Nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng

Tài liệu nghiên cứu, phân tích sâu về thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng qua các số liệu và kết quả khảo sát.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

78
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Tầm Quan Trọng của Kỹ Năng Giao Tiếp

Kỹ năng giao tiếp là một trong những yếu tố then chốt trong sự phát triển toàn diện của sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng. Giao tiếp không chỉ là việc trao đổi thông tin mà còn là khả năng hiểu biết, chia sẻ và xây dựng mối quan hệ tích cực với người khác. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, kỹ năng giao tiếp của sinh viên đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập, hợp tác nhóm và chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai. Sinh viên sư phạm đặc biệt cần phát triển kỹ năng này vì họ sẽ trở thành giáo viên, những người hướng dẫn và tổ chức giao tiếp với học sinh, phụ huynh và đồng nghiệp. Các nghiên cứu từ Khoa Tâm lý – Giáo dục của trường cho thấy sinh viên có kỹ năng giao tiếp tốt sẽ thích ứng nhanh hơn với môi trường đại học và đạt hiệu quả học tập cao hơn.

1.1. Định Nghĩa Kỹ Năng Giao Tiếp

Kỹ năng giao tiếp được định nghĩa là tập hợp các khả năng và kỹ thuật giúp con người có thể trao đổi thông tin, ý tưởng một cách hiệu quả và phù hợp. Đối với sinh viên đại học, đây là khả năng diễn đạt rõ ràng, lắng nghe chủ động, thể hiện cảm xúc phù hợp và điều chỉnh hành vi trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Kỹ năng này bao gồm giao tiếp lời nói, phi lời nói, viết lách và kỹ năng lắng nghe.

1.2. Vai Trò của Kỹ Năng Giao Tiếp với Sinh Viên Sư Phạm

Đối với sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, kỹ năng giao tiếp là nền tảng cho sự thành công trong nghề dạy học. Giáo viên cần giao tiếp hiệu quả với học sinh, giải thích kiến thức một cách dễ hiểu, và quản lý lớp học một cách chuyên nghiệp. Ngoài ra, khả năng giao tiếp tốt giúp sinh viên xây dựng mối quan hệ bạn bè vững chắc, hợp tác trong các dự án nhóm, và phát triển kỹ năng lãnh đạo.

II. Các Thành Phần Chính của Kỹ Năng Giao Tiếp

Nghiên cứu từ Khoa Tâm lý – Giáo dục cho thấy kỹ năng giao tiếp của sinh viên được chia thành nhiều thành phần khác nhau. Các thành phần này bao gồm năng lực đóng vai trò tích cực trong giao tiếp, năng lực thụ động như lắng nghe, và năng lực điều chỉnh sự cân bằng trong các mối quan hệ. Mỗi thành phần đều có vai trò riêng và cần được phát triển song song. Kỹ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu cũng là một yếu tố quan trọng giúp sinh viên có thể truyền tải thông tin một cách hiệu quả. Sự kết hợp hài hòa giữa các thành phần này sẽ tạo nên một người giao tiếp tài ba, có khả năng thích ứng với nhiều bối cảnh và đối tượng khác nhau.

2.1. Năng Lực Tích Cực và Chủ Động trong Giao Tiếp

Năng lực đóng vai trò tích cực bao gồm kỹ năng thuyết phục, kỹ năng tự kiềm chế khi cần thiết, và khả năng chủ động điều khiển quá trình giao tiếp. Những sinh viên có năng lực này thường dễ dàng phát biểu ý kiến, thuyết phục được người khác, và dẫn dắt các cuộc trò chuyện theo hướng mong muốn. Điều này rất cần thiết cho sinh viên sư phạm khi họ cần điều hành lớp học hiệu quả.

2.2. Năng Lực Thụ Động và Lắng Nghe

Kỹ năng nghesự nhạy cảm trong giao tiếp là hai thành phần quan trọng của năng lực thụ động. Sinh viên cần biết cách lắng nghe chủ động, hiểu được cảm xúc và nhu cầu của đối tượng giao tiếp. Khả năng này giúp sinh viên đại học xây dựng sự tin tưởng và thiết lập các mối quan hệ sâu sắc hơn.

III. Đặc Điểm Tâm Lý Sinh Viên và Sự Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp

Sinh viên đại học, đặc biệt là sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, đang ở giai đoạn phát triển tâm lý rất quan trọng. Ở giai đoạn này, các em đang hình thành nhân cách, phát triển bộ kỹ năng xã hội, và xây dựng danh tính riêng của mình. Một số đặc điểm tâm lý tiêu biểu của sinh viên bao gồm tính tự ý thức cao, khả năng tư duy trừu tượng, và nhu cầu mạnh mẽ được chấp nhận bởi nhóm bạn cùng tuổi. Những đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kỹ năng giao tiếp. Sinh viên cần được hướng dẫn và tạo điều kiện để phát triển khả năng tự kiềm chế cảm xúc, linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp, và cân bằng nhu cầu cá nhân với nhu cầu của người khác.

3.1. Đặc Điểm Tâm Lý của Sinh Viên Đại Học

Sinh viên ở độ tuổi 18-24 thường có sự phát triển nhận thức cao, khả năng suy luận logic và tư duy phản biện phát triển mạnh. Tuy nhiên, họ cũng gặp phải những thách thức như áp lực học tập, lo lắng về tương lai, và cần tìm kiếm bản sắc riêng. Kỹ năng giao tiếp trở thành một công cụ quan trọng giúp các em vượt qua những thách thức này.

3.2. Mối Liên Hệ Giữa Đặc Điểm Tâm Lý và Phát Triển Kỹ Năng

Sự phát triển kỹ năng giao tiếp không tách rời khỏi các đặc điểm tâm lý của sinh viên. Những em có khả năng quản lý cảm xúc tốt sẽ có kỹ năng giao tiếp hiệu quả hơn. Các chương trình đào tạo tại Đại học Sư phạm Đà Nẵng cần chú ý đến yếu tố tâm lý này.

IV. Phương Pháp Phát Triển Kỹ Năng Giao Tiếp cho Sinh Viên

Để phát triển kỹ năng giao tiếp hiệu quả, sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng cần áp dụng các phương pháp đa dạng và toàn diện. Thứ nhất, các em cần tham gia vào các hoạt động nhóm trong trường học, như các câu lạc bộ, tổ chức sự kiện, hoặc thuyết trình trước lớp. Thứ hai, sinh viên nên tìm kiếm cơ hội thực hành giao tiếp trong các tình huống thực tế, chẳng hạn như dạy thử nghiệm tại các trường phổ thông hoặc tham gia các dự án cộng đồng. Thứ ba, việc học hỏi từ các mô hình tích cực trong các khóa học, seminar, hoặc từ những người có kỹ năng giao tiếp xuất sắc là rất quan trọng. Cuối cùng, sinh viên cần có ý thức tự phản ánh về những điểm mạnh và yếu trong giao tiếp của mình để liên tục cải thiện.

4.1. Các Hoạt Động Phát Triển Kỹ Năng Trong Trường Đại Học

Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng cần thiết kế các hoạt động phát triển kỹ năng giao tiếp hợp lý. Điều này bao gồm các khóa đào tạo về kỹ năng thuyết trình, kỹ năng lắng nghe hiệu quả, kỹ năng giải quyết xung đột, và kỹ năng xây dựng mối quan hệ. Sinh viên nên được khuyến khích tham gia các buổi thảo luận nhóm, trình bày kết quả nghiên cứu, và thực hành các kỹ năng này trong môi trường an toàn.

4.2. Tự Rèn Luyện và Phản Ánh Cá Nhân

Ngoài các hoạt động ở trường, sinh viên cần chủ động rèn luyện kỹ năng giao tiếp hằng ngày. Điều này có thể bao gồm việc đọc sách về giao tiếp, xem các video hướng dẫn, tham gia các nhóm thảo luận trực tuyến, hoặc tìm kiếm những cơ hội để giao tiếp với những người mới. Phản ánh cá nhân về những lần giao tiếp của mình, xác định những điểm cần cải thiện, và lập kế hoạch để phát triển là rất quan trọng.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP 1. Tổng quan lịch sử các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nước ngoài Cuốn sách “Teaching and Learning Communication Skills in Medicine” của tác giả Suzanne Kurtz, Juliet Draper và Jonathan Silverman, xuất bản lần đầu vào năm 2005. Cuốn sách này và cuốn sách đi kèm, Skills for Communicating with Patients, Tái bản lần thứ hai, cung cấp một cách tiếp cận toàn diện để cải thiện giao tiếp trong y học.

Được cập nhật và sửa đổi đầy đủ cũng như được mở rộng đáng kể, ấn bản mới này xem xét cách xây dựng chương trình giảng dạy kỹ năng ở tất cả các cấp độ giáo dục y tế và xuyên suốt các chuyên ngành, ghi lại các kỹ năng cá nhân tạo thành nội dung cốt lõi của chương trình giảng dạy kỹ năng giao tiếp và khám phá sâu các vấn đề cụ thể. phương pháp giảng dạy, học tập và đánh giá hiện đang được sử dụng trong giáo dục y tế. Kể từ khi xuất bản, ấn bản đầu tiên của cuốn sách này và cuốn sách kèm theo Kỹ năng giao tiếp với bệnh nhân, đã trở thành văn bản tiêu chuẩn trong việc giảng dạy kỹ năng giao tiếp trên toàn thế giới, 'cuốn sách giáo khoa hoàn toàn dựa trên bằng chứng đầu tiên về phỏng vấn y tế. Đây là tài liệu cần thiết cho những người tổ chức khóa học, những người giảng dạy hoặc làm mẫu các kỹ năng giao tiếp và người quản lý chương trình.

Nghiên cứu “Communication skills for effective management” (năm 2004) của Owen Hargie, David Dickson and Dennis Tourish. Nghiên cứu bao gồm 15 phần lớn về toàn diện nhiều khía cạnh của giao tiếp, đưa ra những cách thức để có thể nâng cao kỹ năng giao tiếp cho người đọc, từ ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết đều được trình bày cụ thể và về nhiều khía cạnh thú vị. Đây là tài liệu hữu ích cho ngành quản lý, sale, và cả cho những nhân viên bán hàng có thể ứng dụng để đạt được hiệu quả cao trong công việc. Thế giới của người quản lý giao tiếp; Đó không phải là điều bạn nói…: giao tiếp phi ngôn ngữ; Họ có thể bị thuyết phục: sử dụng ảnh hưởng quản lý của bạn; Hãy cùng nhau làm việc: các nhóm làm việc; Chỉ đạo: dẫn dắt các cuộc họp hiệu quả; Con quỷ lưỡi bạc đó …: làm cho bài thuyết trình trở nên quan trọng; Chúng ta có thể giải quyết: đàm phán và thương lượng; Họ sẽ mua nó chứ? Tại sao người quản lý phải có khả năng bán; Gọi cho tất cả các tổ chức: kinh doanh điện thoại; Vấn đề viết: cách tạo ấn tượng khi viết; Kể như thế này…: giao tiếp một cách quyết đoán; Vấn đề của bạn là gì? Sự giúp đỡ tại nơi làm việc; Cuộc chiến giành nhân tài: kỹ năng tuyển chọn dành cho những 7 nhà quản lý bận rộn; Thời gian phản hồi: đánh giá và quản lý hiệu suất; Đi theo con đường đúng đắn: ánh sáng dẫn đường của đạo đức và kiểm soát.

Trong nước Nghiên cứu “Thái độ về học kỹ năng giao tiếp của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Y Hà Nội” (năm 2021) của Phạm Thị Bích Diệp và Phạm Thị Nga, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu mô tả thái độ về học kỹ năng giao tiếp và một số yếu tố liên quan của SV năm thứ nhất ngành bác sĩ y khoa Trường Đại Học Y Hà Nội năm học 2020- 2021 và một số yếu tố liên quan. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 431 SV năm nhất hệ bác sĩ đa khoa. Kết quả cho thấy thái độ tích cực học KNGT của SV là cao (điểm PAS = 51,2/65) và thái độ tiêu cực học KNGT là thấp (điểm NAS =30,3/65).

SV có bố là bác sỹ và SV tin là KNGT cần thiết cho SV y có mối liên quan đến thái độ về học KNGT. Ngoài ra, SV nam có thái độ tiêu cực với học KNGT hơn là nữ, SV có người thân/quen cho rằng KNGT cần thiết với SV y có mối liên quan tích cực đến học KNGT. SV cần được truyền thông nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của học KNGT. Ngoài ra, cần tiếp tục rèn luyện KNGT liên tục cho SV trong các năm học tiếp cho đến khi ra trường.

Nghiên cứu “Đánh giá nhu cầu của sinh viên khoa dược trường đại học y dược, đại học thái nguyên đối với lớp kỹ năng giao tiếp” (năm 2023), của Nguyễn Thị Mỹ Ninh, Lê Thị Giang, Trường và Nguyễn Ngọc Minh, trường Đại học Y Dược – ĐH Thái Nguyên, tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên. Kỹ năng giao tiếp trong Y- Dược là một trong những năng lực nền tảng của nhân viên y tế. Nhưng sinh viên có thể chưa nhận thức được lợi ích của kỹ năng giao tiếp trong thực hành lâm sàng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá nhu cầu của sinh viên năm thứ 2 và năm thứ 3 khoa Dược, trường Đại học Y-Dược, Đại học Thái Nguyên đối với lớp kỹ năng giao tiếp.

Số liệu được xử lý bằng phần mềm excel trên máy tính. Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 210 sinh viên đại học dược K17 và K18, qua khảo sát chúng tôi thu nhận được 210 phiếu phản hồi (tỷ lệ phản hồi đạt 100%). Kết quả nghiên cứu cho thấy: số sinh viên hiểu về kỹ năng giao tiếp nhưng chưa ứng dụng vào thực tế chiếm tỷ lệ 64,28%. Sinh viên cần kỹ năng giao tiếp là để giúp tự tin và năng động là 92,85%, về kỹ năng giao tiếp hiện tại thì phần lớn sinh viên đều ở mức độ không hài lòng chiếm 73,3%.

Tỷ lệ sinh viên có nhu cầu tham gia lớp kỹ năng giao tiếp khá cao, chiếm tỷ lệ 64,28%. 8 Nghiên cứu “Năng lực giao tiếp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh” (năm 2015) của ThS. Phạm Văn Tuân, tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng. Năng lực giao tiếp là một trong những năng lực quan trọng đối với sinh viên, việc học tập và rèn luyện nâng cao năng lực giao tiếp không những giúp sinh viên nâng cao năng lực nghề nghiệp mà còn giúp nâng cao cơ hội việc làm và khả năng thành công trong cuộc sống.

Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về năng lực giao tiếp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh và một số yếu tố ảnh hưởng. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực giao tiếp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh ở mức khá. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp của sinh viên, trong số các yếu tố được khảo sát, “tính tích cực học tập, rèn luyện năng lực giao tiếp” và “môi trường học tập, rèn luyện năng lực giao tiếp” là những yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất. Nghiên cứu “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị” (năm 2008) của Lê Quang Sơn, Nguyễn Thị Diễm, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 2 (25), 2008, trang 107-114.

Nghiên cứu được tiến hành trên 180 sinh viên trường Cao đẳng Sư Phạm Quảng Trị trong 2 năm 2006 và 2007 bằng cách sử dụng phối hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu tâm lý như: các phương pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp trắc nghiệm tâm lý, điều tra viết, quan sát, phỏng vấn, thực nghiệm, và phương pháp thống kê toán học. Phần lớn sinh viên có kỹ năng giao tiếp ở mức trung bình và trung bình thấp, xét trung bình chung có khoảng 50,28% sinh viên có kỹ năng giao tiếp ở mức trung bình, 26,81% ở mức trung bình thấp. Tỷ lệ sinh viên đạt mức độ cao rất ít, chiếm 0,97% trong tổng số sinh viên. Số sinh viên có kỹ năng giao tiếp ở mức độ thấp chiếm tỷ lệ thấp (7,22%).

Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nếu được quan tâm và có biện pháp thích hợp thì có thể hoàn toàn có thể nâng cao và hoàn thiện giao tiếp cho sinh viên, tạo dựng cho sinh viên sư phạm một công cụ hữu hiệu để thực hiện tốt các nhiệm vụ của nhà giáo dục. Theo Phương Nguyên, “Kỹ năng mềm và thương hiệu cá nhân”, báo Thanh niên. “Hiện có tới 83% sinh viên tốt nghiệp được đánh giá là thiếu kỹ năng mềm, 37% không tìm được việc làm phù hợp vì nhiều nguyên nhân - trong đó do thiếu yếu tố kỹ năng là chủ yếu. Còn theo thống kê từ Viện Khoa học Lao động (Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội), cứ 2.000 hồ sơ xin việc được nộp vào các doanh nghiệp thì chỉ có 40 hồ sơ đạt yêu cầu.

Một cán bộ nhân sự ngân hàng Vietcombank cũng bộc bạch: Tôi rất bức xúc khi thấy không ít bạn sinh viên thực tập, hoặc sinh viên mới ra trường, dù đã được 9 huấn luyện trước, nhưng hình như không có ý thức mở một nụ cười và lời chào thân thiện khi gặp những đồng nghiệp đi trước trong cơ quan”. Điều này cho thấy kỹ năng giao tiếp đóng một vai trò không nhỏ cho mỗi thành công của con người và thiếu kỹ năng giao tiếp đã làm cho sinh viên “mất điểm” trước nhà tuyển dụng dù kiến thức chuyên môn có thật sự vững vàng. Nghiên cứu “Kỹ năng giao tiếp của cán bộ công chức trong công tác tiếp dân tại bộ phận một cửa, một cửa liên thông thuộc ủy ban nhân dân Huyện Thanh Oai Thành phố Hà Nội”, năm 2018, tác giả Trần Thu Trà My, Khóa luận tốt nghiệp ngành quản trị văn phòng. Nhìn vào biểu đồ ta thấy, mức độ đánh giá kỹ năng lắng nghe trong công tác tiếp dân của CBCC giữa CBCC đánh giá và công dân đánh giá chênh lệch nhau đáng kể.

Đa số CBCC cho rằng họ lắng nghe ý kiến của công dân (chiếm ~71%); tùy từng trường hợp lắng nghe (chiếm ~29%); không lắng nghe ý kiến công dân (chiếm 0%). Về phía công dân, đa số công dân cho rằng CBCC tùy từng trường hợp lắng nghe ý kiến công dân, không phải lúc nào cũng tiếp thu ý kiến của dân (chiếm ~44%); CBCC lắng nghe ý kiến công dân (chiếm ~ 56%); CBCC không lắng nghe ý kiến công dân (chiếm 0%). (1) Đề tài “Một số vấn đề về công tác tiếp công dân. Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác tiếp công dân trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Kim Tuyến, lớp Nghiệp vụ Thanh tra cơ bản (K3-2007), Trường Cán bộ Thanh tra.

(2) Khóa luận “Kỹ năng tiếp dân của cán bộ, công chức bộ phận một cửa qua khảo sát tại một số Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội” của Nguyễn Thu Hiền, lớp 1307QTVA, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ