CHƯƠNG 1 TƯ DUY PHẢN BIỆN VÀ SỰ CẦN THIẾT RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO SINH VIÊN TRONG THẾ KỈ 21 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của tư duy phản biện 1. Khái niệm tư duy phản biện Một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt con người với giới tự nhiên là năng lực tư duy. Nhờ có tư duy con người tách ra khỏi giới tự nhiên để hiểu nó, vận dụng những quy luật của giới tự nhiên để sinh tồn, phát triển.
Do đó, tư duy còn được xem như một năng lực để đánh giá phẩm chất người: “con người là cây sậy mỏng manh nhưng là cây sậy biết suy nghĩ” (Blaise Pascal), “tôi tư duy, do vậy tôi tồn tại” (Rene Descartes). Tư duy là khái niệm dùng để chỉ năng lực nhận thức bậc cao chỉ có ở con người, còn được gọi là tư duy trừu tượng hay lý tính. Về bản chất của tư duy theo quan niệm của triết học duy vật biện chứng: thứ nhất, tư duy là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ não con người trên cơ sở thực tiễn. Nguồn gốc của tư duy chính là quá trình lao động, quá trình con người cải biến thế giới khách quan tạo ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu của mình, như Ph.Ănghen đã chỉ ra: “chính việc người ta biến đổi giới tự nhiên, chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất, và trực tiếp nhất của tư duy con người” [42].
Hoạt động của tư duy cũng phụ thuộc vào hoạt động và tổ chức của bộ não người với tư cách là cơ quan vật chất của tư duy. Thế giới khách quan là đối tượng của tư duy phản ánh, nhưng không chỉ giới tự nhiên như nó vốn có mà còn bao gồm cả giới tự nhiên đã được biến đổi bởi con người. Và hoạt động phản ánh này của tư duy luôn diễn ra trên cơ sở thực tiễn, trong hoạt động sống cùng nhau của con người, nơi diễn ra các mối quan hệ xã hội giữa người với người. Thứ hai, tư duy phản ánh hiện thực khách quan một cách đặc thù.
Khác với nhận thức cảm tính - trình độ nhận thức phản ánh đối tượng chủ yếu thông qua các giác quan và giúp con người thu nhận những hình ảnh bề ngoài về đối tượng, phong phú, đa dạng nhưng chưa sâu sắc, chưa được tổng hợp và lý giải; tư duy là quá trình nhận thức những thuộc tính bên trong, bản chất của đối tượng, vận dụng khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa để tìm ra những thuộc tính cơ bản nhất, quy luật quan trọng nhất của đối tượng. Kết quả của tư duy là những tri thức được diễn đạt 10 dưới hình thức ngôn ngữ, những tri thức được kiểm nghiệm và đánh giá bằng các tiêu chuẩn khoa học và thực tiễn thì trở thành chân lý định hướng hoạt động của con người. Từ sự phân tích trên có thể rút ra: “tư duy là quá trình phản ánh bản chất của hiện thực khách quan bởi bộ não con người trên cơ sở thực tiễn tạo ra các tri thức, tư tưởng” [29]. Tư duy phản ánh hiện thực khách quan, trong khi đó thế giới khách quan vô cùng đa dạng, phong phú, nhiều tầng lớp, tồn tại vô cùng, vô tận; vì vậy, tư duy cũng phản ánh thế giới ở nhiều cấp độ, tầng diện khác nhau, tư duy cũng là một đối tượng phức tạp, nhiều chiều cạnh.
Các nhà nghiên cứu cũng phân chia tư duy thành nhiều loại khác nhau: phổ biến nhất là cách phân chia theo trình độ phản ánh thế giới khách quan có tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận, và theo phương thức phản ánh có tư duy logic và tư duy hình tượng. Ngày nay, xuất hiện nhiều cách phân chia mới như theo đặc điểm và cách thức giải quyết vấn đề có tư duy chiều đứng và tư duy chiều ngang (Edward de Bono); tư duy phê phán và tư duy sáng tạo (Joelau và Jonathan Chan). Ngoài ra, trong khoa học nghiên cứu tư duy, còn có nhiều khái niệm về tư duy như: tư duy hệ thống (khoa học hệ thống), tư duy phức hợp (Edgar Morin), tư duy chính trị, tư duy kinh tế…Điều đó cho thấy tư duy là một đối tượng phức hợp, nhiều chiều cạnh, và cũng là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều các lĩnh vực khác nhau. Vậy: thế nào là tư duy phản biện? Để làm rõ điều này cần khảo sát quan niệm của các nhà nghiên cứu đồng thời xuất phát từ chính bản chất của tư duy.
Con người luôn được dẫn dắt bởi những gì mình suy nghĩ, bởi những quan niệm của mình về cuộc sống. Do đó năng lực tư duy “nhìn sâu”, phản ánh được cái bản chất, bên trong của thế giới và con người để tìm ra sự thật, chân lý có vai trò như kim chỉ nam, định hướng cho con người trong nhận thức, hoạt động giải quyết vấn đề. Nhưng tư duy không chỉ phản ánh thế giới khách quan, năng lực tư duy còn thể hiện ở khả năng xem xét, đánh giá chính quá trình phản ánh đó thông qua quá trình lập luận với nhiều thao tác logic phức tạp để đánh giá tính, đúng sai của các quan niệm, từ đó tìm kiếm và khẳng định chân lý. Bởi chỉ có nắm được chân lý mới giúp con người giải quyết tốt các vấn đề và đem lại sự tiến bộ cho xã hội.
Năng lực tư duy đó còn được gọi là tư duy phản biện (hay tư duy biện luận, tư duy phê phán). Nó là cơ sở, tiền đề cho mọi sáng tạo, đổi mới trong cuộc sống. 11 Nguồn gốc của khái niệm tư duy phản biện có trong những nghiên cứu, phương pháp triết học từ thời cổ đại. Triết gia Socrate (470-399 TCN) phát triển nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý thông qua các cuộc đối thoại giữa các tư tưởng, ý kiến khác nhau; thông qua quá trình đặt câu hỏi để người được hỏi tự tìm kiếm câu trả lời dựa trên các căn cứ, lập luận hợp lý.
Trong Kinh Vệ Đà của Phật Giáo, Phật Thích ca đưa ra những lời dạy kinh điển định hướng con người trong quá trình đi tìm chân lý. Con đường đó mỗi cá nhân phải tự mình đi “hãy thắp đuốc lên mà đi”, mỗi cá nhân phải tự trở thành ngọn đèn của chính mình. Muốn vậy phải có tư duy độc lập để xem xét những quan điểm được đưa lại từ bên ngoài, không thể dễ dàng tin một quan niệm nào đó là đúng chỉ vì lời đồn đại, vì nghe có vẻ hợp lý, vì được ghi lại trong kinh điển hay sách vở, vì nó phù hợp với định kiến hay lập trường của mình, hay bởi vì người nói ra là một bậc thầy. Chỉ khi những điều đó được chứng minh là tốt đẹp, có ích, được thực hành, quan sát, trải nghiệm và đem lại hạnh phúc mới nên tin và làm theo [47].
Ngày nay, tư duy phản biện được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong xã hội hiện đại bởi tầm quan trọng thiết yếu của nó trong nhận thức và giải quyết vấn đề. Russell Brooker: “Tư duy phản biện là một quá trình tư duy nhằm chất vấn các giả định hay giả thiết. Đó là cách để khẳng định rằng một giả định nào đó là đúng hay sai, đôi khi đúng hay có phần đúng” [22]. John Dewey cho rằng tư duy phản biện là “Sự suy xét chủ động, liên tục, cẩn trọng về một niềm tin, một giả định khoa học có xét đến những lí lẽ bảo vệ nó và những kết luận xa hơn được nhắm đến” [ 46].
Theo Richard và Linda: “tư duy phản biện là một loại tư duy - về mọi chủ đề, nội dung hay lĩnh vực - sẽ tự cải thiện chính mình thông qua sự phân tích và đánh giá có kỉ luật. Sự phân tích đòi hỏi kiến thức về các yếu tố của tư tưởng; sự đánh giá đòi hỏi kiến thức về các chuẩn của tư tưởng” [46]. Tư duy phản biện là trình độ tư duy bậc cao, là “tư duy về tư duy”. Ở đây, đối tượng được xem xét, phản ánh không phải là thế giới khách quan mà là chính tư duy, là kết quả của quá trình phản ánh của tư duy (tri thức, tư tưởng, quan niệm, phán đoán, giả thiết, suy luận….
Các quá trình tư duy và kết quả của tư duy được đem ra phân tích, đánh giá để xác định tính đúng, sai trước khi được đem vận dụng vào giải quyết vấn đề và ra quyết định. Năng lực tư duy này đòi hỏi không chỉ hiểu biết về đối tượng được phản ánh mà còn nắm vững được tri thức về yếu tố cấu thành và vận động của tư 12 duy, cũng như cách sắp xếp, tổ chức các yếu tố đó có tính quy luật. Tri thức về tư duy không chỉ được đúc kết trong quá trình học tập, trong việc tiếp thu những kinh nghiệm trong thực tiễn tư duy của loài người mà còn được lĩnh hội một cách tự giác thông qua học tập các khoa học nghiên cứu về tư duy. Khi các tri thức, quan niệm, giải pháp được đưa ra xem xét dưới “ánh sáng” của tư duy phản biện, “mô hình tư duy” có cơ hội được được “cải tiến” tốt hơn [65].
Có thể coi tư duy phản biện là quá trình cải thiện chất lượng tư duy thông qua việc đánh giá lại quá trình, kết quả của nó, tìm căn cứ vững chắc cho quá trình khẳng định chân lý và bác bỏ sai lầm. Nó là quá trình dựa trên các căn cứ khoa học, xác thực, thông qua quá trình lập luận logic để làm sáng tỏ vấn đề, quan điểm nhằm tìm ra sự thật, chân lý. Như vậy, có thể khái quát: tư duy phản biện là năng lực đánh giá các vấn đề, tri thức, tư tưởng thông qua lập luận để tìm kiếm chân lý trong quá trình tư duy và ra quyết định. Tư duy phản biện đòi hỏi sự tổng hợp của các khả năng tư duy như: đặt câu hỏi, cái nhìn đa chiều, toàn diện, phân tích, đánh giá, khái quát, suy luận.
Có sự khác biệt nhất định giữa “tư duy phản biện” và “phản biện”. Phản biện là hoạt động đánh giá một ý kiến, quan điểm, lý thuyết, chính sách xã hội…bằng các lý lẽ và dẫn chứng để chứng minh tính đúng, sai của chúng; từ đó, tìm các giải pháp để giải quyết và cải thiện chúng. Như vậy, hoạt động phản biện tốt cần có năng lực tư duy phản biện. Tuy nhiên, tư duy phản biện không chỉ cần thiết cho hoạt động phản biện mà cho mọi hoạt động của con người, những hoạt động vốn luôn cần sự chủ động, độc lập, sáng tạo của tư duy và do đó luôn cần mang “tính phản biện”.