CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 1. Khái niệm kế toán quản trị Theo định nghĩa của Hội hiệp kế toán quốc gia ( Mỹ) – National Asociation ò Accountants ( NAA) – văn kiện số 1A tháng 3/1984 thì : “Kế toán quản trị là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp. Quy trình kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, cân, đong, đo, đếm, thu thập, tích lũy, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để các nhà quản lý xử lý các thông tin này theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp”.
Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ thì KTQT“ là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức, và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”. Theo luật kế toán Việt Nam, KTQT “ là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thôgn tin kinh tế, tài chính theo yếu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Như vậy, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về kế toán quản trị nhưng đứng trên góc độ sử dụng thông tin kế toán phục vụ cho chức năng quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp, có thể định nghĩa kế toán quản trị như sau : Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thôgn tin về hoạt động sản xuất – kinh doanh một cách chi tiết, phục vụ cho các nhà 8 quản trị trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế, tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. Bản chất - vai trò của kế toán quản trị a.
Bản chất của kế toán quản trị + Kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về nghiệp vụ kinh tế thực sự phát sinh và đã thực sự hoàn thành mà còn xử lý và cung cấp thôgn tin phục vụ cho việc ra quyết định quản lý. Để có được các thông tin này, kế toán quản trị phải sử dụng các phương pháp khoa học để phân tích, xử lý chúng một cách linh hoạt, phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị. Hệ thống hóa thông tin theo một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể, phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp. + Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế, tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp.
Những thôgn tin đó chỉ có ý nghĩa đối với những người điều hành, quản trị doanh nghiệp, không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài. Vì vậy, người ta nói kế toán quản trị là loại kế toán dành cho những người làm công táv quản lý, trong khi đó kế toán tài chính không phục vụ trực tiếpcho mục đích này. + Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một chức năng quan trọng không thể thiếu được đối với hệ thống quản trị doanh nghiệp. Vai trò của kế toán quản trị + Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc thực hiện các chức năng quản lý.
+ Kế toán quản trị tiến hành cụ thể hoá các kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp thành các dự toán sản xuất kinh doanh. 9 + Kế toán quản trị cũng cung cấp các thông tin để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch thông qua các báo cáo đánh giá, đặc biệt là giúp ích cho các nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động. + Kế toán quản trị còn cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản lý nhằm xây dựng các chiến lược cạnh tranh bằng cách thiết lập các báo cáo định kỳ và báo cáo đặc biệt. KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ VỚI CHỨC NĂNG QUẢN LÝ Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra - đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định.
Hoạt động quản lý là một quá trình khép kín từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, đến kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch. LẬP KẾ HOẠCH RA QUYẾT ĐỊNH KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TỔ CHỨC THỰC HIỆN Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp + Chức năng lập kế hoạch: Trong việc lập kế hoạch người quản lý vạch ra những việc phải làm để đưa hoạt động của tổ chức doanh nghiệp hướng về các mục tiêu đã xác định như: mục tiêu về lợi nhuận, về sự tăng trưởng, nâng 10 cao uy tín của doanh nghiệp… Các kế hoạch được lập có thể là ngắn hạn hoặc dài hạn. Trong chức năng này, KTQT cung cấp những thông tin để ra các quyết định về kế hoạch thông qua việc lượng hóa các mục tiêu quản lý dưới dạng các chỉ tiêu về số lượng và giá trị. Kế hoạch này được tiến hành dưới sự điều khiển của hội đồng xét duyệt dự toán, có sự tham gia của kế toán trưởng, được lập hàng năm.
+ Chức năng tổ chức thực hiện : Để việc thực hiện kế hoạch đạt được hiệu quả cao nhất, nhà quản trị sẽ quyết định các phương pháp tốt nhất để tổ chức con người với các nguồn tài - vật lực. KTQT phải cung cấp thông tin hàng ngày về tình hình hoạt động của tổ chức, về tài sản, chi phí, thu nhập…cả về mặt hiện vật và giá trị để phục vụ đắc lực cho nhà quản trị điều hành tốt quá trình hoạt động của tổ chức. + Chức năng kiểm tra đánh giá: Trong quản lý, việc lập ra kế hoạch chưa đủ mà quan trọng hơn là cần những thông tin có liên quan đến việc thực hiện kế hoạch. Kế toán quản trị giúp cho chức năng kiểm tra đánh giá bằng cách thiết kế nên các báo cáo có dạng so sánh, Các nhà quản trị sử dụng báo cáo đó để kiểm tra, đánh giá trong các lĩnh vực trách nhiệm mà họ cần quan tâm, để xem xét và điều chỉnh, tổ chức thực hiện các mục tiêu đặt ra.
Do đó, kế toán quản trị phải làm sao cho các nhà quản lý nhận được những thông tin mà họ cần hoặc mốn nhận. + Chức năng ra quyết định: Để ra được một quyết định thì cần phải có thông tin, những thông tin thật cụ thể, thật chi tiết, thật đầy đủ, thật kịp thời, không chỉ trong quá khứ mà còn cả ở hiện tại và trong tương lai. Những thông tin này phần lớn được cung cấp từ KTQT. TỔ CHỨC MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ Tổ chức mô hình kế toán quản trị được khái quát trên hai mô hình như sau: 11 Thứ nhất, tổ chức kế toán quản trị kết hợp với kế toán tài chính: Theo mô hình này, hệ thống kế toán quản trị được tổ chức kết hợp với hệ thông kế toán tài chính, kế toán quản trị và kế toán tài chính được tổ chức thành một hệ thống nhất trong cùng một bộ máy kế toán.
Các kế toán viên vừa làm nhiệm vụ của kế toán tài chính vừa làm nhiệm vụ của kế toán quản trị. Kế toán tài chính sử dụng những tài khoản tổng hợp, còn kế toán quản trị sử dụng những tài khoản chi tiết kết hợp với các phương pháp thống kê toán để hệ thống hóa và xử lý thông tin. Bộ phận kế toán chi phí sản xuất có chức năng thu nhận và cung cấp thông tin vừa tổng hợp vừa chi tiết về chi phí sản xuất theo yêu cầu quản lý. Ưu điểm của mô hình này là kết hợp chặt chẻ giữa quản lý tổng hợp và quản lý cụ thể, thông tin cung cấp có độ chính xác cao hơn nhờ có sự so sánh giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, việc thu nhận thông tin nhanh, thuận lợi cho việc tin học hóa công tác kế toán.
Tuy nhiên mô hình này có nhược điểm là tính chuyên môn hóa chưa cao, không tách biệt rõ ràng kế toán quản trị và kế toán tài chính nên quá trình quản lý nội bộ vẫn còn hạn chế. Thứ hai, tổ chức kế toán quản trị độc lập với kế toán tài chính. Theo mô hình này, bộ phận kế toán quản trị chi phí sản xuất có chức năng thu thập, xử lý các thông tin về chi phí sản xuất từ chứng từ ban đầu hay do bộ phận kế toán tài chính đã phản ánh, lập các dự toán về chi phí sản xuất, các báo cáo quản trị theo yêu cầu quản lý cụ thể. Ưu điểm của mô hình này, có sự chuyển hóa giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, phân định rõ ranh giới từng lĩnh vực, giúp cho từng bộ phận có khả năng nâng cao trình độ chuyên môn.
Hạn chế của mô hình này là tính cồng kềnh kém linh hoạt và hiệu quả kinh tế không cao, giữa quản lý tổng hợp và quản lý chi tiết không có sự kết 12 hợp chặt chẽ, việc thu nhận và xử lý thông tin chậm do khâu luân chuyển chứng từ kế toán. NỘI DUNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Phân loại chi phí sản xuất a. Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử của chi phí + Chi phí biến đổi : Là tập hợp chi phí mà lượng tiêu hao của chúng tỷ lệ thuận với sự biến đổi sản lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sản xuất mua vào hoặc bán ra trong kỳ.
+ Chi phí cố định : Là tập hợp các loại chi phí mà mức tiêu hao của chúng không phụ thuộc sản lượng sản phẩm, hàng hóa, dich vụ sản xuất hoặc bán ra trong kỳ. + Chi phí hỗn hợp : là những chi phí có cả yếu tố cố định và yếu tố biến đổi. Phân loại chi phí sản xuất trong kiểm tra và ra quyết định + Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp: - Chi phí trực tiếp là những chi phí khi phát sinh được tính trực tiếp vào các đối tượng sử dụng như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp.