu, có hình dạng nhƣ một chiếc túi, gần khu vực đảo Hang Trai, cách cảng tàu du lịch Bãi cháy 30km về phía Đông Nam, cách đảo Cát Bà – Hải Phòng khoảng 16 km về phía Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 13 http://www.vn/ Đông nằm trọn trong khu vực bảo vệ tuyệt đối của di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. Hiện nay làng cài Cửa Vạn thuộc sự quản lý của phƣờng Hùng Thắng, thành phố Hạ Long.

Theo Quyết định của UBND Tỉnh Quảng Ninh, từ năm 2008, quy hoạch điểm dân cƣ làng chài trên Vịnh Hạ Long, làng chài Cửa Vạn có tọa độ 20048‟28.43”E với diện tích khoảng 22 ha.1] Làng chài nằm trong một vụng biển kín, xung quanh đƣợc bao bọc bởi các đảo đá tự nhiên gắn liền với các giai thoại lịch sử hang Trai, núi Ngọc. Đây là khu vực có cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, khí hậu ôn hòa, có hệ sinh thái hầu nhƣ còn nguyên vẹn, môi trƣờng tƣơng đối trong sạch, yên tĩnh xung quanh là những điểm thăm quan nổi tiếng nhƣ Hồ Ba Hầm, Ba trái Đào, di chỉ khảo cổ Mê Cung, Tiên Ông…, là một địa điểm lý tƣởng để tránh gió bão và giao thông đƣờng biển thuận lợi, an toàn. Đây là một trong 4 làng chài độc đáo trên vịnh Hạ Long, với số lƣợng dân cƣ đông nhất (3 làng chài còn lại là: Ba Hang, Cống Tàu, Vông Viêng). Đƣờng đi tới làng chài Cửa Vạn có hai cách: - Từ cảng tàu du lịch Bãi Cháy hoặc cảng tàu khách Hòn Gai đi khoảng 30km về hƣớng Đông Nam.

- Từ bến Bèo, thị trấn Cát Bà - Hải Phòng đi khoảng 20km về phía Đông Bắc, vào lạch Vạn là tới làng chài Cửa Vạn.2 Đặc điểm cƣ dân Từ xa xƣa, chủ nhân sinh sống trên Vịnh Hạ Long đã sáng tạo ra nền văn hóa bản địa gọi là văn hóa tiền Hạ Long hay còn gọi là văn hóa Soi Nhụ. Các nhà nghiên cứu cho rằng chủ nhân của văn hóa tiền Hạ Long đƣợc bắt nguồn từ văn hóa bản địa, với truyền thống Hòa Bình - Bắc Sơn khi họ tiến xuống chiếm lĩnh vùng đồng bằng ven biển trở thành những nền văn hóa mới thuộc trung và hậu kỳ đá mới [29, tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 14 http://www.vn/ Một đặc trƣng không thể trộn lẫn của vùng Vịnh Hạ Long thời tiền sử đó là tính chất văn hóa biển của nó. Khi đó Hạ Long còn là môi trƣờng lục địa, có một bộ phận cƣ dân cổ sinh sống trong các hang động trên núi đá vôi, với phƣơng thức chính là săn bắt hái lƣợm.

Đã có cơ sở chắc chắc để khẳng định cƣ dân văn hóa Soi Nhụ đã tiếp xúc với biển và đã sống với biển. Những dấu tích loài hàu lớn tại các hang động đã chứng tỏ điều đó. Nhƣ vậy, so với cƣ dân văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn cùng thời, ngƣời Soi Nhụ đã có một mô hình văn hóa phong phú hơn, đa dạng hơn do yếu tố biển tạo nên. Cho đến văn hóa Cái Bèo trung kỳ đá mới thì cƣ dân ở khu vực này đã coi biển là môi trƣờng sống của mình, tuy nhiên, họ vẫn ứng xử với biển theo cung cách của cƣ dân trên bờ.

Họ có thể lợi dụng các dòng sông, luồng lạch và con nƣớc để thu lƣợm hải sản và đánh bắt cá nhƣng họ chƣa phải là ngƣời chinh phục biển khơi. Họ chỉ làm đƣợc điều đó ở giai đoạn văn hóa Hạ Long khi môi trƣờng biển đã thay đổi nhiều, mực nƣớc biển dâng cao hơn và đặc biệt khi kỹ thuật đi biển đạt đến trình độ cao hơn. Phƣơng thức sinh sống chủ yếu của cƣ dân Hạ Long là khai thác nguồn hải sản ven bờ với các ngƣ cụ truyền thống kết hợp săn bắt hái lƣợm tự nhiên trên các vách đá. Các di vật xƣơng cá, chì lƣới đƣợc tìm thấy đã chứng minh rằng cƣ dân ở đây còn biết tới nghề trồng cây lấy sợi để se sợi đan lƣới hoặc dây câu để bắt cá.

Không chỉ khai thác nguồn lợi biển ở hải sản, tôm cá mà ngƣời Hạ Long còn khai thác biển bằng giao lƣu trao đổi trên biển. Nơi đây trở thành đầu mối tiếp nhận và di truyền những yếu tố văn hóa của hai khu vực lớn Đông Bắc Á và Đông Nam Á.234,235] Với đặc trƣng lâu đời gắn liền với yếu tố biển nhƣ vậy, nên cƣ dân vùng biển Đông Bắc nói chung và cƣ dân làng chài Cửa Vạn nói riêng đã sớm hình thành một nếp sống, thói quen sinh sống bám biển, Vịnh Hạ Long là nhà, là nơi kiếm sống và sinh sôi, phát triển của họ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 15 http://www.vn/ Từ thế kỷ XIX cộng đồng cƣ dân vạn chài tại Cửa Lục - Hạ Long tập trung chủ yếu tại hai làng thủy cƣ là Giang Võng và Trúc Võng (Tổng An Khoái và Tổng Vạn Yên, Huyện Hoành Bồ) trải qua quá trình di dân, tụ cƣ đã hình thành nên hệ thống làng chài trên Vịnh hạ Long nhƣ hiện nay. Cƣ dân Cửa Vạn hiện nay theo số liệu điều tra dân số vào tháng 12/2010, có tổng số 167 hộ với 645 nhân khẩu.

Trong thành phần cƣ dân tại Cửa Vạn có nhiều nguồn gốc khác nhau nhƣng phần đông vẫn là dân gốc Giang Võng, Trúc Võng đã sinh sống ở ven vịnh Hạ Long từ lâu đời, khi chuyển ra Cửa Vạn, để thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nƣớc về hành chính, họ đăng ký hộ khẩu tại phƣờng Hùng Thắng - Hạ Long. Số hộ sinh sống tại Cửa Vạn hiện nay còn bị pha tạp nhiều bởi một bộ phận cƣ dân từ nơi khác đến nhƣ các huyện thị lân cận Hạ Long, các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dƣơng, Thanh Hóa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ