CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 1. Bản chất của kế toán quản trị chi phí Theo Viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), kế toán chi phí được định nghĩa là “ kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình hoặc một sản phẩm… Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp, kết chuyển tùy ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý” [4, tr19]. Theo định nghĩa này, kế toán chi phí không phải là một bộ phận độc lập mà kế toán chi phí vừa là một bộ phận của KTTC và vừa là một bộ phận của KTQT hay nói cách khác kế toán chi phí là phần giao thoa của KTTC và KTQT.
Nội dung của kế toán chi phí là tập hợp, phân loại, tính giá theo yêu cầu nhất định của kế toán tài chính. Với kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin về giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên báo cáo kết quả kinh doanh và giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Với KTQT, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phận của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động kinh doanh. Như vậy, bộ phận kế toán chi phí trong hệ thống KTQT được gọi là KTQT chi phí.
KTQT chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý.20] 8 Nội dung trọng tâm của KTQT là lĩnh vực chi phí vì đối với những người quản lý thì các chi phí là mối quan tâm hàng đầu, do đó vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát được các khoản chi phí. Nhận diện, phân tích các hoạt động sinh ra chi phí là mấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định đúng đắn trong hoạt động SXKD. KTQT chi phí cung cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ và thông tin có tính dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi phí nhằm kiểm soát chi phí thực tế, đồng thời làm căn cứ cho sự lựa chọn quyết định về giá bán sản phẩm, ký kết hợp đồng, tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài. KTQT chi phí nhấn mạnh đến việc dự báo của thông tin và trách nhiệm của các nhà quản trị các cấp nhằm gắn trách nhiệm của họ với chi phí phát sinh qua hệ thống thông tin chi phí được cung cấp bởi các trung tâm chi phí được hình thành trong đơn vị.
Điều này cho thấy, KTQT chi phí mang nặng bản chất của KTQT hơn là kế toán chi phí thuần túy và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm thực hiện các chức năng quản trị. Nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Việc tổ chức hệ thống thông tin KTQTCP không bắt buộc phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc kế toán và có thể được thực hiện theo những quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm tạo lập hệ thống thông tin quản lý thích hợp theo yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp. Nhiệm vụ cụ thể của KTQTCP trong doanh nghiệp bao gồm: - Thu thập, xử lý thông tin, số liệu về chi phí theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị chi phí của đơn vị xác định theo từng thời kỳ: Đối tượng nhận thông tin KTQTCP là ban lãnh đạo doanh nghiệp và những người trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp không bắt buộc phải công khai các thông tin về KTQTCP cho các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp.
Phạm vi KTQTCP không bị giới hạn và được quyết 9 định bởi nhu cầu thông tin trong tất cả các khâu của quá trình tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch, kiểm tra, điều hành, ra quyết định… Kỳ KTQTCP thường là tháng, quý, năm như kỳ kế toán tài chính. Doanh nghiệp được quyết định kỳ KTQTCP khác theo yêu cầu của mình. - Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán: KTQTCP là phương tiện để ban giám đốc kiểm soát một cách có hiệu quả chi phí nói riêng và hoạt động của doanh nghiệp nói chung. Chính vì vậy, KTQTCP phải biết xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật, biết lập dự toán chi phí, tiên liệu kết quả và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, dự toán đã đề ra.
- Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán quản trị chi phí: Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo cần thiết phục vụ cho KTQTCP của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được sử dụng mọi thông tin, số liệu của phần kế toán tài chính, để phối hợp và phục vụ cho KTQTCP. - Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của ban lãnh đạo doanh nghiệp: KTQTCP phải thu thập, xử lý, phân tích thông tin trong suốt quá trình từ lúc mua hàng hóa, nguyên liệu; xác định chi phí sản xuất và tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng ngành hoạt động, từng loại dịch vụ… Từ đó tập hợp được các dữ kiện cần thiết để phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh cũng như dự kiến được phương hướng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp. Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong quản trị doanh nghiệp Như nội dung đã trình bày, KTQTCP là một bộ phận của hệ thống kế toán nhằm cung cấp cho các nhà quản lý thông tin về chi phí để giúp nhà quản lý thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp.
Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra, 10 đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra các quyết định trong quá trình sản xuất kinh doanh. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải lập cả kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp các bộ phận triển khai thành kế hoạch riêng của bộ phận, đơn vị mình. Để thực hiện vai trò của mình, KTQTCP tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng lập kế hoạch.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch đã đề ra, KTQTCP cung cấp thông tin cho việc quản lý đến từng công việc cụ thể: quản lý sản xuất tác nghiệp, quản lý tồn kho, quản lý chi phí… KTQTCP còn được coi là công cụ để đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch thông qua việc phân tích các chi phí, từ đó có những quyết định hợp lý để hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. KTQTCP giúp thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý một cách hiệu quả thông qua việc thu thập và cung cấp các thông tin chi tiết về tình hình thực hiện kế hoạch, phát hiện các khoản chênh lệch so với kế hoạch và các nguyên nhân dẫn đến tình hình đó, giúp nhà quản lý nắm bắt hoạt động nào đem lại lợi ích, hoạt động nào đang duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp… Có thể nói, KTQTCP còn đóng vai trò kiểm soát toàn bộ các khâu của hoạt động kinh doanh một cách cụ thể, chi tiết và thường xuyên. Ngoài ra, trong một số tình huống đặc biệt, các thông tin về chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, nhất là trong các trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên thị trường. CHI PHÍ VÀ CÁC CÁCH PHÂN LOẠI CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm về chi phí Chi phí có thể được hiểu là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một tổ chức để đạt được một mục đích nào 11 đó. Bản chất của chi phí là phải mất đi để đổi lấy một kết quả, kết quả đó có thể dưới dạng vật chất như sản phẩm, tiền, nhà xưởng… hoặc không có dạng vật chất như kiến thức, dịch vụ được phục vụ… 1. Phân loại chi phí Các chi phí phát sinh là để sử dụng cho những mục đích khác nhau và cách thức sử dụng chi phí sẽ ra quyết định cách thức KTQTCP, trong phần này Luận văn khái quát các cách phân loại chi phí cơ bản như sau: a. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động là cách phân loại cơ sở, hầu như phải thực hiện trước khi tiến hành các cách phân loại khác đối với tổng chi phí nhằm đáp ứng những yêu cầu quản lý khác nhau.
Theo chức năng hoạt động, chi phí được phân thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất: - Chi phí sản xuất là sự kết hợp giữa sức lao động, nguyên liệu và thiết bị sản xuất để tạo ra sản phẩm, do đó chi phí sản xuất bao gồm 3 loại sau: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CPNVLTT): là bộ phận cơ bản cấu tạo nên sản phẩm gọi là vật liệu chính như vải trong doanh nghiệp sản xuất may mặc, sắt thép trong doanh nghiệp sản xuất cơ khí… Ngoài ra trong quá trình sản xuất còn phát sinh những loại nguyên liệu có tác dụng phụ, kết hợp với nguyên liệu chính để tạo ra sản phẩm, làm tăng chất lượng sản phẩm, tạo màu sắc, mùi vị … gọi là vật liệu phụ. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất còn phát sinh những loại nguyên liệu không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, không cấu thành nên thực thể sản phẩm, chúng được sử dụng chung trong phân xưởng. Những loại nguyên vật liệu này được gọi là nguyên vật liệu gián tiếp và vì chúng được sử dụng chung cho quá trình sản xuất nên được tính là một phần của chi phí sản xuất chung.