Đặt vấn đề Rừng là nguồn tài nguyên vô giá của con người, có giá trị về kinh tế, khoa học, quốc phòng, môi trường… Thế nhưng do tác động của con người mà diện tích rừng ngày càng suy giảm về mặt số lượng, chất lượng. Việc tăng lên về dân số, phát tiển nền công nghiệp đã gây ra những hậu quả khôn lường cho nguồn tài nguyên rừng gây ra các hiện tượng thiên nhiên như sói mòn, rửa trôi, hạn hán, biến đổi khí hậu, môi trường. Nhà nước cũng có nhiều chính sách quam tâm đến rừng nhằm tăng diện tích rừng, phục vụ cho lợi ích của xã hội. Tuy nhiên trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện nay thì người ta quan tâm phát triển rừng theo hướng kinh tế hơn, ít chú trọng đến những chức năng khác của rừng.
Những cây trồng chủ yếu là rừng sản xuất với mục đích kinh tế có thời gian sinh trưởng ngắn như: keo, bồ đề … dẫn đến rừng trồng chưa phát huy hết chức năng. Chúng ta cần quan tâm đến những cây lâm nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu sản xuất trong công nghiệp cũng như phát huy tốt những chức năng của rừng trồng. Cây trồng vừa có khả năng phòng hộ, giữ đất, mà lại đảm bảo hiệu quả kinh tế, phù hợp với khí hậu điều kiện tự nhiên. Cây Sơn ta có tên khoa học: Rhus succedanea L.
thuộc họ Đào lộn hột: Anacardiaceae (Lê Mộng Chân và cs, 2000) [3]. Một trong số cây trồng đang được gây giống và ứng dụng rộng rãi hiện nay là Sơn ta là cây gỗ nhỏ, có thể cao 10 m. Cây ưa ẩm, sinh trưởng tốt và cho nhiều nhựa vào các tháng mưa, độ ẩm không khí cao và nắng nhiều, cây chịu được hạn cây sinh trưởng phát triển khá nhanh, cây 28 - 30 tháng tuổi đã đạt chiều cao khoảng 2 m, bắt đầu ra hoa, kết quả và cho thu hoạch nhựa. Sơn ta là cây công nghiệp dài ngày, sản phẩm chính là cho ta nhựa dùng để sơn n 2 dầu, đánh bóng đồ dùng mỹ nghệ.
Cây sơn cho đều sản phẩm quanh năm, dao động từ 1,8 kg tới 2,2kg/năm/cây, với mức giá tại vườn 300.000 đồng/kg thì thu nhập gấp nhiều lần trồng lúa. Nhựa sơn có giá trị xuất khẩu cao sang một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc. Yêu cầu sinh thái: Có biên độ sinh thái rộng, mọc dưới độ cao 1500 m. Cây ưa khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình khoảng 20 - 300C là thích hợp nhất, tuy nhiên cây sơn cũng có thể chịu được nhiệt độ nóng tới 38 - 390C, lạnh tới 4 - 50C.
Cây rụng lá về mùa đông, ưa sáng, sinh trưởng tốt nơi được chiếu sáng đầy đủ, vỏ dày và cho nhiều nhựa mủ; Nắng làm tăng phẩm chất nhựa, chích nhựa vào ngày nắng ráo thì nhựa sơn đỏ, đẹp và nhiều dầu. Cây ưa ẩm, sinh trưởng tốt và cho nhiều nhựa vào các tháng mưa, độ ẩm không khí cao và nắng nhiều, cây chịu được hạn nhưng không chịu được ngập úng. Những năm gần đây, nhu cầu về nhựa Sơn ta trên thị trường trong nước và xuất khẩu cao, kéo theo nhu cầu trồng cây Sơn ta trong thực tiễn rất lớn, đặc biệt là những giống có năng suất nhựa cao và ổn định. Tuy nhiên, cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc gây trồng và phát triển cây Sơn ta ở Việt Nam thì chưa nhiều, hiện nay việc trồng cây Sơn ta vẫn mang tính chất tự phát của người dân, chưa có nghiên cứu về chọn và nhân giống cây Sơn.
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi thuộc khu vực đông bắc Việt Nam với địa hình và khí hậu rất phù hợp để trồng phát triển cây sơn ta. Xuất phát từ những vẫn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm cây Sơn ta (Rhus succedanea L) tại xã Tân An huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang”. Mục đích nghiên cứu Góp phần tạo ra giống cây sơn ta đảm bảo số lượng và hạ giá thành, đảm bảo chất lượng cao phục vụ trồng rừng. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được nhiệt độ nước phù hợp nhất để kích thích hạt giống cây Sơn ta trong gieo ươm.
- Xác định được công thức hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng tốt nhất đến sinh trưởng của cây Sơn ta ở giai đoạn vườn ươm. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Trong quá trình thực hiện đề tài, thu thập số liệu giúp học hỏi thêm, có thêm kinh nghiệm về thực tế, làm quen với thực tiễn sản xuất. - Biết được phương pháp xử lý hạt giống, tạo hỗn hợp ruột bầu. - Là cơ sở để đề xuất phương pháp tạo bầu, chăm sóc cây Sơn ta giai đoạn vườn ươm.
- Biết được phương pháp theo dõi tỉ lệ nảy mầm, theo dõi tình hình sinh trưởng của cây. - Sinh viên được làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. - Là cơ sơ khoa học đề xuất kỹ thuật trong thu hái, chế biến hạt, tạo cây con Sơn ta. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Là cơ sở cho công tác tạo giống cây, cung cấp cây giống cho trổng rừng sản xuất với mục đích lấy nhựa cây Sơn ta.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Phương pháp nhân giống bằng hạt là phương pháp thường xuyên được áp dụng nhất trong hoạt động sản xuất cây lam nghiệp vì nó đem lại hiệu quả cao và dễ thực hiện. Công tác giống trong lâm nghiệp là vô cùng quan trọng. Chất lượng của hạt giống bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố ngoại cảnh như thời tiết, tuổi cây, loài cây…cũng như việc thu hái, xử lý bảo quản của con người.
Tùy vào đặc điểm sinh lý, cấu tạo vỏ hạt của từng loại giống cây khác nhau mà có cách xử lý cây khác nhau. Để hạt giống có thể nảy mầm cần có điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp. Việc xử lý kích thích hạt giống là tác động đồng loạt lên lượng hạt giống cần gieo nhằm diệt mầm mống sâu bệnh hại cũng như kích thích hạt nảy mầm. Có rất nhiều phương pháp xử lý hạt giống như: phương pháp vật lý, hóa học, cơ giới, tia phóng xạ, … Tuy nhiên phương pháp kích thích hạt giống bằng vật lý được áp dụng nhiều hơn cả.
Phương pháp này vừa dễ thực hiện vừa không tốn nhiều chi phí, áp dụng được với nhiều loại hạt. Quá trình nảy mầm chia làm 3 giai đoạn: + Giai đoạn vật lý: Hạt hút nước và trương lên làm cho vỏ hạt nứt ra. + Giai đoạn sinh hóa: Dưới tác động của nhiệt độ và độ ẩm hô hấp và đồng hóa tăng lên, các chất dự trữ được sử dụng và chuyển đến vùng sinh trưởng. + Giai đoạn sinh lý: Sự phân chia và lớn lên của tế bào làm cho rễ mầm và chối mầm đâm ra ngoài hạt thành cây mầm (Lương Thị Anh, Mai Quang Trường, 2007)[1].
Sau khi kích thích hạt giống nảy mầm cần phải có môi trường nuôi dưỡng cây tốt. Theo bộ lâm nghiệp (1994) cây con được tạo ra ở vườn ươm phải đảm bảo cây giống được lựa chọn có phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện tự nhiên, n 5 khí hậu, đất đai để giảm bớt sự cạnh tranh của loài cây khác với chúng. Việc chăm sóc cây trong vườn ươm sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây trong tương lai. Các loài phân hóa học được sử dụng để chăm sóc cây thời gian ngắn bón phân kết hợp với biện pháp lâm sinh nhổ cỏ, tưới nước phòng trừ sâu bệnh thường xuyên để phát huy tối đa nọi lực của phân bón.
Theo Nguyễn Văn Sở, 2004[11]: thành phần hỗn hợp ruột bầu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng của sinh trưởng đến cây con trong vườn ươm. Hỗn hợp ruột bầu phải đảm bảo các yêu cầu về sinh lý sinh hóa giúp cây sinh trưởng khỏe mạnh và nhanh. Ngược lại nếu hỗn hợp ruột bầu chứa nhiều chất khoáng nhưng cấu trúc đất nặng , khó thấm nước và thoát nước cũng ảnh hưởng không tốt đến cây con. Thành phần hỗn hợp ruột bầu gồm: đất, phân bón và chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lý hóa của ruột bầu.
Đất làm ruột bầu phải có khả năng thấm nước tốt thành phần cơ giờ từ cát pha đến thịt nhẹ, PH trung tính không mang mầm bệnh. Trong giai đoạn vườn ươm những yếu tố được đặc biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ gia. Đạm (N) là chất dinh dưỡng cần cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng.Thiếu nito cây không thể tồn tại. Mặc dù hàm lượng trong cây không cao nhưng nitơ lại có vai trò quan trọng bậc nhất.
(N) là thành phần quan trọng cấu tạo nên tất cả các axit amin từ axit amin tổng hợp nên tất cả các loại protein trong cơ thể thực vật và không thể thay thế. Nitơ có mặt trong axit nucleic tham gia vào cấu trúc vòng porphyril là những chất đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và hô hấp của thực vật. Nói chung nito là dưỡng chất cơ bản nhất tham gia vào thành phần chính của protein, vào quá trình hình thành các chất quan trọng như amino axit , men, nhiều loại viatamin tring cây như: B1, B2, B6… Nito thúc đẩy cây tăng trưởng đâm nhiều chồi lá, lá to và xanh, quang hợp mạnh. Nếu thiếu đạm, cây n 6 sinh trưởng chậm, còi cọc, lá ít có kích thước nhỏ và hơi vàng.
Nhưng nếu bón thừa đạm cũng gây tác hại cho cây. Biểu hiện triệu chứng thừa đạm là cây sinh trưởng quá mức, cây sẽ đổ ngã, nhiều sâu bệnh lá có mầu xanh đậm vò diệp lục được tổng hợp nhiều. Kali (K) đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng, quá trình đồng hóa của cây, điều khiển quá trình sử dụng nước , thúc đẩy quá trình sử dụng đạm ở dạng NH4+, giúp cây tăng sức đề kháng, cứng chắc , ít đổ ngã, chống sâu bệnh chịu hạn và rét. Nếu thiếu kali thì cây có biểu hiện về hình thái rất rõ như lá hơi ngắn phiến lá hẹp và có màu lục tối, sau chuyển sang vàng, suất hiện những chấm đỏ, lá bị khô rồi rủ xuống.
Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trinhd trao đổi năng lượng. Lân làm tăng tính chịu lạnh của cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ. Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả. Cây được cung cấp đủ lân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua, kiềm.
Nếu thiếu lân kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá phồng cứng màu xanh đậm, chuyển sang vàng than cây mềm, thấp; năng xuất chất khô giảm.