Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ năng tư duy sáng tạo của sinh viên. Chương 2: Thực trạng kỹ năng tư duy sáng tạo của sinh viên Khoa Quản trị nguồn nhân lực tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (hiện nay là Học viện Hành chính Quốc gia). Chương 3: Đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao kỹ năng tư duy sáng tạo cho sinh viên Khoa Quản trị nguồn nhân lực tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (hiện nay là Học viện Hành chính Quốc gia). 10 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TƢ DUY SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm “Tư duy” Theo quan điểm của tâm lý học, tư duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao – bộ não người. Tư duy phản ánh thế giới vật chất dưới dạng các hình ảnh lý tưởng: “Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết” [Phạm Minh Hạc (1998), Giáo trình Tâm lí học, NXB Giáo dục, Hà Nội].
Quá trình phản ánh này là quá trình gián tiếp, độc lập và mang tính khái quát, được nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính. Lê nin, tư duy là sự phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, đầy đủ hơn, đi sâu một cách vô hạn, tiến gần đến chân lý khách quan hơn. “Tư duy của người ta – đi sâu một cách vô hạn, từ giả tưởng tới bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể như vậy, đến bản chất cấp hai… đến vô hạn”. Lê nin (1977), “Bút ký triết học”, NXB Sự thật, Hà Nội.
Tư duy của mỗi người rất đa dạng, nó bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận khác nhau về thế giới xung quanh. Tuy nhiên, có một điểm chung đó là tư duy của người ta đi sâu một cách vô hạn, khám phá từ giả tưởng tới bản chất, từ bản chất cấp một đến bản chất cấp hai và đến vô hạn. Những suy nghĩ và cảm nhận đó có thể xuất phát từ thực tế, từ trải nghiệm hoặc từ trí tưởng tượng. Tư duy của con người được hình thành từ những thông tin và kinh nghiệm thu thập được trong suốt cuộc đời.
Và những suy nghĩ đó sẽ tiếp tục phát triển theo thời gian và hoàn thiện hơn trong mỗi cá nhân. Vì vậy, khi tìm hiểu về tư duy của người ta, chúng ta có thể thấy rằng nó rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, điểm chung của nó là khám phá và xây dựng những suy nghĩ và cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh, từ giả tưởng đến bản chất và đến vô hạn. 11 Dựa trên cơ sở những mối liên hệ, quan hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những mối liên hệ và quan hệ giữa các đối tượng hay các hiện thực của hiện thực khách quan.
[Mai Hữu Khuê (1985), “Những khía cạnh tâm lý của quản lý”, NXB Lao động, tr 153] Theo tác giả Nguyễn Đình Trãi cho rằng: Tư duy là quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát những tài liệu đã thu được qua nhận thức cảm tính, nhận thức kinh nghiệm để rút ra cái chung, cái bản chất của sự vật. [Nguyễn Đình Trãi (1996), “Năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác-Lenin ở các trường chính trị tỉnh”, Luận án tiến sỹ triết học, tr.19] Tư duy của con người mang bản chất xã hội – lịch sử, có tính sáng tạo, có khả năng khái quát và sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện. [Phạm Hồng Quý (2004), “Tìm hiểu thêm về khái niệm tư duy” Tạp chí Tâm lý học, Số 11, (tr 45 - 50)] Từ những quan niệm về tư duy như trên, ta có thể hiểu như sau: Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp và khái quát, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, để từ đó tìm ra được quy luật những mối liên hệ, quan hệ của sự vật, hiện tượng mà trước đó con người chưa phát hiện được. Do đó, tư duy mang đến cho con người những tri thức về thế giới và các sự vật, hiện tượng trong thế giới đó.
Khái niệm “Sáng tạo” Carl Rogers – một nhà tâm lý học người Mỹ cho rằng cái chính yếu của sự sáng tạo là sự mới mẻ, và bởi thế chúng ta không có tiêu chuẩn qua đó có thể xét đoán nó. Nhà tâm lý học Nga Lev Semyonovich Vygotsky khẳng định: “Sự sáng tạo thật ra không phải chỉ có ở nơi nó tạo ra những tác phẩm lịch sử vĩ đại, mà ở khắp nơi nào con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi và tạo ra một cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với những sáng tạo của các thiên tài”. Trong đời sống hàng ngày, xoay quanh chúng ta, sáng tạo là một điều kiện cần thiết của sự tồn tại và tất cả cái gì vượt qua khuôn khổ cũ và chứa đựng dù chỉ một nét của cái mới, thì nguồn gốc của nó đều do quá trình sáng tạo của con người. [Huỳnh Văn Sơn - Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu (2010), “Hành trình đi tìm ý tưởng sáng tạo”, NXB Đại học Sư phạm TPHCM] 12 - Trong cuốn “Sổ tay Tâm lý học”, tác giả Trần Hiệp và Đỗ Long cho rằng: “Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần.
Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kĩ năng và với điều kiện như vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc”. Nguyễn Huy Tú (1997), trong “Đề cương bài giảng Tâm lý học sáng tạo”, định nghĩa sáng tạo như sau: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề. Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra”.
“Sáng tạo còn có nghĩa là tạo ra giá trị mới, giá trị mới đó có ích hay có hại là tùy theo quan điểm người sử dụng và đối tượng nhận hiệu quả của việc sử dụng. Ở đây, ta luôn coi giá trị mới là có ích cho đối tượng nhận hiệu quả của việc sử dụng”. [Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Lê, Châu An (2005), “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo”, Nxb Giáo dục] Thực ra không có một khái niệm cố định nào cho sáng tạo. Tuy nhiên, có nhiều tài liệu và các nhà nghiên cứu về lĩnh vực này và chúng đều có những quan điểm khá tương đồng: Sáng tạo là đưa những ý tưởng, sáng kiến ứng dụng vào thực tế.
Theo quan điểm này có thể thấy sáng tạo được cấu thành bởi hai thành tố chính. Đó là tính độc đáo – ý tưởng mới mẻ và tính chức năng – ý tưởng hữu dụng. Theo một cách hiểu khác, sáng tạo chỉ sự kết nối nhiều thứ lại với nhau. Khi bạn hỏi những người sáng tạo về cách họ thực hiện một việc gì đó, họ sẽ cảm thấy ngượng ngùng một chút vì họ thực sự làm gì cả.
Qua thời gian, những ý tưởng ban đầu dần trở nên rõ ràng hơn mà thôi. Khái niệm “Kỹ năng” Theo tác giả Vũ Dũng thì kỹ năng được hiểu là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được các chủ thể tiếp thu để thực hiện những nhiệm vụ, hoạt động tương ứng 13 Theo tác giả Thái Duy Tuyên, kỹ năng chính là ứng dụng kiến thức của mỗi người vào trong hoạt động hằng ngày. Mỗi kỹ năng sẽ bao gồm một hệ thống các thao tác trí tuệ và các bước thực hành, thực hiện một cách trọn vẹn nhất hệ thống các thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho từng hoạt động. Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, có thể hiểu là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng đều nhằm vào một mục đích nhất định đã đề ra.
Kỹ năng còn được hiểu là sự hiểu biết của con người và thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra kết quả như mong muốn. Kỹ năng là việc nắm vững và vận dụng những kiến thức, sự hiểu biết của con người vào công việc kỹ thuật, tình cảm, chuyên môn, giao tiếp… một cách đúng đắn về những cách thức hành động giúp mục tiêu, kế hoạch, công việc đạt hiệu quả. Đa số các kỹ năng không tự nhiên mà có, nó phải tích lũy dần dần, hoàn thiện dần theo thời gian, qua những trải nghiệm, rèn luyện và sự học hỏi. Kỹ năng cũng chính là khả năng thực hiện nhuần nhuyễn một nhiệm vụ, sự nhạy bén trong việc xử lí vấn đề, sự linh hoạt trong những trường hợp phát sinh… nhằm hướng đến một kết quả đáng mong đợi.
Khái niệm “Tư duy sáng tạo” Tác giả Lê Hải Yến khi nghiên cứu về các loại tư duy đã cho rằng: Tư duy sáng tạo hay tư duy khám phá là loại tư duy mở, phi logic, có quan hệ chặt chẽ với tư duy phê phán hay tư duy lập luận logic trong tìm kiếm giải pháp giải quyết vấn đề sáng tạo.V (dẫn theo Lê Hải Yến) đưa ra khái niệm: Tư duy sáng tạo là một trong các dạng của tư duy, được đặc trưng bởi sự tạo nên sản phẩm mới và những cấu thành mới trong các hoạt động nhận thức. Cái mới đó có liên quan đến động cơ, mục đích, sự đánh giá và các ý tưởng của các chủ thể. Tư duy sáng tạo phân biệt với các quá trình tiếp nhận tri thức, kĩ năng có sẵn, một cách thụ động, các tri thức và kĩ năng có sẵn được tạo ra bởi tư duy tái tạo. Polya đưa ra quan niệm, tư duy sáng tạo có thể hiểu là tư duy tạo ra những tư liệu, phương tiện phục vụ cho việc giải các bài toán sau này.
Nếu các bài toán vận dụng những tư liệu phương tiện này có số lượng, độ khó càng lớn thì mức độ sáng tạo của tư duy càng cao.