Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về vận dụng kỹ thuật KTQT trong tính giá thành tại doanh nghiệp sản xuất Chương 3: Thực trạng về vận dụng kỹ thuật KTQT trong tính giá thành tại Công ty TNHH Grandhome Stone Vina Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện việc vận dụng kỹ thuật kế toán quản trị trong tính giá thành tại Công ty TNHH Grandhome Stone Vina. 18 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG KỸ THUẬT KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG TÍNH GIÁ THÀNH TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 2. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 2. Khái niệm KTQT là công cụ quản lý hiện hữu được sử dụng cho các nhà quản trị bên trong doanh nghiệp.
KTQT được cấu thành từ hệ thống kế toán nhằm cung cấp các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp nhà quản trị có thể đưa ra quyết định điều hành, quản lý trong các hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả hơn. Theo Hiệp hội kế toán viên quản trị Hoa Kỳ thì “KTQT là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, diễn giải và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính đến các nhà quản trị lập kế hoạch, đánh giá, và điều hành mọi hoạt động nội bộ trong một tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của tổ chức đó”. Theo quan điểm này cho thấy rằng KTQT có vai trò thu nhận, xử lý thông tin tài chính đã phát sinh trong doanh nghiệp. Thông qua các thước đo khác nhau và trên cơ sở tổng hợp, phân tích cho nhà quản trị nhằm dự báo các sự kiện kinh tế phát sinh trong tương lai, giúp cho các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch tài chính, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp đạt hiểu quả hơn.
Theo Luật Kế toán Việt Nam thì “KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Theo quan điểm này, một lần nữa KTQT được nhấn mạnh vai trò là cung cấp các chỉ thông tin tài chính theo yêu cầu của nhà quản trị nhằm phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế trong tương lai tại nội bộ của đơn vị. Trong quá khứ, hiện tại và tương lai, KTQT luôn có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin tài chính thực hiện chức năng của nhà quản trị. Để đảm bảo nội dung thông tin cho nhà quản trị, kế toán viên vận dụng linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật trong việc thu thập, định lượng, trình bày giải thích thông tin tài chính.
Vai trò của kế toán quản trị Thông tin KTQT đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, đồng thời thông tin KTQT giúp các nhà quản lý đưa ra các phương thức quản lý, kiểm soát, đánh giá “sức khỏe” của tài chính doanh nghiệp tốt hơn. Mỗi thông tin KTQT thu được là kết quả của quá trình có tính hai mặt: thông tin và kiểm tra. Vì vậy, khi đề cập tới KTQT, cũng như thông tin của KTQT không thể tách rời hai đặc trưng cơ bản. Toàn bộ nội dung về hoạt động sản xuất - kinh doanh, từ khâu đầu vào đến khâu đầu ra đều được phản ánh sinh động qua các thômg tin kế toán.
Trong quá trình điều hành doanh nghiệp, các nhà quản trị phải trao đổi cập nhật thông tin kế toán. Họ không thể ra các quyết định mà không có thông tin kế toán. Hơn nữa, để giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả các nhà quản trị còn đòi hỏi thông tín kế toán phải đầy đủ, phải kịp thời, phải chính xác, nhằm thực hiện tốt chức năng và hoạt động quản trị của mình. Như vậy, KTQT có vai trò chủ đạo và chia phối toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Dựa trên các thông tin của KTQT cung cấp, các nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp trong ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp trong nền kinh tế của thị trường. Theo đó, thông tín KTQT gồm các nội dung sau: Thứ nhất, cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch và dự toán. Lập kế hoạch là xây dựng mục tiêu phải đạt được và vạch ra các bước thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Kế hoạch mà nhà quản trị doanh nghiệp lập thường ở mức dự toán.
Dự toán là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách huy động, cũng như sử dụng nguồn lực. Trong số đó, dự toán lưu chuyển tiền tệ là quan trọng nhất, nếu thiếu tiền doanh nghiệp sẽ không có khả năng tạo ra lợi nhuận, dù kế hoạch xây dựng hợp lý. Vì vậy, để chức năng lập kế hoạch và dự toán có tính hiệu lực và khả thi cao, chúng ta phải dựa trên những thông tin kế toán hợp và có cơ sở. Thứ hai, cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện.
Với chức năng thực hiện, nhà quản trị cần biết cách liên kết các yếu tố giữa tổ chức, con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được triển khai hiệu 20 quả nhất. Để thực hiện tốt chức năng này nhà quản lý cần nắm rõ thông tin kế toán, nhất là thông tin KTQT. Nhờ có thông tin do KTQT cung cấp mà nhà quản trị mới có thể đề ra quyết định đúng đắn trong quá trình lãnh đạo, phù hợp với mục tiêu chung. Thứ ba, cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra đánh giá.
Nhà quản trị sau khi lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch đòi hỏi phải kiểm tra và đánh giá thực hiện nó. Phương pháp thường dùng là so sánh số liệu kế hoạch hoặc dự toán với số liệu thực hiện, để từ đó nhận diện các sai lệch giữa kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra. Để làm được điều này, nhà quản trị cần được cung cấp các báo cáo thực hiện, có tác dụng như một bước phản hồi giúp nhà quản trị nhận diện những vấn đề cần phải điều chỉnh. Thứ tư, cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định.
Phần lớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm phục vụ chức năng ra quyết định. KTQT không chỉ giúp các nhà quản trị ra các quyết định bằng cách cung cấp thông tin thích hợp, mà nó còn vận dụng các kỹ thuật phân tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó NQT lựa chọn, ra các quyết định phù hợp. Thứ năm, góp phần đổi mới công tác quản lý của doanh nghiệp. Nguồn lực của doanh nghiệp được kế toán đo lường, định lượng thành các chỉ tiêu kinh tế, biểu hiện dưới hình thức giá trị nhằm cung cấp thông tin có giá trị cho chức năng kiểm tra và đánh giá.
Quá trình kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh là nhằm nhận biết tiến độ thực hiện và phát hiện những nguyên nhân sai lệch giữa kết quả đạt được so với mục tiêu đặt ra. Việc kiểm tra đánh giá còn giúp cho doanh nghiệp phát hiện những tiềm năng, thế mạnh cần được khai thác, đồng thời, phát hiện những yếu kém cần được chỉnh sửa. Bản chất của kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí 2. Bản chất của kế toán quản trị Do có đối sử dụng thông tin sử dụng thông tin khác nhau , mục đích sử dụng thông tin khác nhau nên giữa KTQT và KTTC có nhiều khác biệt cơ bản về: đối tượng 21 sử dụng thông tin, nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin, tính pháp lý, đặc điểm thông tin, hình thức báo cáo sử dụng, kỳ báo cáo.
- Kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép hệ thống hoá trong các sổ kế toán mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định quản trị. Để có được các thông tin này, kế toán quản trị phải sử dụng các phương pháp khoa học để phân tích, xử lý chúng một cách cụ thể, phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị. Hệ thống hoá các thông tin theo một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể, phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp. - Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp.
Những thông tin đó chỉ có ý nghĩa đối với những người, những bộ phận và những nhà điều hành, quản lý doanh nghiệp, không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài. Vì vậy người ta nói kế toán quản trị là loại kế toán dành cho những người làm công tác quản trị, trong khi đó kế toán tài chính không phục vụ trực tiếp mục đích này. - Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công cụ quan trọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp. Vai trò của KTQT ngày càng được khẳng định và nó được xem như là một trong những công cụ phục vụ hữu hiệu nhất cho quản lý nội bộ doanh nghiệp.
Bản chất của kế toán quản trị chi phí Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh biểu hiện bằng thước đo tiền tệ, được tính cho một thời kỳ nhất định. Đối với những nhà quản lý thì các chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra. Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát được các chi phí. Nhận diện, phân tích các hoạt động sinh ra chi phí là mấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định 22 đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
KTQT chi phí cung cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ và những thông tin có tính dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi phí nhằm kiểm soát chi phí thực tế, đồng thời làm căn cứ cho việc lựa chọn các quy định về giá bán sản phẩm, ký kết hợp đồng, tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài,.