Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Nông thôn và vai trò của nông thôn 1. Khái niệm nông thôn Hiện nay trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về nông thôn tùy thuộc vào điều kiện KT-XH của mỗi Quốc gia.
Khi tiếp cận vấn đề nông thôn, nhiều người lấy khái niệm thành thị để làm rõ những nội hàm của khái niệm nông thôn. Trong đó, nhiều học giả sử dụng những tiêu chí về mật độ dân số, số lượng dân cư, trình độ phát triển kết cấu hạ tầng, trình độ phát triển sản xuất hàng hóa, khả năng tiếp cận thị trường, hoạt động sản xuất chủ yếu… để phân biệt nông thôn và thành thị (Bùi Quang Dũng, 2015). Theo đó, các nhà kinh tế học, xã hội học quan niệm nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng, trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa kém hơn. Tuy nhiên, khái niệm trên cần được đặt trong điều kiện thời gian và không gian nhất định.
Nông thôn là một khái niệm thông dụng nhưng có nội hàm rộng, được nhìn nhận khác nhau tùy theo cách tiếp cận. “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã” (Đinh Xuân Hùng, 2019). “Nông thôn là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông”, “Nông thôn là một xã hội, là môi trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nét đặc thù và đó không phải là đô thị (về không gian sống, về cấu trúc và tổ chức xã hội, về quan hệ con người và sinh kế) nhưng cũng không hoàn toàn đối lập với đô thị (nhất là về văn hóa)” (Nguyễn Xuân Thắng, 2015). “Nông thôn được hiểu là nơi sinh sống của người nông dân với các Luan van 5 hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù và không phải là đô thị” (Hồ Xuân Hùng, 2010).
Từ những khái niệm trên, nông thôn Việt Nam được xác định có các đặc điểm: - Thứ nhất, về địa lý, nông thôn là một địa bàn rộng lớn, bao quanh các thành thị (thành phố, thị xã, thị trấn). - Thứ hai, về kinh tế, nông thôn chủ yếu sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, các loại ngành nghề thủ công nghiệp và các loại hình dịch vụ phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp, nông dân. - Thứ ba, về tính chất xã hội, dân cư ở nông thôn chủ yếu là nông dân, mật độ dân cư thấp hơn thành thị, tính cộng đồng cao, có nhiều yếu tố tập quán riêng biệt. - Thứ tư, về môi trường tự nhiên, nông thôn lưu giữ và bảo tồn môi trường sinh thái tự nhiên, làm cho con người gần gũi với thiên nhiên.
Như vậy, nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác (Hà Tiến Thăng, 2019). Vai trò của nông thôn trong phát triển KT-XH Nông thôn có vai trò quan trọng đối với phát triển KT-XH của của tất cả các nước, vai trò đó thể hiện: Thứ nhất, nông thôn là không gian cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của nông nghiệp. Ở bất kỳ thời điểm nào, ở bất kỳ quốc gia nào, nông nghiệp luôn là kế sinh nhai, giúp ổn định cuộc sống cho phần lớn dân cư nông thôn, là nền tảng cho phát triển KT-XH, ổn định chính trị, tạo tiền để để công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ một nước nông nghiệp.
Vai trò trước tiên và quan trọng nhất của nông nghiệp trong nền kinh tế là cung cấp lương thực, thực phẩm, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần ổn định chính trị, đảm bảo an toàn cho Luan van 6 sự phát triển KT-XH. Nông nghiệp là nguồn cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế thông qua xuất khẩu nông sản. Nông nghiệp phát triển giúp giảm nghèo nhanh và bền vững, bởi phần lớn lao động tập trung ở nông thôn hay nông nghiệp phục vụ phần lớn cho người lao động (Trần Công Thắng, 2021). Thứ hai, nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Quốc gia nào cũng vậy, cội nguồn của dân tộc đều được sinh ra và phát triển từ nông thôn, bản sắc văn hóa làng quê vì thế đồng nghĩa với bản sắc văn hóa từng dân tộc. Giữ gìn bản sắc văn hóa làng quê là giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc. Thứ ba, nông thôn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, quá trình mưu cầu cuộc sống đầy đủ về vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên. Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người với thiên nhiên.
Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái. Thứ tư, nông thôn là nơi sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho người dân mà không một ngành sản xuất nào thay thế được (Vũ Nhữ Thăng, 2015). Thứ năm, trên địa bàn nông thôn có 70% lực lượng lao động xã hội, đó là nguồn lao động quan trọng cung cấp cho các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là ngành công nghiệp và dịch vụ. Thứ sáu, nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn những sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, đồng thời nông thôn cũng là nơi cung cấp số lượng lớn tài nguyên, nguyên liệu đầu vào thúc đẩy phát triển sản xuất (Phạm Huỳnh Minh Hùng, 2017).
Nông thôn mới, những yêu cầu đặt ra đối với xây dựng nông thôn mới 1. Nông thôn mới Mặc dù còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về NTM, tuy nhiên các quan điểm đều chỉ ra NTM là sự thay đổi nông thôn truyền thống thành một Luan van 7 hình thức nông thôn tốt hơn, phát triển hơn, ổn định và bền vững hơn. Theo nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn thì “Nông thôn mới được hiểu là nông thôn mà ở đó có kết cấu hạ tầng KT-XH hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng KT-XH và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Vũ Nhữ Thăng, 2015).
Những yêu cầu đặt ra đối với xây dựng nông thôn mới Để đảm bảo nông thôn Việt Nam phát triển bền vững, đạt được những mục tiêu đã được Đảng, Chính phủ đề ra, yêu cầu đặt ra đối với XD NTM giai đoạn tiếp theo như sau: Một là, các nội dung, hoạt động của chương trình XD NTM phải hướng tới đảm bảo phát triển nông thôn bền vững, cần quan tâm đến tất cả các vấn đề gắn với đời sống của người dân như kinh tế nông thôn, môi trường nông thôn, không gian sống ở khu vực nông thôn, giáo dục, y tế, dịch vụ công cộng, năng lực lãnh đạo, quản lý, bảo tồn phát huy giá trị di sản… (Huỳnh Công Chất, 2016). Hai là, xác lập, kiên trì, quyết tâm và dành nguồn lực xứng đáng đề thực hiện các nội dung trong XD NTM. Tránh tình trạng nóng vội, chạy theo thành tích vì XD NTM là quá trình ổn định và bền vững với những thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường hướng tới hiện đại và sự thịnh vượng lâu dài của cả cộng đồng Ba là, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng địa phương là chính, nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ thể do Luan van 8 chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện (Trần Công Thắng, 2021).
Bốn là, thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển nông thôn: lựa chọn một cách khoa học, sát thực tế với từng địa phương những nội dung, việc cần ưu tiên làm trước; kiên trì hỗ trợ nông dân về khoa học - kỹ thuật; hình thành giá đỡ để nông dân yên tâm sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; tạo môi trường tốt cho các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với trình độ người dân địa phương; củng cố, xây dựng các tổ chức xã hội vì lợi ích trực tiếp của chính cư dân nông thôn. Năm là, kế thừa và lồng ghép các chương trình MTQG, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế, huy động đóng góp của các tầng lớp nhân dân (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2019). Sáu là, XD NTM phải gắn với các quy hoạch, kế hoạch, mục tiêu phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và chính sách đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các bộ ban hành Như vậy, XD NTM chính là thực hiện chương trình phát triển toàn diện, bền vững nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm nâng cao đời sống người dân và ổn định xã hội. Mục tiêu trọng tâm của XDNTM là nâng cao đời sống người dân nông thôn, xây dựng xã hội nông thôn năng động, văn hoá hiện đại nhưng vẫn bảo tồn được các giá trị văn hoá truyền thống (Huỳnh Công Chất, 2016) 1.
Tính tất yếu của xây dựng nông thôn mới Đảng và nhà nước hết sức quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.