Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 1. Các khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Khái niệm Hợp tác xã Đại hội Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) định nghĩa “Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ [14]. Ở Việt Nam, Luật Hợp tác xã 2012 định nghĩa “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” [20].
Khái niệm Hợp tác xã nông nghiệp Theo nhóm chuyên gia Socencoop phát triển với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Chính phủ Úc và Quỹ Châu Á “Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 nông dân, hộ gia đình nông nghiệp tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thanh viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” [4]. Trong quá trình sản xuất, nhu cầu phát triển kinh tế nông hộ chính là cơ sở, nền tảng cho sự ra đời và phát triển của hợp tác xã nông nghiệp. Ngày nay hợp tác xã nông nghiệp đã có sự thay đổi về chất, nếu hợp tác xã nông nghiệp trước đây lấy sản xuất làm chính thì hiện nay hợp tác xã nông nghiệp lấy hoạt 9 Luan van động dịch vụ, trước hết là phục vụ kinh tế hộ làm chính, sau đó mới hoạt động kinh doanh ngành nghề. Ngoài hiệu quả kinh tế, hợp tác xã còn mang lại hiệu quả xã hội, góp phần phát triển kinh tế hộ, đồng thời mang lại lợi nhuận cho chính hợp tác xã và thành viên.
Có thể khẳng định, hợp tác xã nông nghiệp ra đời và phát triển là sự tất yếu, có tính quy luật của nền kinh tế thị trường, nhất là trong điều kiện một nước nông nghiệp như Việt Nam. Hợp tác xã nông nghiệp giúp tạo thêm việc làm, thu nhập cho người lao động, hạn chế tình trạng bất bình đẳng và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đặc biệt là trong giai đoạn kinh tế phát triển mạnh, đô thị hóa mở rộng và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần củng cố và phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa …” [24]. Chính sách nghiên cứu trong luận văn này là chính sách công, đó là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển [18]. Trên cơ sở khái niệm về chính sách và hợp tác xã nông nghiệp, có thể hiểu, Chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp là chủ trương làm cho quá trình tăng lên về số lượng, gia tăng quy mô của hợp tác xã nông nghiệp, mở rộng sản phẩm dịch vụ, các mối quan hệ liên kết, nâng cao năng lực hoạt động, chất lượng phục vụ, đa dạng hóa ngành nghề đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu về kinh tế, văn hóa – xã hội của các thành viên, thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội thông qua những thay đổi căn bản trong hợp tác xã 10 Luan van nông nghiệp về cơ cấu tổ chức, quy mô hợp tác xã cũng như năng lực phát triển và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh [16]. Thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp Trong chu trình chính sách công, thực hiện chính sách có vai trò rất quan trọng, nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách, kiểm nghiệm chính sách trong thực tế và góp phần cung cấp luận cứ cho việc hoạch định, ban hành chính sách tiếp theo.
Theo cách hiểu như trên, thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp là quá trình đưa chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp vào thực tiễn, thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản, chương trình, dự án về phát triển hợp tác xã nông nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Tổ chức thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp là một quá trình lâu dài và phức tạp, quy trình này có ba giai đoạn cơ bản là xây dựng và ban hành văn bản chỉ đạo thực thi chính sách; tổ chức thực hiện và sơ, tổng kết thực hiện chương trình, dự án thực thi chính sách. Các giai đoạn đó bao gồm các bước như sau: 1. Xây dựng kế hoạch thực hiện và ban hành các văn bản chính sách Quá trình thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp là diễn ra trong một thời gian dài, có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, do đó để có cơ sở chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện thống nhất, hiệu quả thì cần phải xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, rõ ràng, đảm bảo tính khoa học, khả thi để việc triển khai thực hiện được thuận lợi và đạt yêu cầu đề ra.
Các kế hoạch này bao gồm kế hoạch tổ chức, điều hành; kế hoạch cung 11 Luan van cấp nguồn lực; kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện; những nội quy, quy chế có liên quan … Căn cứ vào các chủ trương, chính sách về phát triển hợp tác xã nông nghiệp, chính quyền địa phương các cấp ban hành chương trình, kế hoạch triển khai và tổ chức thực hiện trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm được giao. Phổ biến, tuyên truyền chính sách Việc thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp có đạt kết quả, mục tiêu đề ra hay không còn tùy thuộc vào công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách của các cơ quan có liên quan, nhằm làm cho đối tượng chính sách hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung, của chính sách, từ đó tiếp nhận và ủng hộ, tự giác thực hiện chính sách cũng như quá trình thực hiện chính sách. Đối với cán bộ, công chức, việc tuyên truyền, phổ biến chính sách giúp họ nhận thức được đầy đủ quy mô, tính chất, nội dung của chính sách, từ đó chủ động tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện có hiệu quả các mục tiêu và nội dung chính sách đã đề ra. Chủ thể thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách là chính quyền, các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội các cấp … Việc tuyên truyền, phổ biến chính sách phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với các đối tượng chính sách như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi, thông tin với đối tượng chính sách, hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Phân công, phối hợp thực hiện chính sách Việc thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau, do đó việc phân công, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, cá nhân là một yếu tố quan trọng để thực thi chính sách có hiệu quả, nhằm tạo sự thống nhất, cũng như giải quyết tốt các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện chính sách. Trong đó Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan chủ trì, các cơ quan chuyên môn phụ trách lĩnh vực (như phòng 12 Luan van Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Tài chính – kế hoạch …) có nhiệm vụ tham mưu giúp Ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp. Do đó, cần có sự phân công một cách cụ thể, hợp lý và sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị liên quan đảm bảo hiệu quả thực hiện chính sách. Duy trì chính sách Duy trì chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp là làm cho chính sách tồn tại và phát huy hết tác dụng trong thực tiễn, đây là nội dung không thể thiếu trong quá trình thực hiện chính sách.
Muốn thực hiện được, trước hết chính sách đó phải có tính khả thi, cùng với đó là sự quyết tâm và thống nhất, đồng bộ của chủ thể chính sách, đồng thời cần có các công cụ, biện pháp thực hiện phù hợp với tình hình thực tế để chính sách được duy trì thực hiện một cách hiệu quả. Điều chỉnh chính sách Một chính sách trong quá trình thực hiện có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố mà chủ thể chính sách không lường trước được như thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế …, nên tùy theo tình hình thực tế mà điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Việc điều chỉnh chính sách là trách nhiệm của cơ quan ban hành chính sách, tuy nhiên trên thực tế hoạt động này diễn ra rất linh hoạt, vì thế cơ quan nhà nước, các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế một cách hợp lý, chính xác để thực hiện có hiệu quả chính sách, miễn không thay đổi mục tiêu chung của chính sách, không làm sai lệch, biến dạng chính sách. Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra là chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách phát triển hợp tác xã nông nghiệp.
Vì quá trình này do nhiều cơ quan, tổ chức tham gia, diễn ra ở nhiều địa bàn có tình hình, đặc điểm khác nhau, với trình độ, năng lực tổ chức thực hiện khác 13 Luan van nhau.