Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học là yêu cầu cốt lõi được khẳng định trong Nghị quyết số 29-NQ/TW (Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI), Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 (Điều 28, Chương 2) và Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Trọng tâm của quá trình này là chuyển dịch từ phương pháp truyền thụ tri thức áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc sang tổ chức hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển kỹ năng làm việc nhóm và khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn.
Môn Công nghệ 9 tại trường Trung học cơ sở (THCS) giữ vai trò trang bị tri thức khoa học kỹ thuật và kỹ năng thực hành nghề cơ bản, gắn liền mật thiết với đời sống gia đình và hoạt động sản xuất. Mặc dù môn học mang tính thực hành cao, thực tiễn dạy học môn Công nghệ 9 tại các trường phổ thông hiện còn gặp nhiều khó khăn:
- Đội ngũ giáo viên giảng dạy phần lớn là giáo viên kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn bộ môn, phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn dựa trên thuyết trình và giảng giải một chiều.
- Học sinh thường có tâm lý xem Công nghệ là môn học phụ nên học đối phó, thiếu động lực và sự tập trung.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ các tiết thực hành còn thiếu thốn, dẫn đến tình trạng dạy học "chay", làm giảm chất lượng và hiệu quả tiếp thu tri thức.
Kỹ thuật khăn trải bàn là một kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học hợp tác, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động cá nhân độc lập và thảo luận nhóm. Kỹ thuật này giúp thúc đẩy sự tham gia đồng đều của học sinh, rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, nâng cao tinh thần trách nhiệm và tương tác đa chiều. Xuất phát từ cơ sở đó, tác giả Nguyễn Lệ Thu (ngành Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Vận dụng kĩ thuật khăn trải bàn trong DH thực hành mô đun nấu ăn công nghệ 9".
Mục tiêu nghiên cứu
Vận dụng kỹ thuật khăn trải bàn trong dạy học thực hành mô đun Nấu ăn môn Công nghệ 9 nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động và kết quả học tập của học sinh.
Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng kỹ thuật khăn trải bàn trong dạy học thực hành mô đun Nấu ăn môn Công nghệ 9 một cách hợp lý và khoa học thì sẽ nâng cao được tính tích cực, chủ động và kết quả học tập của học sinh.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa tài liệu, xây dựng cơ sở lý luận của đề tài về phương pháp dạy học thực hành và kỹ thuật khăn trải bàn.
- Phân tích mục tiêu dạy học và cấu trúc nội dung phần thực hành mô đun Nấu ăn môn Công nghệ 9.
- Điều tra, khảo sát và mô tả thực trạng dạy và học môn Công nghệ 9, thực trạng sử dụng kỹ thuật khăn trải bàn tại trường THCS.
- Thiết kế tiến trình dạy học và bộ công cụ phiếu giao nhiệm vụ vận dụng kỹ thuật khăn trải bàn cho các bài thực hành: "Thực hành món nộm đu đủ" (Tiết 17), "Thực hành món nem cuốn" (Tiết 18), "Thực hành món thịt kho tàu" (Tiết 19).
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính phù hợp, tính khả thi và hiệu quả của việc vận dụng kỹ thuật khăn trải bàn trong dạy học thực hành mô đun Nấu ăn môn Công nghệ 9.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình và biện pháp vận dụng kỹ thuật khăn trải bàn trong dạy học thực hành mô đun Nấu ăn môn Công nghệ 9; tính tích cực học tập của học sinh THCS.
- Khách thể nghiên cứu: 84 học sinh khối lớp 9 tại Trường THCS Cao Xá (huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang), bao gồm 42 học sinh lớp 9B (lớp đối chứng) và 42 học sinh lớp 9C (lớp thực nghiệm).
- Phạm vi nội dung và thời gian: Nghiên cứu tập trung vào 3 bài dạy thực hành thuộc mô đun Nấu ăn (Tiết 17, 18, 19). Thời gian triển khai thực nghiệm sư phạm diễn ra từ ngày 19/01/2022 đến ngày 10/02/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm cơ bản
Khóa luận tổng hợp hệ thống cơ sở lý luận sư phạm dựa trên các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:
- Dạy học và phương pháp dạy học: Dẫn chiếu quan điểm của Phan Trọng Ngọ (2005), Nguyễn Ngọc Quang (1970), Đặng Vũ Hoạt (1971), Đinh Quang Báo (2000) về bản chất quá trình dạy học và vai trò chỉ đạo của giáo viên kết hợp với vai trò chủ thể của học sinh.
- Dạy học thực hành môn Công nghệ: Dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Kim Dung (2008), chỉ rõ bản chất "học bằng cách làm, làm để học", trải nghiệm thực tế giúp biến đổi cách tư duy và hình thành kỹ năng nghề cơ bản.
- Tính tích cực học tập: Dẫn chiếu phân loại 3 cấp độ tích cực nhận thức của Sukina (1979) (bắt chước tái hiện, tìm tòi, sáng tạo) cùng các nghiên cứu về tính tích cực nhận thức của Hoàng Phê (1994), Nguyễn Tất Thắng (2006), Vũ Hồng Tiến (2010), Nguyễn Thị Ánh (2010).
- Phương pháp dạy học tích cực và dạy học nhóm: Khung lý luận của Trần Bá Hoành (1994), Nguyễn Kỳ (1995), Nguyễn Thị Phương Hoa (2009), Nguyễn Ngọc Thúy (2015), Nguyễn Thị Hồng Nam (2002), Trương Thị Hoa (2008) về cách tổ chức nhóm nhỏ, phân chia quy mô nhóm (nhóm đôi, nhóm 3–5 học sinh, nhóm 6–10 học sinh).
- Kỹ thuật khăn trải bàn (KTDH KTB): Tiếp thu tài liệu của Dự án Việt Bỉ (Dự án Việt Bỉ I giai đoạn 1999–2003, Dự án Việt Bỉ II giai đoạn 2005–2009) và công trình của Nguyễn Văn Tú (2017), Nguyễn Văn Cường (2010). Kỹ thuật này tổ chức trên khổ giấy A0, chia thành ô trung tâm (ghi ý kiến thống nhất chung của nhóm) và các ô xung quanh (dành cho ý kiến làm việc độc lập của từng cá nhân thành viên).
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận phối hợp các phương pháp nghiên cứu sư phạm chuyên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước; chương trình, sách giáo khoa môn Công nghệ 9; các giáo trình lý luận dạy học và công trình nghiên cứu liên quan đến kỹ thuật khăn trải bàn.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ thao giảng giáo viên dạy Công nghệ 9, quan sát tinh thần, thái độ, mức độ tập trung, tính tích cực và không khí lớp học ở cả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng; khảo sát cơ sở vật chất phục vụ dạy học tại trường THCS.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Phát phiếu khảo sát cho 84 học sinh khối lớp 9 và phỏng vấn trực tiếp giáo viên giảng dạy môn Công nghệ 9 tại Trường THCS Cao Xá nhằm thu thập dữ liệu về thái độ học tập, thói quen chuẩn bị bài và thực trạng sử dụng phương pháp dạy học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học song song giữa lớp thực nghiệm 9C (sử dụng kỹ thuật khăn trải bàn trong hoạt động nhóm) và lớp đối chứng 9B (sử dụng phương pháp truyền thống: thuyết trình, vấn đáp, thực hành cá nhân).
- Phương pháp thống kê toán học xử lý số liệu: Điểm kiểm tra (đánh giá trên thang điểm 10) được xử lý qua các tham số:
- Điểm trung bình cộng: $\bar{X} = \frac{1}{n}\sum_{i=1}^{k} n_i x_i$
- Phương sai mẫu: $S^2 = \frac{1}{n}\sum_{i=1}^{k} n_i (x_i - \bar{X})^2$ (với $n \ge 30$)
- Sai số trung bình: $m = \frac{S}{\sqrt{n}}$
- Hệ số biến thiên: $C_v% = \frac{S}{\bar{X}} \times 100%$
- Kiểm định tham số Student để so sánh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giá trị trung bình:
$$t_d = \frac{|\bar{X}_1 - \bar{X}2|}{\sqrt{\frac{S_1^2}{n_1} + \frac{S_2^2}{n_2}}}$$
So sánh $t_d$ với giá trị tới hạn $t\alpha$ tra bảng tại mức ý nghĩa $\alpha = 0{,}05$.
- Lập bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất cộng dồn.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu
Tác giả điểm lại lịch sử nghiên cứu tư tưởng dạy học phát huy tính chủ động từ thời cổ đại (phương pháp Ơristic của Socrate), các nhà sư phạm tiến bộ (A.Komenski, J.J.Rousseau, Montaigne, Fourier) đến phong trào "Lớp học kiểu mới" tại Pháp và xu hướng "dạy học lấy người học làm trung tâm" tại Việt Nam từ thập niên 1990 (Trần Bá Hoành, Nguyễn Kỳ).
Về kỹ thuật khăn trải bàn, tác giả tổng thuật các nghiên cứu ứng dụng trước đó trong nước như: Vũ Ngọc Trai (2014, Lịch sử 11), Trần Thị Lành (2016, Công nghệ 10), Nguyễn Thanh Thư (2016, Chăn nuôi gia cầm trung cấp), Nguyễn Văn Tú (2017, Công nghệ 10), Nguyễn Thị Nhung (2019, Công nghệ 10). Tác giả chỉ ra rằng chưa có công trình nào nghiên cứu vận dụng kỹ thuật này vào dạy học thực hành mô đun Nấu ăn môn Công nghệ 9 cấp THCS.
Khóa luận tiến hành phân tích mục tiêu (kiến thức, năng lực chung, năng lực công nghệ, phẩm chất) và cấu trúc 8 bài thực hành của mô đun Nấu ăn Công nghệ 9:
| STT |
Tên bài học |
Nội dung chính |
| 1 |
Bài 5: Thực hành xây dựng thực đơn |
Xây dựng thực đơn bữa ăn thường ngày và bữa tiệc, liên hoan, chiêu đãi. |
| 2 |
Bài 6: Trình bày và trang trí bàn ăn |
Quy trình, nguyên tắc sắp xếp bàn ăn theo phong cách Việt Nam và Phương Tây. |
| 3 |
Bài 7: Thực hành chế biến món ăn không sử dụng nhiệt: Món trộn - Cuốn hỗn hợp |
Nguyên tắc chung, yêu cầu kỹ thuật và quy trình chế biến món: Nộm su hào, Nộm đu đủ, Nem cuốn. |
| 4 |
Bài 8: Thực hành chế biến các món ăn có sử dụng nhiệt: Món nấu |
Nguyên tắc chung, yêu cầu kỹ thuật và quy trình chế biến món: Súp ngô gà, Thịt kho tàu, Chè hoa cau. |
| 5 |
Bài 9: Thực hành: Món hấp |
Nguyên tắc chung, yêu cầu kỹ thuật và quy trình chế biến món: Gà hấp cải bẹ xanh, Bánh nếp nhân đậu xanh, Xôi vò, Chả đùm. |
| 6 |
Bài 10: Thực hành: Món rán |
Nguyên tắc chung, yêu cầu kỹ thuật và quy trình chế biến món: Đậu phụ nhồi thịt rán sốt cà chua, Nem rán. |
| 7 |
Bài 11: Thực hành: Món xào |
Nguyên tắc chung, yêu cầu kỹ thuật và quy trình chế biến món: Xào thập cẩm, Sườn xào chua ngọt, Mì xào giòn. |
| 8 |
Bài 12: Thực hành: Món nướng |
Nguyên tắc chung, yêu cầu kỹ thuật và quy trình chế biến món: Thịt lợn nướng, Chả nướng, Bánh đậu xanh nướng, Bánh khoai nướng, Bánh trứng nướng. |
Tác giả đánh giá cấu trúc chương trình được sắp xếp khoa học từ đơn giản đến phức tạp. Tuy nhiên, khối lượng công việc trong mỗi tiết thực hành tương đối lớn, đòi hỏi nhiều khâu từ chuẩn bị nguyên liệu, sơ chế, chế biến đến trình bày. Do đó, việc tổ chức làm việc nhóm kết hợp kỹ thuật khăn trải bàn là giải pháp phù hợp nhằm tận dụng trí tuệ tập thể và phân hóa hoạt động.
Phần II: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần này trình bày chi tiết quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu, quy chuẩn chọn mẫu tương đương giữa lớp thực nghiệm 9C và lớp đối chứng 9B, xây dựng hệ thống tiêu chí quan sát sư phạm, kế hoạch phát phiếu điều tra và quy trình xử lý số liệu định lượng bằng công thức thống kê toán học.
Phần III: Kết quả và thảo luận
Nội dung chương này bao gồm 3 mảng kết quả chính:
1. Khảo sát thực trạng dạy và học tại Trường THCS Cao Xá (Bắc Giang)
- Về cơ sở vật chất và đội ngũ: Trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2, có 43 cán bộ giáo viên đạt chuẩn/trên chuẩn. Khối 9 có 4 lớp. Trường trang bị máy chiếu, tivi, phòng tin học nhưng đồ dùng trực quan và thiết bị thực hành chuyên dụng cho môn Công nghệ còn hạn chế.
- Về phía giáo viên: 100% giáo viên được phỏng vấn khẳng định việc vận dụng kỹ thuật khăn trải bàn trong dạy học Công nghệ là rất cần thiết nhằm phát triển năng lực làm việc nhóm, tư duy độc lập và kỹ năng giải quyết vấn đề.
- Về phía học sinh (khảo sát trên 84 học sinh):
- Thái độ với môn học: 59,52% (25 học sinh) không thích học môn Công nghệ 9 vì coi là môn phụ; 16,67% (7 học sinh) giữ thái độ trung lập; chỉ 23,80% (10 học sinh) thích học.
- Tương tác trong giờ học: 71,43% (30 học sinh) không bao giờ phát biểu xây dựng bài; 19,05% (8 học sinh) ít phát biểu; chỉ 9,53% (4 học sinh) tích cực phát biểu.
- Thói quen tự học ở nhà: 76,04% hiếm khi đọc bài trước; 23,96% không bao giờ đọc bài trước khi đến lớp; 71,87% hiếm khi đọc tài liệu liên quan.
- Mức độ hợp tác nhóm: 76,04% không bao giờ trao đổi, thảo luận với bạn về nội dung bài học; 14,58% hiếm khi thảo luận; chỉ 9,38% thỉnh thoảng có trao đổi.
2. Thiết kế bộ sản phẩm giáo án và phiếu giao nhiệm vụ
Tác giả thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động học theo kỹ thuật khăn trải bàn cho 3 bài dạy cụ thể, mỗi lớp chia làm 7 nhóm (6 học sinh/nhóm ngồi quanh bàn học):
- Tiết 17 (Bài 7): Thực hành chế biến món ăn không sử dụng nhiệt - Món nộm đu đủ (Phiếu giao nhiệm vụ 17.1).
- Tiết 18 (Bài 7): Thực hành chế biến món ăn không sử dụng nhiệt - Món nem cuốn (Phiếu giao nhiệm vụ 18.1).
- Tiết 19 (Bài 8): Thực hành chế biến món ăn có sử dụng nhiệt - Món thịt kho tàu (Phiếu giao nhiệm vụ 19.1).
Quy trình tổ chức dạy học trên lớp được thực hiện đồng bộ theo 3 bước:
- Giao nhiệm vụ và chuẩn bị: Phiếu giao nhiệm vụ được phát từ tiết học trước để học sinh tìm hiểu tài liệu, người thân, mạng Internet trong 1 tuần. Khi vào tiết học, mỗi cá nhân có 3 phút ghi ý kiến độc lập vào ô số của mình trên giấy A0; sau đó cả nhóm có 3 phút thảo luận để thống nhất ghi kết quả chung vào ô trung tâm.
- Báo cáo và chấm chéo: Các nhóm đổi chéo sản phẩm khăn trải bàn; đại diện 1 nhóm báo cáo, các nhóm khác lắng nghe, nhận xét và tiến hành chấm điểm chéo (1 phút cá nhân chấm, 2 phút nhóm thống nhất điểm).
- Chuẩn hóa kiến thức: Giáo viên đóng vai trò trọng tài, đối chiếu đáp án chuẩn, nhận xét ưu - nhược điểm và tổng kết kiến thức.
Tổng số lần sử dụng khăn trải bàn trong 3 bài thực nghiệm là 06 lần, tập trung chủ yếu vào 2 khâu: Dạy bài mới và Hình thành quy trình thực hiện.
3. Kết quả thực nghiệm sư phạm
Khóa luận so sánh mẫu thực nghiệm và đối chứng đảm bảo tính tương đồng trước thực nghiệm:
| Tiêu chí so sánh |
Lớp 9C (Lớp thực nghiệm) |
Lớp 9B (Lớp đối chứng) |
| Sĩ số |
42 học sinh |
42 học sinh |
| Tỉ lệ Nam : Nữ |
18 : 22 (tương đương) |
19 : 23 (tương đương) |
| Tỉ lệ học sinh Giỏi |
11,52% |
Tương đương |
| Tỉ lệ học sinh Khá |
66,67% |
66,53% |
| Tỉ lệ học sinh Trung bình |
21,80% |
Tương đương |
| Tỉ lệ học sinh Yếu |
0% |
0% |
Quy trình đánh giá gồm: kiểm tra ngắn 5 phút (trắc nghiệm khách quan sau mỗi bài) để đánh giá mức độ lĩnh hội tức thời, và kiểm tra 45 phút sau đợt thực nghiệm (kết hợp trắc nghiệm và tự luận) để đo lường độ bền kiến thức và kỹ năng thực hành.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Khảo sát định lượng thực trạng: Đã cung cấp bức tranh số liệu rõ ràng về thực trạng dạy và học môn Công nghệ 9 tại trường THCS Cao Xá: trên 70% học sinh thụ động, không tham gia thảo luận nhóm và không phát biểu xây dựng bài; gần 60% không có hứng thú với môn học.
- Hệ thống hóa sản phẩm sư phạm: Thiết kế hoàn chỉnh 3 giáo án thực hành (Nộm đu đủ, Nem cuốn, Thịt kho tàu) tích hợp kỹ thuật khăn trải bàn, đi kèm hệ thống 3 phiếu giao nhiệm vụ tự học trước tại nhà và tiêu chí đánh giá chéo giữa các nhóm.
- Quy trình hóa các bước dạy học: Chuẩn hóa quy trình 3 bước vận dụng khăn trải bàn trong tiết thực hành Công nghệ 9 với sự phân định rõ ràng thời gian cho từng khâu (3 phút cá nhân $\rightarrow$ 3 phút nhóm $\rightarrow$ chấm chéo $\rightarrow$ chuẩn hóa).
Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Khóa luận cụ thể hóa lý luận về phương pháp dạy học tích cực và kỹ thuật khăn trải bàn vào một phân môn mang tính đặc thù cao là thực hành nấu ăn cấp THCS; làm rõ mối quan hệ giữa hoạt động cá thể hóa và hoạt động hợp tác nhóm trong hình thành kỹ năng kỹ thuật.
- Về mặt thực tiễn: Khóa luận giải quyết khoảng trống nghiên cứu khi trước đó kỹ thuật khăn trải bàn chủ yếu được thử nghiệm ở các môn Lý luận, Lịch sử hoặc Công nghệ cấp THPT, chưa được nghiên cứu áp dụng trực tiếp cho phân môn Nấu ăn Công nghệ 9 THCS. Bộ giáo án và phiếu giao nhiệm vụ có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho giáo viên giảng dạy môn Công nghệ tại các trường THCS.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Giới hạn phạm vi nội dung: Do hạn chế về mặt thời gian và điều kiện thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tác giả chỉ tập trung áp dụng kỹ thuật khăn trải bàn vào 3 bài thực hành cụ thể (Tiết 17, 18, 19) thuộc mô đun Nấu ăn, chưa thể mở rộng ra toàn bộ 8 bài thực hành trong chương trình.
- Phạm vi khâu dạy học: Kỹ thuật khăn trải bàn mới chỉ được tập trung sử dụng ở khâu chuẩn bị bài mới và khâu hình thành quy trình thực hiện, chưa khai thác triệt để ở các khâu thao tác kỹ thuật thực tế và khâu nghiệm thu sản phẩm nấu ăn tại lớp.
- Quy mô thực nghiệm: Khảo sát và thực nghiệm mới chỉ tiến hành trên phạm vi 84 học sinh thuộc 2 lớp 9B và 9C tại một địa bàn duy nhất là Trường THCS Cao Xá (huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng thiết kế bài giảng và phiếu giao nhiệm vụ vận dụng kỹ thuật khăn trải bàn cho toàn bộ các bài thực hành còn lại của mô đun Nấu ăn (các món hấp, món rán, món xào, món nướng, xây dựng thực đơn, trang trí bàn ăn).
- Mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm sang nhiều trường THCS thuộc các địa bàn khác nhau (đô thị, nông thôn, miền núi) với điều kiện cơ sở vật chất và đối tượng học sinh đa dạng hơn.
- Nghiên cứu kết hợp kỹ thuật khăn trải bàn với các kỹ thuật dạy học tích cực khác (sơ đồ tư duy, kỹ thuật mảnh ghép, dạy học theo góc, dạy học theo dự án) để tối ưu hóa quy trình dạy học thực hành môn Công nghệ.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với các nhóm đối tượng:
- Giáo viên môn Công nghệ cấp THCS: Tham khảo mẫu giáo án thực hành, cách thiết kế phiếu giao nhiệm vụ chuẩn bị bài ở nhà và quy trình phân bổ thời gian hợp lý (3 phút cá nhân, 3 phút thảo luận nhóm, 3 phút đánh giá chéo) khi triển khai kỹ thuật khăn trải bàn trên lớp học.
- Sinh viên ngành Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp, Sư phạm Công nghệ: Làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu sư phạm, cách xây dựng đề cương khóa luận, thiết kế công cụ điều tra thực trạng, thiết kế tiến trình thực nghiệm và quy trình xử lý số liệu kiểm định thống kê toán học bằng phần mềm/công thức toán thống kê.
- Cán bộ quản lý chuyên môn giáo dục THCS: Dùng làm tư liệu minh chứng thực tiễn phục vụ các chuyên đề bồi dưỡng phương pháp dạy học tích cực và đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo định hướng phát triển năng lực của Chương trình GDPT 2018.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận triển khai thực nghiệm kỹ thuật khăn trải bàn cho những bài học cụ thể nào?
Khóa luận thiết kế và tổ chức dạy học thực nghiệm cho 3 bài học thuộc mô đun Nấu ăn môn Công nghệ 9:
- Tiết 17: Thực hành chế biến món ăn không sử dụng nhiệt - Món nộm đu đủ (Bài 7).
- Tiết 18: Thực hành chế biến món ăn không sử dụng nhiệt - Món nem cuốn (Bài 7).
- Tiết 19: Thực hành chế biến món ăn có sử dụng nhiệt - Món thịt kho tàu (Bài 8).
2. Khách thể và địa bàn thực nghiệm của đề tài được lựa chọn như thế nào?
Đề tài được tiến hành trên 84 học sinh khối 9 tại Trường THCS Cao Xá, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Khách thể nghiên cứu được chia đều thành hai nhóm có điều kiện học lực và hạnh kiểm tương đương: lớp thực nghiệm 9C (42 học sinh) và lớp đối chứng 9B (42 học sinh).
3. Kết quả khảo sát thực trạng học tập môn Công nghệ 9 của học sinh trước thực nghiệm cho thấy những con số nổi bật nào?
Khảo sát trên 84 học sinh cho thấy:
- 59,52% học sinh không thích học môn Công nghệ 9 do coi đây là môn phụ.
- 71,43% học sinh không bao giờ phát biểu ý kiến xây dựng bài trong giờ học.
- 76,04% học sinh hiếm khi đọc bài trước ở nhà và 76,04% không bao giờ thảo luận nhóm với bạn học.
- 100% giáo viên được khảo sát đều khẳng định việc vận dụng kỹ thuật khăn trải bàn vào dạy học môn Công nghệ là cần thiết.
4. Quy trình hoạt động nhóm theo kỹ thuật khăn trải bàn trong giáo án được tổ chức ra sao?
Mỗi lớp được chia thành 7 nhóm (6 học sinh/nhóm ngồi quanh bàn). Giáo viên phát giấy A0 có vẽ sơ đồ khăn trải bàn gồm 6 ô cá nhân xung quanh và 1 ô nhóm ở giữa. Học sinh chuẩn bị phiếu nhiệm vụ ở nhà trong 1 tuần. Tại lớp, mỗi cá nhân có 3 phút ghi ý kiến độc lập vào ô số của mình, sau đó nhóm có 3 phút thảo luận để ghi ý kiến thống nhất vào ô giữa, tiếp theo là đổi chéo sản phẩm để chấm điểm chéo và giáo viên nhận xét, chuẩn hóa kiến thức.
5. Những công thức thống kê toán học nào được tác giả sử dụng để đánh giá kết quả thực nghiệm?
Tác giả sử dụng các công thức thống kê toán học chuyên ngành gồm: điểm trung bình cộng ($\bar{X}$), phương sai mẫu ($S^2$), sai số trung bình ($m$), hệ số biến thiên ($C_v%$), kiểm định độ tin cậy sai khác trung bình Student ($t_d$ so sánh với $t_\alpha$ ở mức ý nghĩa $\alpha = 0{,}05$), cùng bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất cộng dồn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Lệ Thu đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phương pháp dạy học tích cực và kỹ thuật khăn trải bàn, đồng thời phân tích sâu sắc cấu trúc nội dung phần thực hành mô đun Nấu ăn môn Công nghệ 9 THCS. Đề tài đã phản ánh chính xác thực trạng dạy và học bộ môn tại Trường THCS Cao Xá (Bắc Giang), làm cơ sở xây dựng thành công bộ giáo án và phiếu giao nhiệm vụ cho 3 bài thực hành điển hình. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, cung cấp một quy trình sư phạm khả thi, góp phần nâng cao tính tích cực nhận thức, tinh thần làm việc hợp tác và chất lượng dạy học môn Công nghệ cấp trung học cơ sở.