Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG 1. Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường và tiêu chí xác định thị trường liên quan 1. Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, vì lợi ích trong kinh doanh, vì ý muốn tồn tại bằng việc tạo ra lợi nhuận, buộc các chủ thể kinh tế phải cạnh tranh với nhau. Chính vì thế, cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh chính là động lực, là một trong những nguyên tắc cơ bản và yếu tố khách quan không thể thiếu của nền sản xuất hàng hóa. Nó được thừa nhận là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế. Với sự ganh đua trong môi trường cạnh tranh, những doanh nghiệp giỏi, có khả năng và bản lĩnh sẽ chiến thắng, nắm trong tay các nguồn lực kinh tế, còn những doanh nghiệp thất bại sẽ chịu những tổn thất, thậm chí là phải rời bỏ khỏi thị trường. Từ đó sẽ xuất hiện các doanh nghiệp có VTTL trên thị trường.
Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (United Nations Conference on Trade and Development – UNCTAD) định nghĩa VTTL thị trường là “vị trí mà tại đó doanh nghiệp, tự thân hoặc thông qua việc phối hợp hành động với doanh nghiệp khác, có thể kiểm soát được một loại hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc nhóm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan[34] Như vậy, vị trí thống lĩnh thị trường được nhìn nhận từ khả năng khống chế thị trường của doanh nghiệp đó [11, tr. Định nghĩa về VTTL được đưa ra bởi Toà án Công lý của Cộng đồng 6 Châu Âu (ECJ): Sự sở hữu quyền lực của thị trường mà một công ty có thể hoạt động độc lập với nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, và khách hàng của công ty đó [9, tr. Như vậy, VTTL của doanh nghiệp trên thị trường liên quan đến quyền lực thị trường [23, tr. 682] của doanh nghiệp, có khả năng ngăn chặn một cách hiệu quả cạnh tranh hiện có trên thị trường thông qua việc doanh nghiệp này có khả năng hành xử trong phạm vị độc lập với đối thủ cạnh tranh, khách hàng và nhà cung cấp của doanh nghiệp.
Pháp luật Việt Nam không quy định rõ khái niệm như thế nào là doanh nghiệp có VTTL thị trường. Nhưng tại Điều 11 LCT thì VTTL của doanh nghiệp được xác định dựa trên thị phần hoặc khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể, theo đó, doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Và nhóm doanh nghiệp được coi là có VTTL thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan [25]. Như vậy, LCT Việt Nam cũng hiểu VTTL tương đồng với cách hiểu các nước, nghĩa là xác định VTTL thông qua mức thị phần của doanh nghiệp hoặc tổng mức thị phần của nhóm doanh nghiệp trên thị trường liên quan.
Ngoài ra, với doanh nghiệp, LCT Việt Nam cũng quy định nếu mức thị phần chưa đáp ứng mức tối thiểu thì xem xét đến khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể để đánh giá sức mạnh thị trường đáng kể hay không. Qua đó xác định doanh nghiệp đó có VTTL hay không. Và hiện nay, trên thế giới đã thống nhất xác định VTTL là khả năng của các doanh nghiệp có thể thu lợi nhuận từ việc tăng và duy trì giá cao hơn giá được xác định trong điều kiện thị trường 7 cạnh tranh thông thường hoặc từ việc kiểm soát sản lượng hay loại trừ cạnh tranh để tăng giá. Tiêu chí xác định thị trường liên quan Để xem xét một doanh nghiệp có giữ vị trí thống lĩnh thị trường hay không điều đầu tiên chúng ta phải xem xét doanh nghiệp đó giữ bao nhiêu phần trăm thị thị phần trong thị trường liên quan, như vậy, trước hết cần phải xác định thị trường liên quan.
Để đánh giá được tầm quan trọng của thị trường liên quan, Cục thương mại công bằng của Anh đã nhận định “định nghĩa thị trường là một giai đoạn rất quan trọng trong bất cứ cuộc điều tra nào về hành vi lạm dụng. Bởi lẽ, thị phần chỉ được tính toán sau khi những ranh giới của thị trường đã được xác định. Do đó, nếu thị trường xác định sai, thì tất cả những phân tích tiếp theo dựa trên thị phần hoặc cấu trúc thị trường đều không hoàn thiện” [13, tr. Tại Khoản 1 Điều 3 LCT Việt Nam quy định thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan.
+ Thị trường sản phẩm liên quan: Theo quan điểm kinh tế học, thị trường là tập hợp các điều kiện và thỏa thuận mà thông qua đó người mua và người bán tiến hành sự trao đổi hàng hóa với nhau [10, tr. Nếu như trên thị trường mà các loại hàng hóa giống y như nhau, thì người tiêu dùng sẽ không phải phân vân hay đắn đo việc chọn lựa sản phẩm của ai. Họ hoàn toàn có thể lựa chọn sản phẩm hay dịch vụ của bất kỳ doanh nghiệp nào đang kinh doanh trên thị trường, lúc này, “mỗi nhà cung cấp đều phải chịu sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp khác” [22, tr. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp luôn muốn tìm kiếm cho mình những hướng đi riêng, những sản phẩm mang dấu ấn riêng của họ.
Theo quan điểm của Nguyễn Như Phát và Nguyễn Ngọc Sơn như tài liệu đã dẫn thì “các doanh nghiệp luôn tìm cách dị biệt hóa sản 8 phẩm của mình trước thói quen của người tiêu dùng”, những nhà kinh doanh tài ba luôn không ngừng làm cho các sản phẩm của họ mang tính độc đáo rất riêng, cho dù chúng đáp ứng cho cùng một nhu cầu trong xã hội, điều này thể hiện qua sự khác biệt về cách thức phục vụ, bao bì sản phẩm, chất lượng hàng hóa. Khi đã dị biệt hóa, thì các sản phẩm chỉ có thể liên quan đến nhau khi có khả năng thay thế cho nhau theo sự lựa chọn từ người tiêu dùng, khách hàng. Khoản 1 Điều 3 LCT Việt Nam, quy định: “thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả”. Ở đây, xác định khả năng thay thế cho nhau của sản phẩm phản ánh được mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau, bởi lẽ, khi đã có thể thay thế cho nhau thì lúc đó các sản phẩm đó đã có chung mục đích là đáp ứng cho một nhu cầu của thị trường.
Pháp luật Việt Nam khi chi tiết hóa LCT bằng Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số Điều của LCT 2004 (sau đây gọi tắt là Nghị định 116/2005/NĐ-CP) đã đưa ra ba căn cứ để xác định khả năng thay thế của sản phẩm, đó là đặc tính, mục đích sử dụng và phản ứng của người tiêu dùng khi có sự thay đổi giá cả của các sản phẩm có liên quan [3]. Thứ nhất, về đặc tính, theo Khoản 2 Điều 4 Nghị định 116/2005/NĐ-CP thì “đặc tính của hàng hóa, dịch vụ được xác định theo một hoặc một số căn cứ, đó là tính chất vật lý; tính chất hóa học; tính năng kỹ thuật; tác dụng phụ đối với người sử dụng; khả năng hấp thụ”. Và hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về đặc tính nếu “hàng hóa, dịch vụ đó có nhiều tính chất về vật lý, hóa học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng và khả năng hấp thụ giống nhau”[3]. Như vậy, việc xác định được khả năng thay thế về đặc tính của sản phẩm là khâu đầu tiên quan trọng trong việc xác định thị trường liên quan.
Bởi lẽ, các sản phẩm mà không có sự tương 9 đồng về đặc tính thì không thể thay thế cho nhau được. Thứ hai, về mục đích sử dụng, các sản phẩm khác nhau nhưng có cùng mục đích sử dụng thì có thể thay thế được cho nhau. Vấn đề cơ bản là mục đích sử dụng của sản phẩm lại được nhìn nhận qua lăng kính của người sử dụng, của khách hàng. Tuy nhiên, việc xác định được sự giống nhau về mục đích sử dụng trong thực tế lại không mấy dễ dàng gì.
Bởi lẽ, các sản phẩm không phải lúc nào cũng chỉ có một mục đích sử dụng duy nhất, có rất nhiều sản phẩm với nhiều mục đích sử dụng khác nhau tùy thuộc vào đặc tính, giá cả cũng như nhu cầu của người tiêu dùng. Chính vì thế, tại Khoản 3 Điều 4 Nghị định 116/2005/NĐ-CP đã qui định: “Mục đích sử dụng của hàng hóa, dịch vụ được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hóa, dịch vụ đó”. Thứ ba, về giá cả. Thực chất, khi cơ quan có thẩm quyền phân tích yếu tố này thì chính là tiến hành xác định phản ứng của người tiêu dùng khi có sự thay đổi về giá cả của sản phẩm.
Việc xác định đặc tính cũng như mục đích sử dụng có thể thay thế cho nhau để xác định việc các sản phẩm đó đáp ứng cho cùng một nhu cầu trên thị trường. Tuy nhiên, việc xác định nhu cầu trên thị trường lại phụ thuộc vào thái độ của khách hàng. Do vậy, việc điều tra để chứng minh về khả năng thay thế của các sản phẩm cần phải được“kiểm chứng thông qua phản ứng từ thị trường, thông qua thái độ của khách hàng đối với các sản phẩm khi có sự thay đổi về giá giữa chúng trên thị trường” [22, tr. Chỉ khi nào khách hàng sẵn sàng thay đổi thói quen sử dụng một sản phẩm nào đó sang sử dụng một sản phẩm khác thì khi đó mới có căn cứ xác định rằng hai sản phẩm đó có khả năng thay thế cho nhau trên thị trường.
Ví dụ trên thị trường sữa bột: Sữa bột dành cho người già, người có bệnh lý có mục đích sử dụng chính là cung cấp chất dinh dưỡng cho người cao tuổi, 10 đặc biệt là người cao tuổi có bệnh lý; với đặc tính giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa, dễ hấp thụ.