đặt vấn đề và giải quyết vấn đề HS tự đánh giá và điều chỉnh làm cơ sở cho GV cho điểm. Những dấu hiệu đặc trưng của PPDHTC: + DH lấy HS làm trung tâm + DH thông qua tổ chức các hoạt động cho HS + DH chú trọng PP tự học, tự nghiên cứu 11 + Tăng cường học tập rèn luyện cá thể, phối hợp với học tập hợp tác + Kết hợp đánh giá cả thầy và tự đánh giá của trò Như vậy, với PPDHTC yếu tố chi phối mọi tình huống và hoạt động nhận thức là người học. Trong PPDHTC đều mang những nét khác biệt so với yếu tố tương ứng trong PPDH truyền thống. Khái niệm kĩ thuật DH Theo Nguyễn Văn Cường (2010): “KTDH là những biện pháp, cách thức hành động của của GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình DH.
Các KTDH là những đơn vị nhỏ nhất của PPDH. Có những KTDH chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng PPDH”. Khái niệm phương pháp DH theo nhóm nhỏ * Khái niệm nhóm Theo Nguyễn Thị Phương Hoa (2009) thì nhóm được hình thành bởi các nhân tố sau: - Tương tác: Các thành viên trong nhóm giao tiếp với nhau bằng lời nói hay ngôn ngữ cơ thể. Tương tác hai chiều, sự tham gia tích cực cá nhân sẽ đem lại sự thỏa mạn và gắn bó với nhau.
- Chia sẻ kinh nghiệm: Một tập hợp người nếu không thể gọi là nhóm nếu họ không cùng mục tiêu. Mục tiêu chính là động lực là kim chỉ nam cho hoạt động nhóm. Sự tham gia xây dựng mục tiêu chung sẽ đem lại hứng thú cho thành viên. - Hệ thống các nguyên tắc: Đây chính là luật lệ hướng dẫn hành vi mà nhóm đặt ra.
Sự tuân thủ quy tắc sẽ giúp nhóm hoạt động tốt. - Vai trò: Là khuôn mẫu của các hành vi quen thuộc mà cá nhân cần phát triển để phục vụ nhóm. - Hành vi trong nhóm: Khi thực hiện có 3 loại hành vi mà thành viên nhóm thường có: Hành vi hướng về công tác, hành vi củng cố nhóm, hành vi cá nhân. 12 Theo Nguyễn Ngọc Thúy (2015) thì nhóm là tập hợp những cá thể với nhau theo nguyên tắc nhất định.
Các dấu hiệu bản chất của nhóm là: - Nhóm có số thành viên rõ ràng, tức là một tập thể hai người hoặc nhiều người có thể nhận diện bằng tên hoặc loại người. - Các thành viên có ý thức về nhóm, tức là nhận diện nhau bằng một cách có ý thức. - Các thành viên trong nhóm có cùng mục đích tức là những mục tiêu, mục đích và có ý tưởng giống nhau. - Các thành viên lệ thuộc trong việc đáp ứng nhu cầu, tức là cần tới nhau nhằm đạt được mục đích vốn là lý do thành lập nhóm.
- Có sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm giao tiếp, tác động và phản ứng lẫn nhau. - Có khả năng hành động một cách thống nhất – nhóm có khả năng ứng cứu như một bộ phận duy nhất. Tóm lại, nhóm là một tập hợp những cá nhân có kỹ năng, năng lực bổ sung cho nhau và cùng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện một mục tiêu chung. Các thành viên trong nhóm tương tác với nhau, cùng chia sẻ kinh nghiệm để đạt được các mục tiêu chung đó.
* Cách thành lập nhóm Theo Nguyễn Thị Hồng Nam (2002) thì có nhiều cách thành lập nhóm, mỗi cách có những ưu, nhược điểm khác nhau, cụ thể: - Chia nhóm theo ngẫu nhiên: Trong cách này chúng ta có thể thực hiện đếm, chia theo dãy bàn, theo tổ, theo thứ tự danh sách lớp hoặc là các HS có thể tự lựa chọn nhóm cho mình. Cách này thường được sử dụng khi nội dung thảo luận không có gì đặc biệt. + Ưu điểm: Nhanh chóng hình thành được nhóm, nội quy của nhóm, các nhóm có thể thay đổi dễ dàng. + Nhược điểm: Có thể ảnh hưởng đến cơ cấu của nhóm.
13 - Chia nhóm theo sở thích: GV đưa ra nhiều chủ đề thảo luận khác nhau, HS được chọn những chủ đề mình thích. Nếu không chọn được thì GV sẽ gợi ý. Cách này thường được áp dụng khi cùng một lúc phải thảo luận nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau. + Ưu điểm: HS được làm việc theo sở thích của mình, do đó, làm việc chủ động, tích cực hơn, hiệu quả hơn.
+ Nhược điểm: Dễ xảy ra tranh luận gay gắt, khó thống nhất giữa các thành viên. * Kích thước nhóm Thông thường chúng ta có nhiều cách để chia nhóm sao cho phù hợp với số lượng HS trong lớp, phù hợp với cách bố trí bàn ghế, nhiệm vụ thảo luận và thời gian thảo luận. Theo Nguyễn Thị Hồng Nam (2002) và Nguyễn Văn Hiền (2003) phân chia theo số lượng người trong nhóm thì có một số kích thước nhóm như sau: - Nhóm ghép đôi: Đây là hình thức HS trao đổi với người bạn kề bên để giải quyết tình huống. Nhóm này thường được sử dụng khi giao cho HS chấm, sửa bài cho nhau qua phiếu học tập, bài tập… hoặc sau khi giao việc cá nhân, HS phải phát biểu, huy động kinh nghiệm đã có nhằm giải quyết vấn đề được nêu ra.
Để HS làm việc theo nhóm ghép đôi, GV phải tạo ra các lỗ hổng thông tin cho HS. HS A nắm giữ một số thông tin này, HS B nằm giữ một số thông tin khác, bằng cách hợp tác với nhau các em mới có thể thu được thông tin đầy đủ. Ưu điểm: Không mất thời gian tổ chức, không làm xáo trộn chỗ ngồi mà vẫn huy động được HS làm việc cùng nhau, phát huy được những ưu điểm của TLN. - Nhóm 3 - 5 HS: GV chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm từ 3 – 5 HS.
Các HS trong nhóm thảo luận với nhau để giải quyết các vấn đề đặt ra. Các dạng bài tập ở đây có thể là bài tập cho hoạt động trao đổi (mỗi nhóm giải quyết một 14 vấn đề của cùng một chủ đề) hoặc là bài tập cho hoạt động so sánh (tất cả các nhóm giải quyết vấn đề rồi so sánh vơi nhau). Ưu điểm: Tổ chức gọn nhẹ, không xáo trộn bàn ghế, huy động được tất cả các thành viên tham gia và giải quyết vấn đề của nhóm. - Nhóm 6 - 10 HS: Nhóm này có tính tổ chức, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên trong nhóm.
Về tổ chức cần kê lại bàn ghế theo vị tri ngồi của các nhóm để thuận lợi cho tổ chức DH trong lớp, có không gian đủ rộng để GV đi lại dễ dàng, thuận tiện. Nhóm này thường được sử dụng trong các giờ thực hành thí nghiệm. * Khái niệm phương pháp DH theo nhóm nhỏ Theo Trương Thị Hoa (2008): “PPTLN là một trong những mô hình của PP thảo luận trong học tập, được thiết kế và thực hiện ở quy mô nhóm, gồm nhiều kỹ thuật giảng dạy và học tập khác nhau, trong đó có hai hay nhiều HS cần phải hợp tác, trao đổi, chia sẻ ý tưởng, giá trị, quan điểm trách nhiệm nguồn nhân lực và thành tựu học tập với nhau dưới sự điều khiển của GV thì mới đạt được kết quả và mục tiêu mong muốn”. Theo Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2015): TLN là một trong những mô hình của PP làm việc nhóm, trong đó các thành viên trao đổi, chia sẻ ý tưởng, giá trị, quan điểm, PP, nguồn lực kinh tế và kinh nghiệm cá nhân để cùng nhau tìm ra giải pháp, cách thức phân công nhau hợp lý nhất để hoàn thành nhiệm vụ của nhóm.
TLN được tiến hành thường xuyên trong quá trình làm việc nhóm: từ khâu tìm kiếm và phân tích các ý tưởng, đến các khâu phân công trách nhiệm cá nhân, các cuộc trao đổi trong quá trình giải quyết nhiệm vụ khi gặp khó khăn, cản trở, khâu tổng kết trình bày kết quả làm việc cá nhân và toàn nhóm. Cơ sở lý luận về kỹ thuật khăn trải bàn 2. Khái niệm Theo Nguyễn Văn Tú (2017): KTDH KTB là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm: - Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực - Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS - Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS 2. Mục tiêu sử dụng kỹ thuật khăn trải bàn Theo Nguyễn Văn Tú ( 2017), mục tiêu sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn là: - Kích thích thúc đẩy sự tham gia tích cực của HS - Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS - Phát triển sự tương tác giữa HS với HS - Tạo sự hứng thú trong DH, phát triển kỹ năng làm việc nhóm 2.
Cách tiến hành kỹ thuật khăn trải bản Hoạt động theo nhóm (6 người/nhóm). Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa. Tập trung vào câu hỏi (chủ đề…). 16 (1) (2) Viết ý kiến cá nhân Viết ý kiến cá nhân (6) (3) Ý kiến chung của cả Viết ý kiến yys Viết ý kiến Cá nhân nhóm về chủ đề cá nhân (5) (4) Viết ý kiến cá nhân Viết ý kiến cá nhân Hình 2.
Mô hình kỹ thuật khăn trải bàn Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về một câu hỏi, chủ đề…). Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút. Khi mọi người đều đã xong, chia sẻ và thảo luận các câu trả lời. Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn.
Các bước cụ thể : Bước 1: Chia HS thành các nhóm, giao nhiệm vụ thảo luận và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0 - Chia giấy A0 thành các phần: Gồm phần chính giữa và các phần xung quanh. Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm. Mỗi thành viên ngồi vào vị trí tương ứng với từng phần xung quanh khăn trải bàn Bước 2: Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng thời gian quy định, tập trung suy nghĩ trả lời câu hỏi, nhiệm vụ theo cách nghĩ cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phân giấy của mình trên giấy A0. - Trên cơ sở những ý kiến của mỗi cá nhân, HS thảo luận nhóm, thống nhất ý kiến và viết vào phần chĩnh giữa của tờ giấy A0 khăn trải bàn.
Bước 3: Đại diện nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác nhận xét, bổ sung (nếu có). GV đóng vai trò là một trọng tài kết luận chốt lại kiến thức, từ đó giúp 17 các em nhận thấy được những cái làm được và chưa làm được trong hoạt động và sẽ khắc sâu kiến thức hơn. (Nguồn:https://huytamspa.vn/entry/the-nao-la-ki-thuat-khan-trai-ban) 2.