Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những nghiên cứu liên quan đến kỹ năng vận động quần chúng của cán bộ các đồn biên phòng 1. Những công trình nghiên cứu về kỹ năng * Hướng nghiên cứu về bản chất của kỹ năng Về vấn đề bản chất của kỹ năng, được các tác giả trong nước và trên Thế giới quan tâm nghiên cứu. - Quan niệm thứ nhất, xem kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động, hoạt động Đại diện cho hướng nghiên cứu này là các tác giả như: A.
Cudin, Hoàng Anh ,Trần Trọng Thủy, Đào Thị Oanh… các tác giả này cho rằng: để thực hiện được một hành động, cá nhân phải có tri thức về hành động đó, tức là phải hiểu được mục đích, phương thức và các điều kiện để thực hiện nó. Vì vậy, nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực hiện nó trong thực tiễn theo các yêu cầu khác nhau, có nghĩa là ta đã có kỹ năng hành động. Covaliov (1971), Tâm lý học cá nhân [31], cho rằng: Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động. Covaliov không đề cập đến kết quả của hành động.
Theo tác giả, kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động là đem lại kết quả tương ứng. Gonobolin (1973), Tâm lý học [37, tr.154], cho rằng: Kỹ năng là những phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành 17 động bất kỳ khi nào. Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo - những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động. Crucheski (1980), Tâm lý học [33, tr.78], cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động - cái mà con người lĩnh hội được”.
Để làm rõ khái niệm kỹ năng, tác giả đi phân tích vai trò của việc luyện tập trong thực tiễn, trong hoạt động và trong quá trình hình thành kỹ năng. Tác giả cho rằng: trong một số trường hợp thì kỹ năng là phương thức sử dụng các tri thức vào trong thực hành, nghĩa là khi có tri thức, con người phải sử dụng, áp dụng vào trong cuộc sống, vào thực tiễn. Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành kỹ năng trở nên được hoàn thiện và trong mối quan hệ đó hoạt động của con người trở nên được hoàn hảo hơn trước. Tác giả Đào Thị Oanh (2008), Tâm lý học lao động [71] cho rằng: Kỹ năng là cách thức hoạt động dựa trên cơ sở hệ thống những kiến thức và kỹ xảo đã có.
Như vậy, theo hướng nghiên cứu này, kỹ năng là phương tiện thực hiện hành động mà con người đã nắm vững, người có kỹ năng hoạt động nào đó là người nắm vững các tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu cần có của nó mà không cần tính đến kết quả của hành động. - Quan niệm thứ hai, xem kỹ năng là một biểu hiện năng lực của con người Đại diện cho hướng nghiên cứu này là các tác giả như: K. Levitov, Nguyễn Quang Uẩn, Lê Văn Hồng, Vũ Dũng, Phạm Thành Nghị, Nguyễn Công Khanh, Đỗ Mạnh Tôn, Tạ Quang Đàm. Levitov (1962), Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm, tập 1, [60] cho rằng: Kỹ năng là việc thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn có chiếu cố đến những điều kiện nhất định.
Levitov 18 chú ý đến kết quả hành động, điều này có nghĩa là phải biết lựa chọn cách hành động đúng đắn, phù hợp với các điều kiện cho phép để thực hiện hành động, hoạt động đem lại kết quả cao. Golubev (1977), Tâm lý học [79], chú ý tới mặt kết quả của hành động trong kỹ năng. Tác giả cho rằng: Kỹ năng là khả năng con người tiến hành công việc một cách có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng. Lê Văn Hồng (Chủ biên, 2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm [44, tr.102], cho rằng: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới”.
Theo tác giả, có kỹ năng hoạt động chân tay, có kỹ năng hoạt động trí óc. Song dù là kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết đó là kiến thức. Nói cách khác, con người có kỹ năng mới sử dụng tri thức một cách tự giác và có chỉ định, mới biết lựa chọn những biện pháp cần thiết, phù hợp với từng hoàn cảnh và vận dụng các biện pháp đó vào hoạt động để đạt mục đích. Nguyễn Quang Uẩn (2010), Tuyển t⌀p nghiên cứu về tâm lý - giáo dục [108, tr.74], xác định: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện thực tiễn cho phép”.
Tác giả nhấn mạnh, người có kỹ năng hành động phải có tri thức về hành động, bao gồm: mục đích của hành động, các điều kiện, phương tiện đạt mục đích, cách thức thực hiện hành động; tiến hành hành động đúng với yêu cầu của nó; đạt được kết quả phù hợp với mục đích đề ra; có thể hành động có kết quả trong những điều kiện khác. Nguyễn Công Khanh (2014), Phương pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống [48, tr.160], xác định: “Kỹ năng là khả năng thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm, kỹ xảo đã có để hành động phù hợp với những mục tiêu 19 và những điều kiện thực tế đã cho”. Theo tác giả để có kỹ năng trong một hoạt động nào đó, trước hết cá nhân phải có tri thức về hoạt động đó; biết cách tiến hành hoạt động có hiệu quả và biết hành động có kết quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc. Tác giả Tạ Quang Đàm (2019), Nâng cao kỹ năng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên sĩ quan cấp phân đội [35, tr.10], trên cơ sở phân tích, luận giải các quan niệm về kỹ năng, tác giả cho rằng: “Kỹ năng là sự vận dụng kiến thức, kỹ xảo, kinh nghiệm đã có phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định”.
- Quan niệm thứ ba, xem kỹ năng là biểu hiện của hành vi, thái độ ứng xử của con người Trong những năm gần đây, xuất hiện hướng nghiên cứu coi kỹ năng là biểu hiện của hành vi ứng xử của con người. Đại diện cho hướng nghiên cứu này là các tác giả: Morales. W (1987), Social Work a profession for many faces (Công tác xã hội một nghề nhiều mặt) [121] cho rằng: Sự lựa chọn chịu sự ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của cá nhân đối với hoạt động cụ thể. Đây là cách tiếp cận mới khi quan niệm về kỹ năng và khá phù hợp cho những nghiên cứu chuyên sâu về kỹ năng trong các lĩnh vực cụ thể.
Trên thực tế, có nhiều kỹ năng cần phải được xem xét trên khía cạnh thái độ, trách nhiệm, như: kỹ năng hỗ trợ người bị nạn, kỹ năng ứng phó với tình huống khẩn cấp, kỹ năng thiết lập quan hệ người - người… mà không chỉ dừng lại trong việc vận dụng kiến thức, kỹ xảo, kinh nghiệm, thói quen cũ mà có được. Mặc dù ghi nhận hành vi có kỹ năng là khả năng lựa chọn những kiến thức, kỹ thuật thích hợp và sử dụng chúng có kết quả. N (2003), Basis counseling skills (Kỹ năng tư vấn cơ bản) [123], với quan niệm, mọi hành vi của con người đều xuất phát từ cách mà người ta suy nghĩ, cho rằng: Kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối cách thức con người cảm nhận và suy nghĩ. Như vậy, có nhiều quan điểm, hướng tiếp cận khác nhau về kỹ năng.
Có quan niệm coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động; quan niệm khác coi kỹ năng là một biểu hiện của năng lực con người và có quan niệm xem kỹ năng là biểu hiện của hành vi ứng xử của con người. Các quan niệm trên không mâu thuẫn với nhau mà có sự thống nhất biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau, làm cho nhận thức về kỹ năng được đầy đủ, hoàn thiện hơn. * Hướng nghiên cứu về mức độ và các giai đoạn hình thành kỹ năng Về vấn đề mức độ và các giai đoạn hình thành kỹ năng được nhiều nhà tâm lý học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Mỗi tác giả có những ý kiến, quan điểm riêng của mình song đều thống nhất với nhau rằng kỹ năng được hình thành, phát triển trong hoạt động theo từng giai đoạn với các mức độ khác nhau từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Levitov (1962), Tâm lý học trẻ em và tâm lý học sư phạm, tập 1 [60] chia kỹ năng làm hai loại là: Kỹ năng sơ bộ: là kỹ năng biểu hiện ở thí nghiệm thành công lúc đầu trong việc hoàn thành một động tác và có một số kết quả nhất định và Kỹ năng ở giai đoạn phát triển cao: là kỹ năng đòi hỏi thực tiễn luyện tập và nó dần dần trở thành kỹ xảo. Golubev (1977), Tâm lý học [79], chỉ ra các giai đoạn phát triển kỹ năng với 5 mức độ sau: Giai đoạn 1: Kỹ năng còn rất sơ đẳng khi chủ thể mới ý thức được mục đích và tìm kiếm cách thức hành động dưới dạng “thử và sai”. Giai đoạn 2: Kỹ năng đã có, nhưng chưa đầy đủ. Giai đoạn 3: Kỹ năng chung, song còn mang tính riêng lẻ.
Giai đoạn 4: 21 Kỹ năng ở trình độ cao, cá nhân sử dụng thành thạo các thao tác kỹ thuật, cách thức thực hiện để đạt được mục đích. Giai đoạn 5: Kỹ năng tay nghề cao, khi cá nhân vừa thành thạo vừa sáng tạo trong sử dụng các kỹ năng ở những điều kiện khác nhau. Kixegof (1977), Hình thành các kỹ năng và kỹ xảo sư phạm cho sinh viên trong điều kiện của nền giáo dục đại học, [52], quá trình hình thành, phát triển kỹ năng trải qua 5 giai đoạn, tương ứng với 5 mức độ là: nhận thức, tái hiện, quan sát, bắt chước và hành động độc lập.