ĐẶT VẤN ĐỀ Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên gần 40816,4 km2 (Tổng cục Thống kê, 2020) là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước với những lợi thế được thiên nhiên ưu đãi. Đây cũng là một trong những đồng bằng chịu nhiều rủi ro do tác động mạnh mẽ từ hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp tại khu vực ĐBSCL (Hoàng Ngọc Hiển, Ngô Đức Lưu, Nguyễn Trần Quốc Vinh, & Huỳnh Xuân Hiệp, 2017). Trong đó có bao gồm những tác động liên quan đến phát triển đập thủy điện trên dòng chính ở thượng nguồn sông Mekong (Lê Anh Tuấn, Nguyễn Hiếu Trung, & Đinh Diệp Anh Tuấn, 2020). An Giang là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm, diện tích 3.536,68 km2 (Cục Thống kê tỉnh An Giang, 2019) và là một trong những tỉnh có diện tích sản xuất lúa lớn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt khoảng 680,1 ngàn ha, trong đó diện tích lúa chiếm 625,4 nghìn ha với sản lượng lúa cả năm đạt gần 3,92 triệu tấn (Uỷ ban Nhân dân tỉnh An Giang, 2019), có vị trí chiến lược quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và của tỉnh (Châu Mỹ Duyên, Nguyễn Hồng Tín, Nguyễn Văn Sánh, & Tô Lan Phương, 2016). Tuy nhiên, tỉnh đã và đang phải đối mặt với tác động ngày càng mạnh mẽ của thiên tai và biến đổi khí hậu, biểu hiện rõ nét là nhiệt độ tăng cao, hạn hán (Huỳnh Văn Thái & Phùng Thị Thảo, 2020). Mặt khác, theo Nguyễn Hữu Thiện (2017) việc xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong đã chặn dòng chảy, làm giảm lưu lượng nước đổ về hạ nguồn đồng bằng, trong khi nhu cầu về nước trong phát triển nông nghiệp là khá cao. Từ báo cáo cho thấy, dòng chảy trên sông Mekong về Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng 3 năm 2020 ở mức thiếu hụt so với trung bình nhiều năm và so với năm 2016 từ 5 - 20% (Tổng cục Phòng chống Thiên tai, 2020).
Trước những tình trạng tác động xấu từ biến đổi khí hậu và biến động về nguồn nước trong canh tác nông nghiệp, đặc biệt là những vùng canh tác lúa bị ảnh hưởng và kém hiệu quả. Uỷ ban Nhân dân tỉnh An Giang (2021) cũng đã ban hành quyết định số 1994 ngày 26 tháng 8 năm 2021 về phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang rau, màu và cây ăn trái giai đoạn 2021 – 2025. Theo UBND tỉnh An Giang (2021) việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa kém hiệu quả vừa nâng cao hiệu quả sử dụng đất, vừa duy trì quỹ đất trồng lúa, bảo đảm được an ninh lương thực quốc gia, góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân, giảm nghèo và bảo vệ môi 1 trường cùng với việc thích ứng với biến đổi khí hậu. Kết quả đánh giá hiệu quả các mô hình chuyển đổi trong giai đoạn 2017 – 2020 nông dân còn sản xuất riêng lẻ chưa liên kết sản xuất, chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường, thêm vào đó điều kiện thời tiết những năm gần đây diễn biến bất thường, không theo quy luật, thiên tai thường xuyên xảy ra cũng làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang, 2020).
Hiện nay, có rất nhiều giải pháp kỹ thuật xuất hiện kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu trong sản xuất lúa. Theo JIRCAS, Trường Đại học Cần Thơ và Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh An Giang (2019) thì Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (MARD) đã phổ biến các công nghệ tiết kiệm nước hay còn được gọi là tưới tiêu ngập khô xen kẽ. Đây là giải pháp tiết kiệm nước hiệu quả và mang lại nhiều kết quả tốt, đến cuối năm 2018 tỉnh An Giang đã có 334.531 lượt hộ nông dân đã áp dụng kỹ thuật này với tổng diện tích 303.205 ha, chiếm 48,4% diện tích (Ngô Chuẩn, 2019). Kỹ thuật này giúp kiểm soát tốt trong vấn đề giải quyết nhu cầu sử dụng nước trong canh tác lúa và quản lý nguồn tài nguyên nước.
Vial (2007), kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ có khả năng tiết kiệm khoảng 3 - 5 ML/ha từ tổng lượng nước sử dụng 10 - 15 ML/ha; khoảng 15 - 30%. Tuy nhiên, việc áp dụng kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ là rất khó do hiện nay canh tác chủ yếu là tưới nước tập thể và theo thói quen canh tác trong cộng đồng. Mặc khác theo nghiên cứu của JIRCAS - CTU năm 2013 áp dụng kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ sẽ làm giảm tỷ lệ phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực nông nghiệp đặc biệt là canh tác lúa. Bên cạnh đó còn làm giảm chi phí bơm nước của nông dân (JIRCAS và cs, 2019).
Vì vậy, đề tài “Thử nghiệm kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ quy mô cộng đồng trong canh tác lúa huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang” là vấn đề đáng được quan tâm. Đánh giá được hiệu quả nhân rộng này sẽ cho chúng ta có cái nhìn toàn diện về những hiệu quả đã đem lại và những vấn đề cần phải được khắc phục cũng như tiếp tục phát huy những điểm mạnh của kỹ thuật canh tác với quy mô rộng lớn phát triển trong tương lai.1 Mục tiêu chung Thử nghiệm mô hình tưới tiết kiệm nước ngập - khô xen kẽ cấp độ cộng đồng trong canh tác lúa tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.2 Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu hiện trạng sử dụng nguồn nước trong canh tác nông nghiệp tại các tiểu vùng sinh thái khác nhau của huyện Tịnh Biên, An Giang. 2 Thử nghiệm và xác định được chỉ tiêu sinh học, năng suất và quản lý mực nước của lúa khi áp dụng kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ cấp độ cộng đồng. Xác định được thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng kỹ thuật tưới ngập – khô xen kẽ cấp độ cộng đồng.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Thực trạng quản lý nguồn nước trong canh tác nông nghiệp huyện Tịnh Biên, An Giang hiện nay như thế nào? Quá trình thử nghiệm kỹ thuật ngập khô xen kẽ cấp cập đồng tại huyện Tinh Biên sẽ diễn ra như thế nào và hiệu quả ra sao? Những thuận lợi khó khăn nào mà người nông dân gặp phải khi áp dụng kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ ở cấp cộng đồng trong canh tác lúa hiện nay? 1.4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 1.1 Giới hạn không gian Đề tài “Thử nghiệm kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ trong canh tác lúa tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang”, được thực hiện trên địa bàn 2 xã Văn Giáo và Vĩnh Trung.2 Giới hạn thời gian Từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 5 năm 2022 1.3 Giới hạn nội dung nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng quản lý nguồn nước trong sản xuất lúa của nông dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Bên cạnh đó, đề tài khảo sát hiệu quả mô hình áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước ngập – khô xen kẽ cấp cộng đồng của nông dân canh tác lúa tại huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Trong đó, đề tập trung các số liệu về chỉ tiêu sinh học và quản lý mực nước và năng suất lúa. Cuối cùng là đề tài xác định được những thuận lợi và khó khăn của nông dân khi tham gia vào mô hình tưới ngập – khô xen kẽ cấp độ cộng đồng và đưa ra những kiến nghị phù hợp với địa bàn nghiên cứu. 3 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU 2.1 Bản đồ vị trí địa lý huyện Tịnh Biên Huyện Tịnh Biên là một huyện thuộc vùng đồi núi thấp của tỉnh An Giang với tổng diện tích tự nhiên 354,591 km2, chiếm 10,03% so với tổng diện tích toàn tỉnh.
Dân số toàn huyện 108.485 người, mật độ dân số 306 người/km2 (Niên giám Thống kê huyện Tịnh Biên, 2019). Bản đồ hành chính huyện Tịnh Biên (Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên, 2022) 4 Theo Hình 1 thì vị trí địa lý huyện Tịnh Biên tiếp giáp: - Phía Bắc và Tây Bắc giáp với Campuchia. - Phía Nam và Tây Nam giáp huyện Tri Tôn. - Phía Đông giáp thành phố Châu Đốc và huyện Châu Phú.2 Đặc điểm tự nhiên huyện Tịnh Biên 2.1 Địa hình Theo Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên (2022), phân bố địa hình huyện với 3 dạng chính như sau: - Địa hình đồng bằng phù sa: Vùng này có tổng diện tích khoảng 20.260 ha (chiếm 57% diện tích huyện), phân bố khu vực phía Đông tỉnh lộ 948 và phía Bắc kênh Vĩnh Tế.
Địa hình này mang những nét đặt trưng chung của vùng đồng bằng Tây Nam Bộ với nền thổ nhưỡng phù sa sông được bồi đắp từ sông Hậu tạo điều kiện thuận lợi cho trồng lúa, nuôi trồng thủy sản và rừng ngập nước (trồng tràm). - Địa hình đồi núi thấp: Vùng này có tổng diện tích khoảng 6.330 ha (chiếm 17,81% diện tích tự nhiên của toàn huyện), phân bố ở các xã, thị trấn: An Phú, Nhơn Hưng, Thới Sơn, thị trấn Nhà Bàng, An Cư, An Hảo, Tân Lợi, Núi Voi. Các ngọn núi khác phân bố rãi rác giống như dạng đồi độc lập với độ cao trung bình khoảng 100 m. Thành phần chủ yếu của các ngọn núi này là đá có lẫn cát.
Đây là vùng có tiềm năng khoáng sản, vật liệu xây dựng, phù hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng với nhiều đồi núi, danh lam thắng cảnh đẹp. - Địa hình đồng bằng nghiêng ven chân núi: Tổng diện tích vùng này khoảng 8.953 ha (chiếm khoảng 25,19% diện tích tự nhiên) phân bố ở các xã, thị trấn: Văn Giáo, Vĩnh Trung, An Cư, thị trấn Chi Lăng. Được hình thành từ quá trình rửa trôi đất cát trên núi. Vùng này có khả năng trồng cây ăn trái, trồng lúa đặc sản và phát triển trang trại chăn nuôi đàn gia súc.2 Khí hậu Huyện Tịnh Biên nằm trong vùng có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, có nền nhiệt cao và ổn định, lượng mưa nhiều và phân bổ theo mùa.3 Chế độ mưa và chế độ nắng Theo Cổng thông tin điện tử huyện Tịnh Biên (2022) chế độ nắng và chế độ mưa huyện như sau: - Tổng số giờ nắng bình quân hàng năm tương đối cao với 2.
Số giờ nắng thấp nhất của tháng là 153 giờ (thường vào tháng 9), số giờ nắng cao nhất 5 của tháng là 283 giờ (thường vào tháng 3). Mùa khô có số giờ nắng trung bình 8 giờ/ngày, mùa mưa có số giờ nắng trung bình 6 giờ/ngày.