Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích tự nhiên 40.816,4 $\text{km}^2$ là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước nhưng đang chịu nhiều áp lực nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu, hiện tượng nước biển dâng và việc phát triển các đập thủy điện trên dòng chính thượng nguồn sông Mekong làm suy giảm lưu lượng dòng chảy. Điển hình vào tháng 3 năm 2020, dòng chảy sông Mekong về đồng bằng thiếu hụt từ 5% đến 20% so với trung bình nhiều năm và năm 2016. Tỉnh An Giang có diện tích tự nhiên 3.536,68 $\text{km}^2$, diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 680,1 nghìn ha, trong đó lúa chiếm 625,4 nghìn ha với sản lượng đạt gần 3,92 triệu tấn. Nhằm thích ứng với tình hình hạn hán và tài nguyên nước suy giảm, Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang đã ban hành Quyết định số 1994/QĐ-UBND ngày 26 tháng 8 năm 2021 phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang rau màu và cây ăn trái.

Kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ (Alternate Wetting and Drying - AWD) do Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phổ biến đã chứng minh hiệu quả tiết kiệm 15% đến 30% lượng nước tiêu thụ (tương đương 3 - 5 ML/ha) và giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, phần lớn nông dân vẫn áp dụng theo tập quán tưới ngập liên tục hoặc thực hiện riêng lẻ, gặp khó khăn do phụ thuộc vào hệ thống trạm bơm điện tập thể. Vì vậy, nghiên cứu thử nghiệm kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ ở quy mô cộng đồng tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn trên.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Mục tiêu chung: Thử nghiệm mô hình tưới tiết kiệm nước ngập – khô xen kẽ cấp độ cộng đồng trong canh tác lúa tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Tìm hiểu hiện trạng sử dụng nguồn nước trong canh tác nông nghiệp tại các tiểu vùng sinh thái khác nhau của huyện Tịnh Biên, An Giang.
    • Thử nghiệm và xác định các chỉ tiêu sinh học, năng suất và hiệu quả quản lý mực nước của lúa khi áp dụng kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ cấp độ cộng đồng.
    • Xác định những thuận lợi và khó khăn của nông dân trong việc áp dụng kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ cấp độ cộng đồng.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng quản lý nguồn nước trong canh tác nông nghiệp huyện Tịnh Biên, An Giang hiện nay như thế nào?
  2. Quá trình thử nghiệm kỹ thuật ngập – khô xen kẽ cấp cộng đồng tại huyện Tịnh Biên diễn ra như thế nào và hiệu quả ra sao?
  3. Những thuận lợi, khó khăn nào mà người nông dân gặp phải khi áp dụng kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ ở cấp cộng đồng trong canh tác lúa hiện nay?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ quy mô cộng đồng, hiện trạng quản lý nước, chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất lúa và nhận thức của nông hộ.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại địa bàn 2 xã Văn Giáo và Vĩnh Trung thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (thuộc vùng dự án SUMERNET 4 All – SEI).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu và triển khai thí nghiệm trong vụ Đông Xuân từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 5 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận xây dựng dựa trên các cơ sở sinh học và tiêu chuẩn kỹ thuật thủy nông:

  • Sinh lý cây lúa: Cây lúa (Oryza sativa L.) trải qua ba giai đoạn sinh trưởng chính: tăng trưởng (10 - 35 ngày sau sạ - NSS), sinh sản (35 - 60 NSS) và chín (60 - 90 NSS đối với giống lúa 90 ngày không quang cảm). Nhu cầu nước thay đổi theo từng giai đoạn phát triển.
  • Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8641:2011: Quy định chế độ tưới tiêu nước cho lúa gieo sạ vùng Nam Bộ, xác định tổng lượng nước tưới dưỡng cả vụ từ 7.500 $\text{m}^3\text{/ha}$ đến 8.000 $\text{m}^3\text{/ha}$, mỗi lần tưới đạt 300 - 350 $\text{m}^3\text{/ha}$.
  • Nguyên lý kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ (AWD): Điều tiết mực nước trên ruộng dao động từ ngập 3 - 5 cm đến khi mực nước ngầm tự nhiên hạ xuống mức -15 cm so với mặt đất (theo dõi qua ống nhựa đục lỗ chia vạch 5 cm). Ở ngưỡng -15 cm, rễ lúa vẫn hút được nước mao dẫn từ tầng đất bão hòa mà không làm giảm năng suất lúa, đồng thời chuyển hóa đất từ điều kiện yếm khí sang hiếu khí để hạn chế vi khuẩn sinh khí metan ($\text{CH}_4$).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng và bố trí thí nghiệm đồng ruộng thực nghiệm (On-farm experiment):

  • Thu thập số liệu thứ cấp: Tổng hợp báo cáo thống kê từ Niên giám thống kê huyện Tịnh Biên (2019 - 2020), Báo cáo Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Tịnh Biên năm 2020, số liệu quản lý trạm bơm điện và các công trình khoa học của Viện IRRI, JIRCAS, Đại học Cần Thơ.
  • Phỏng vấn người am hiểu (Key Informant Panels - KIP): Phỏng vấn bán cấu trúc $n = 4$ người, bao gồm: 02 cán bộ Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Tịnh Biên, 01 cán bộ Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện, 01 cán bộ Ban quản lý trạm bơm điện huyện Tịnh Biên nhằm đánh giá hiện trạng thủy lợi, điều tiết nước và tổ chức sản xuất.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng: Thí nghiệm triển khai trong vụ Đông Xuân 2021 - 2022 tại 4 điểm thuộc 2 xã Văn Giáo và Vĩnh Trung. Thiết kế 3 nghiệm thức:
    • Nghiệm thức Thí nghiệm cộng đồng (TN): Áp dụng kỹ thuật AWD liên hộ, lắp đặt 4 ống đo mực nước trên mỗi cánh đồng (1 ống trung tâm ở độ cao trung bình và 3 ống phụ trợ xung quanh).
    • Nghiệm thức Đối chứng có áp dụng (ĐCAD): Nông hộ áp dụng kỹ thuật AWD đơn lẻ, lắp đặt 3 ống quan sát mực nước bố trí theo đường chéo góc.
    • Nghiệm thức Đối chứng không áp dụng (ĐCKAD / CF): Nông hộ canh tác theo tập quán ngập liên tục truyền thống, không lắp đặt ống theo dõi.
  • Chỉ tiêu theo dõi: Chiều cao cây, số chồi/bụi, tỷ lệ chồi hữu hiệu (%), chiều dài bông (cm), tình hình dịch bệnh (đặc biệt là sâu cuốn lá, rầy nâu, muỗi hành), các yếu tố cấu thành năng suất (số bông/$\text{m}^2$, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc, trọng lượng 1.000 hạt), năng suất lý thuyết, năng suất thực tế và biểu đồ hạ mực nước theo ngày sau sạ (NSS).
  • Phỏng vấn sâu nông hộ: Thực hiện phỏng vấn sâu trực tiếp các hộ dân tham gia mô hình và các hộ canh tác ngoài mô hình về chi phí bơm tưới, công lao động, thuận lợi và khó khăn khi phối hợp tập thể.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này thiết lập tính cấp thiết của nghiên cứu trước bối cảnh biến đổi khí hậu, thiếu hụt nguồn nước thượng nguồn sông Mekong và chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp của tỉnh An Giang. Tác giả xác định rõ mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu cùng giới hạn không gian tại xã Văn Giáo và Vĩnh Trung, thời gian thực hiện từ tháng 1/2022 đến tháng 5/2022.

Chương 2: Lược khảo tài liệu

Chương 2 cung cấp tổng quan toàn diện về địa bàn nghiên cứu và cơ sở lý thuyết:

  • Điều kiện tự nhiên huyện Tịnh Biên: Diện tích tự nhiên 354,591 $\text{km}^2$, dân số 108.485 người, mật độ 306 người/$\text{km}^2$. Phân chia 3 dạng địa hình: đồng bằng phù sa (20.260 ha - 57%), đồi núi thấp (6.330 ha - 17,81%), đồng bằng nghiêng chân núi (8.953 ha - 25,19%). Thổ nhưỡng gồm đất cát rửa trôi (6.053 ha - 17,06%), đất phù sa (5.819 ha - 16,40%), đất phèn (1.900 ha - 5,35%). Tổng diện tích đất cát chiếm tới 48% toàn huyện.
  • Hiện trạng nông nghiệp và thủy lợi: Diện tích nông nghiệp chiếm 86,8% diện tích tự nhiên; sản lượng lúa chiếm trên 99% tổng sản lượng lương thực có hạt. Toàn huyện có 90 công trình kênh thủy lợi dài 348.028 m, đê bao dài 313.599 m, chia thành 48 tiểu vùng sản xuất.
  • Đặc điểm xã nghiên cứu: Văn Giáo và Vĩnh Trung là 2 xã có tỷ lệ đồng bào dân tộc Khmer cao (lần lượt chiếm 15,7% và 15,05% tổng số người Khmer của huyện).
  • Quy trình kỹ thuật AWD: Quy chuẩn từng giai đoạn tưới nước: 0 - 7 NSS giữ ẩm; 7 - 20/25 NSS giữ ngập 1 - 3 cm để ém cỏ; 25 - 40 NSS rút nước phơi ruộng đến ngưỡng -15 cm; 40 - 45 NSS (bón thúc đòng) cấp nước 1 - 3 cm; 60 - 70 NSS (lúa trổ) duy trì ngập 3 - 5 cm trong 10 ngày; sau 70 NSS đến thu hoạch giữ khô ướt xen kẽ và cắt nước hoàn toàn trước thu hoạch 10 ngày.
  • Cơ sở dữ liệu môi trường: Dẫn chứng số liệu từ JIRCAS (2019) cho thấy tại Tịnh Biên, lượng phát thải khí $\text{CH}_4$ khi áp dụng AWD dao động từ 2,56 đến 5,28 tấn $\text{CO}_2\text{/ha}$, thấp hơn rõ rệt so với ruộng ngập liên tục (CF) đạt từ 4,84 đến 11,73 tấn $\text{CO}_2\text{/ha}$.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Thiết kế bố trí 4 điểm thực nghiệm ngoài đồng:

  • Điểm 1 (VG1): Ấp Srây Skốth, xã Văn Giáo, quy mô 6 hộ tham gia, diện tích 2,25 ha, đất cát pha sét, địa hình cao, tiếp giáp kênh trạm bơm Văn Râu.
  • Điểm 2 (VG2): Ấp Srây Skốth, xã Văn Giáo, quy mô 6 hộ tham gia, diện tích 2,13 ha, đất sét, địa hình thấp ở cuối tuyến kênh.
  • Điểm 3 và Điểm 4: Đặt tại xã Vĩnh Trung, đại diện cho tiểu vùng đồng bằng chân núi chịu tác động của trạm bơm điện Vĩnh Trung. Quy định chi tiết vị trí lắp đặt hệ thống ống đo nước bằng nhựa PVC đục lỗ thành bên, cách cắm thẻ tre đánh dấu theo dõi sinh trưởng và quy trình lấy mẫu bông lúa, mẫu hạt để tính toán thành phần năng suất.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 phân tích các dữ liệu thực địa thu được:

  • Hiện trạng quản lý nước: Nguồn nước mặt cấp qua kênh Vĩnh Tế và Trà Sư dẫn vào hệ thống trạm bơm điện (Văn Râu, Vĩnh Trung). Vận hành trạm bơm theo lịch tưới tập thể của ban quản lý và thỏa thuận cụm hộ.
  • Các chỉ tiêu sinh học: Chiều cao cây lúa và quá trình đẻ nhánh giữa các nghiệm thức TN (AWD cộng đồng), ĐCAD (AWD hộ) và ĐCKAD (CF) không có sự khác biệt tiêu cực. Ruộng áp dụng AWD kích thích rễ ăn sâu vào tầng đất bão hòa, hạn chế chồi vô hiệu và giảm hiện tượng đổ ngã.
  • Tình hình sâu bệnh: Trong vụ Đông Xuân 2021 - 2022, dịch muỗi hành (sâu năn) bùng phát cục bộ gây hại làm nghẽn bông lúa ở xã Vĩnh Trung (đặc biệt tại ruộng đối chứng điểm 3), gây suy giảm năng suất thực tế tại một số ô thí nghiệm.
  • Quản lý mực nước: Tại xã Văn Giáo, tốc độ hạ mực nước tại ruộng đất cát pha sét (VG1) diễn ra nhanh hơn so với đất sét (VG2), mực nước giảm dần đều về vạch -15 cm trong giai đoạn 25 - 40 NSS mà không gây héo cây.
  • Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật - xã hội: Áp dụng AWD cộng đồng giúp giảm từ 1 đến 2 lần bơm nước/vụ, tiết kiệm chi phí nhiên liệu/tiền điện bơm tưới; giảm phát thải khí nhà kính; tăng cường liên kết trao đổi kinh nghiệm giữa các hộ nông dân người Kinh và người Khmer trong cùng tiểu vùng trạm bơm.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ kết quả thử nghiệm mô hình kỹ thuật AWD quy mô cộng đồng; khẳng định tính khả thi của mô hình trong điều kiện thủy nông tập thể và đưa ra các kiến nghị cụ thể cho nông dân và chính quyền địa phương.

Kết quả và đóng góp

Kết quả kỹ thuật và năng suất thực nghiệm

Các số liệu thực tế thu thập từ mô hình thí nghiệm và đối chứng được tổng hợp phản ánh đặc tính sinh trưởng, khả năng tiết kiệm nước và cơ cấu năng suất:

Chỉ tiêu / Tiêu chí Mô hình AWD cộng đồng (TN) Đối chứng có áp dụng (ĐCAD) Đối chứng không áp dụng (ĐCKAD / CF)
Quy mô & Bố trí ống 4 ống đo/cánh đồng (1 trung tâm, 3 xung quanh) 3 ống đo/ruộng (bố trí chéo góc) Không đặt ống đo
Mực nước kiểm soát Dao động từ +5 cm xuống -15 cm Dao động từ +5 cm xuống -15 cm Duy trì ngập liên tục 3 - 8 cm
Tác động bộ rễ Ăn sâu vào đất, chống đổ ngã tốt Ăn sâu, rễ phát triển khỏe Rễ ăn nông trên bề mặt
Số lần bơm nước Giảm 1 - 2 đợt bơm/vụ Giảm 1 - 2 đợt bơm/vụ Phải bơm duy trì liên tục
Phát thải $\text{CH}_4$ (theo JIRCAS) 2,56 - 5,28 tấn $\text{CO}_2\text{/ha}$ Tương đương AWD cộng đồng 4,84 - 11,73 tấn $\text{CO}_2\text{/ha}$
Ảnh hưởng dịch muỗi hành Ghi nhận nhẹ tại một số ô Bị ảnh hưởng cục bộ Bị tắc nghẽn bông lúa nặng (điểm 3 Vĩnh Trung)

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đối với người nông dân: Cần chủ động trang phẳng mặt ruộng trước khi gieo sạ; tuân thủ đúng quy trình theo dõi vạch đo -15 cm; gieo sạ đồng loạt theo lịch mùa vụ của trạm bơm để dễ dàng điều tiết nước tập thể; mạnh dạn rút nước phơi ruộng ở giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ và giai đoạn trước thu hoạch 10 ngày.
  • Đối với chính quyền và cơ quan quản lý địa phương: Nạo vét hệ thống kênh mương cấp II, cấp III nội đồng; nâng cấp trang thiết bị điều tiết tại các trạm bơm điện (Văn Râu, Vĩnh Trung); tăng cường các lớp tập huấn kỹ thuật "1 phải 5 giảm" gắn với AWD trực quan cho bà con nông dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer tại xã Văn Giáo và Vĩnh Trung.

Đóng góp của công trình

Khóa luận đã chuyển giao và kiểm chứng thành công kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ từ quy mô nông hộ riêng lẻ sang quy mô cộng đồng liên hộ gắn liền với hệ thống trạm bơm điện tập thể tại vùng đồng bằng chân núi đặc thù của huyện Tịnh Biên. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực nghiệm về mối liên hệ giữa sa cấu đất (đất cát pha sét và đất sét) với tốc độ tiêu hao mực nước ngầm, chứng minh tính khả thi của việc quản lý nước tập thể thích ứng với biến đổi khí hậu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Đề tài chỉ thực hiện trong phạm vi một vụ Đông Xuân (2021 - 2022) với thời gian nghiên cứu ngắn (5 tháng); chưa theo dõi được chu kỳ canh tác trong mùa mưa (vụ Hè Thu, Thu Đông) khi lượng mưa lớn gây khó khăn cho việc rút nước phơi ruộng. Các biến số kinh tế - xã hội định lượng chi tiết (bảng cân đối tài chính chi phí - lợi nhuận chi tiết của từng hộ) và mức độ chuyển biến nhận thức của các hộ ngoài mô hình chưa được phân tích sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần mở rộng thử nghiệm kỹ thuật AWD cộng đồng qua nhiều mùa vụ liên tiếp trong năm; kết hợp cảm biến tự động (IoT) trong đo đạc mực nước tại trạm bơm; thực hiện đánh giá toàn diện tác động kinh tế - xã hội và cơ chế chia sẻ chi phí vận hành trạm bơm điện khi áp dụng tưới tiết kiệm nước trên diện rộng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này là nguồn tư liệu thực nghiệm hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên các ngành Phát triển Nông thôn, Nông học, Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên, Quản lý Thủy nông và Khuyến nông.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp tại các Trạm Khuyến nông, Trạm Trồng trọt & BVTV, Ban quản lý hợp tác xã nông nghiệp và trạm bơm điện vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao: Quy trình thiết kế và bố trí thí nghiệm ống đo mực nước quy mô nhóm hộ (Chương 3), biểu đồ diễn biến mực nước trên các nền đất cát pha sét và đất sét (Chương 4), cùng hệ thống câu hỏi phỏng vấn KIP về quản lý trạm bơm tập thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ (AWD) quy định ngưỡng rút nước phơi ruộng là -15 cm?

Theo các nghiên cứu của IRRI (Bouman và cs, 2007; Lampayan và cs, 2015) được trích dẫn trong khóa luận, ở ngưỡng mực nước hạ xuống -15 cm so với mặt đất ruộng, tầng rễ lúa vẫn hấp thụ đầy đủ độ ẩm và dưỡng chất từ lớp đất mao dẫn bão hòa nước. Do đó, việc phơi lộ mặt ruộng ở mức này không làm giảm năng suất lúa, đồng thời giúp rễ đâm sâu, hạn chế chồi vô hiệu và chống đổ ngã.

2. Vì sao nghiên cứu lựa chọn 2 xã Văn Giáo và Vĩnh Trung (huyện Tịnh Biên) để bố trí thí nghiệm?

Hai xã này có điều kiện sinh thái đặc trưng cho vùng đồng bằng nghiêng ven chân núi huyện Tịnh Biên với sự đa dạng về sa cấu đất (đất cát pha sét tại Văn Giáo 1 và đất sét tại Văn Giáo 2). Đồng thời, đây là khu vực có đông đảo đồng bào dân tộc Khmer sinh sống (chiếm trên 15% dân số Khmer toàn huyện) và sử dụng nguồn nước tưới tập thể từ các trạm bơm điện chính (trạm Văn Râu, trạm Vĩnh Trung), rất phù hợp để thử nghiệm mô hình quản lý nước quy mô cộng đồng.

3. Hệ thống ống quan sát mực nước tại điểm thí nghiệm cộng đồng được bố trí như thế nào?

Mỗi điểm thí nghiệm cộng đồng (TN) được lắp đặt 4 ống đo nước bằng nhựa đục lỗ bên hông, chia vạch 5 cm. Trong đó, 1 ống được đặt tại vị trí có cao trình trung bình của cánh đồng làm ống trung tâm điều hành, và 3 ống còn lại được lắp đặt tại các vị trí xung quanh để theo dõi tính đồng đều của mực nước trên toàn bộ diện tích liên hộ.

4. Dịch hại nào xuất hiện và ảnh hưởng đến năng suất lúa tại điểm thí nghiệm xã Vĩnh Trung?

Trong vụ Đông Xuân 2021 - 2022, dịch muỗi hành (sâu năn) đã bùng phát tại địa bàn nghiên cứu. Ấu trùng muỗi hành tấn công đỉnh sinh trưởng làm ống lá bị biến dạng (tạo chồi cọng hành), gây nghẽn bông lúa không trổ thoát được, làm suy giảm năng suất lý thuyết và thực tế tại các ruộng thí nghiệm đối chứng ở xã Vĩnh Trung.

5. Áp dụng kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ giúp giảm phát thải khí nhà kính như thế nào?

Ruộng lúa ngập nước liên tục tạo môi trường yếm khí cho vi sinh vật phân giải chất hữu cơ sinh ra khí metan ($\text{CH}_4$). Khi áp dụng kỹ thuật AWD, việc rút nước phơi cạn mặt ruộng định kỳ chuyển môi trường đất sang trạng thái oxy hóa (hiếu khí), ức chế quá trình sinh khí $\text{CH}_4$. Dữ liệu JIRCAS tại Tịnh Biên cho thấy AWD giúp giảm lượng phát thải từ mức 4,84 - 11,73 tấn $\text{CO}_2\text{/ha}$ (ở ruộng CF) xuống còn 2,56 - 5,28 tấn $\text{CO}_2\text{/ha}$.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thành Sang đã thực hiện thành công việc thử nghiệm kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ (AWD) ở quy mô cộng đồng tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang trong vụ Đông Xuân 2021 - 2022. Kết quả nghiên cứu chứng minh mô hình giúp cây lúa sinh trưởng khỏe, bộ rễ ăn sâu, duy trì năng suất ổn định, đồng thời tiết kiệm số lần bơm tưới và giảm thiểu phát thải khí nhà kính so với tập quán ngập liên tục. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng nhằm hỗ trợ các nhà quản lý và nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đổi mới phương thức quản lý tài nguyên nước nông nghiệp thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.