Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở thực tiễn Tân Đức là một xã phía Bắc của huyện Phú Bình, là xã có truyền thống trồng rau màu lâu đời. Sản xuất rau mầu chiếm 80% diện tích đất nông nghiệp tại địa phương.
Sản xuất rau chính vụ đang được quan tâm đầu tư khá lớn nên năng xuất đạt cao nhưng hiệu quả sản xuất thấp do chính vụ lượng rau nhiều giá thành thấp. Người dân còn chưa quan tâm đầu tư sản xuất rau màu trái vụ do điều kiện thời tiết không được thuận lợi cũng chưa có các đầu tư về điều kiện sản xuất theo các mô hình lớn. Sản xuất rau trái vụ tại địa phương còn nhỏ lẻ, sinh trưởng kém, sâu bệnh nhiều, mất nhiều công chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, năng xuất rau trái vụ lại không cao do vậy mà giá thành rau trái vụ tuy cao nhưng không thu hút được người dân đầu tư sản xuất[18]. Sản xuất rau tại địa phương đang có xu hướng tăng, nhưng phương thức sản xuất của người dân lại không được thay đổi.
Người dân còn ngại áp dụng các khoa học kỹ thuật mới vào trong sản xuất. Trong sản xuất rau người dân vẫn sử dụng nhiều thuốc hóa học bảo vệ thực vật, thuốc độc cấm sử dụng, nguồn nước, nước rửa bẩn, ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng rau. Tuy đã có lịch sử trồng rau lâu đời nhưng tại địa phương vẫn sản xuất rau theo lối lạc hậu. Các loại rau trồng chủ yếu là trồng không có phân bón hay nếu có thì cũng chỉ sử dụng rất ít các loại phân hóa học.
Theo thống kê thì mới chỉ có 30% số hộ thâm canh trong sản xuất trong đó thì phân hữu cơ đáp mới đáp ứng 20% nhu cầu của cây, phân đạm là 30%, phân lân 10%, kaly 10% nhu cầu để cây cho năng xuất cao nhất. Tại địa phương 90% người dân trồng rau để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của gia đình khi dư thừa mới đem bán vì vậy mà họ chưa quan tâm đến việc bón phân để tăng năng xuất cây trồng. Theo sản xuất truyền thống Phân bón sẽ được dùng để bón thúc hay bón lót cho cây có thể bón theo thời kỳ hoặc người dân thấy khi cây thiếu dinh dưỡng sẽ n 6 bón bổ sung cho cây. Các loại phân được sử dụng là các loại phân đơn như ure, kaly phân lân hoặc các loại phân đa lượng như NPK tổng hợp…Phân bón sẽ được bón trực tiếp vào đất hoặc pha loãng với nước rồi tưới.
Các loại phân bón vào đất làm ảnh hưởng lớn đến hệ sinh vật đất, nước,khi bón phân song có thể bị rủa trôi do ảnh hưởng của mưa bão. Bón phân hóa học lâu dài vào đất sẽ pha hủy cấu trúc của đất và lâu dần sẽ làm ảnh hưởng đến các đặc tính tốt vốn có của đất. Các loại phân bón vào đất rất phổ biến và được dùng quen thuộc thì một số loại phân bón lá lại không được người dân sử dụng trong sản xuất tại địa phương tuy phân bón lá đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nơi và nghiên cứu chỉ ra những lợi thế của nó[2]. Thói quen của người dân địa phương là sử dụng thuốc trừ sâu liều lượng cao, sử dụng thường xuyên một loại thuốc, dừng thuốc khi sâu bệnh chưa vượt ngưỡn gây hại kinh tế mà thực tế các loại sâu bệnh phát sinh phát triển rất nhanh, và biến chuyển thành rất nhiều thể khác nhau vì vậy mà việc phòng trừ sâu bệnh gặp rất nhiều khó khăn.
Phương thức sản xuất của người dân thường không tuân thủ các quy định về việc sử dụng các loại thuốc an toàn cho rau và quy định về thời gian cách ly hợp lý. Vì vậy tìm ra giải pháp để phòng trừ sâu bệnh, nâng cao hiệu quả trồng rau mà đảm bảo an toàn cho người sử dụng và hệ sinh vật đất là rất cần thiết. Từ thực tiễn trên việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau tại địa phương để nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao chất lượng rau, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển nền nông nghiệp bền vững là yêu cầu thiết yếu. Cơ sở lý luận Quy trình sản xuất rau theo tiêu chuẩn Việt Gap là phải được giảm thiểu tác động của sản xuất đến môi trường tự nhiên, làm cân bằng hệ sinh thái tự nhiên để tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, hướng sản xuất đến một nền nông nghiệp bền vững lâu dài[12].
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sản xuất che phủ đất là một biện pháp rất quan trọng trong việc tăng và ổn định năng suất cây trồng mà không cần sử dụng nhiều phân bón, nhất là phân hoá học. Làm giảm tối đa tác động làm sói mòn rửa trôi, tạo ra một hệ sinh vật đất phong phú tạo điều kiện để đất phì nhiêu hơn[18]. Hơn thế nữa việc sử dụng nhiều phân hữu cơ trong sản xuất sẽ đem lại rất nhiều lợi ích, phân hữu cơ có vai trò rất lớn trong việc cải tạo độ phì của đất do n 7 thành phần chủ yếu của phân hữu cơ là C, H. Dưới tác dụng phân hủy của hệ vi sinh vật đất các chất này dần trở thành các dinh dưỡng quan trọng cung cấp cho cây trồng.
Chất hữu cơ liên kết với các hạt khoáng hình thành nên cấu trấu dạng viên của đất, tạo cho đất tính đàn hồi, tơi xốp tăng khả năng giữ nước và dinh dưỡng trong đất. Trong phân hữu cơ còn chứa các nguyên tố vi lượng thiết yếu cho đời sống của cây trồng, là thành phần quan trọng tạo năng xuất cao cho cây trồng[2]. Hiện nay sản xuất nông nghiệp theo xu thế năng suất cao nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng tốt và không phá vỡ hệ sinh thái tự nhiên. Các biện pháp sử dụng quá nhiều các chất hóa học như phân bón hóa học, thuốc hóa học bảo vệ thực vật đã làm mất đi hệ sinh thái tự nhiên vốn có.
Các biện pháp kỹ thuật sản xuất mới như sử dụng các loại phân bón qua lá, giảm việc bón phân trực tiếp vào đất vừa cung cấp kịp thời nguồn dinh dưỡng cho cây trồng mà không gây ảnh hưởng tới hệ sinh vật đất như khi bón trực tiếp vào đất. Áp dụng các chế phẩm có nguồn gốc sinh học là sử dụng hình thức đối kháng tự nhiên không có chất hóa học, không phá vỡ hệ sinh thái sinh vật, không ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng mà còn đẩy mạnh một nền sản xuất tiên tiến bền vững[12]. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những nghiên cứu về che phủ đất trên thế giới và Việt Nam 1.
Những nghiên cứu về che phủ đất trên thế giới Che phủ đất là biện pháp sản xuất trong đó cây trồng được che phủ bằng các vật liệu che phủ hay được che phủ bằng các loại cây trồng khác nhằm nhiều lợi ích khác nhau để tăng năng suất cây trồng, giảm thiểu sâu bệnh hại, bảo vệ đất và hệ sinh vật đất duy trì một nền sản xuất bền vững. Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về che phủ đất đã chứng minh lợi ích của che phủ với sản xuất là rất lớn. Tiến sĩ Lienhard pascal [18] đã nghiên cứu các giải pháp để bảo vệ đất trồng đồng thời cũng tăng được năng suất cây trồng tại Saybouni ( Lào) trong đó có biện pháp che phủ đất kết hợp với xen canh, trồng cây ngắn ngày sẽ giúp tăng vụ trồng, tăng năng suất, giảm công lao động, giảm rủi do trong sản xuất che phủ giúp bảo vệ môi trường đất, thảm thiểu sói mòn rửa trôi dinh dưỡng, bảo vệ các đặc tính của đất n 8 như độ xốp, khả năng giữ nước. Che phủ kết hợp với xen canh giúp hiệu quả kinh tế tăng 15%.
Theo nghiên cứu của Lienhard thì che phủ đất kết hợp cải tạo đất sẽ giúp giảm 50% lượng phân bón trong sản xuất, từ đó sẽ tăng được hiệu quả sản xuất. Việc nghiên cứu và sử dụng cây trồng xen, che phủ ngô ở một số nước đang phát triển bắt đầu từ những năm 1960 như: Braxin, Mehico, Ấn Độ… [5]. Che phủ trên ngô đã giúp năng suất ngô tăng 15%, giảm lượng phân bón vào đất 30%. Mô hình trồng xen và che phủ đất được phất triển rộng khắp ở các nước trên[18].
Nghiên cứu mới của Galinato và Miles đã được công bố trong HortTechnology đã nêu các thông tin cụ thể về các biện pháp thực hành hiệu quả cho cà chua và rau diếp, chi phí biến đổi và chi phí cố định của sản xuất và lợi nhuận tiềm năng dựa trên các nhận định nhất định về hệ thống che phủ hoặc sản xuất ở cánh đồng ngoài trời của từng loại cây trồng. Các nhà nghiên cứu đã nhóm họp các nhóm gồm 3-4 người trồng ở miền tây Washington vào giữa tháng 4 và tháng 11 năm 2011[18]. Những đất nước có thành tựu nông nghiệp to lớn như Mỹ, Hà Lan, Trung Quốc, Isren, Hàn Quốc đã áp dụng kỹ thuật che phủ đất trong sản xuất với các loại rau, hoa mầu và đã nâng cao được năng xuất lên 3 lần, góp phần vào sản xuất nông nghiệp bền vững tạo ra các sản xuất nổi tiếng khắp thế giới. Những nghiên cứu về che phủ đất ở Việt Nam Trên thế giới nói chung cũng như ở nước ta nói riêng sự thoái hóa đất đang là sự thách thức lớn trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp.
Đất đai bị thoái hóa không những mất đi độ màu mỡ mà còn kéo theo sự mất nước, dinh dưỡng và đồng thời gây ra hàng loạt những hậu quả như: lũ lụt, hạn hán, sạt lở đất v. Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định vai trò của việc che phủ đất với nền nông nghiệp sinh thái bền vững. Khi đánh giá về sự thoái hóa đối với đất ở Đông Nam Á và vai trò của con người trong việc ngăn chặn nguy cơ này FAO - UNEP (ISRIC 1997), cho rằng biện pháp sinh học (dùng các cây che phủ đất) có hiệu quả cao nhất. n 9 Theo Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm 1994, Lê Quốc Doanh – Hà Đình Tuấn [18] cùng các cộng sự.
khẳng định vai trò không thể thay thế được các biện pháp sinh học trong việc ngăn chặn và phục hồi sự thoái hóa của đất dốc đó chính là che phủ đất trong nông nghiệp. Việc nghiên cứu tập đoàn cây che phủ bảo vệ và cải tạo đất, đã có nhiều kết quả đáng khích lệ.