CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP 1. Tổng quan lịch sử các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nước ngoài Cuốn sách “Teaching and Learning Communication Skills in Medicine” của tác giả Suzanne Kurtz, Juliet Draper và Jonathan Silverman, xuất bản lần đầu vào năm 2005. Cuốn sách này và cuốn sách đi kèm, Skills for Communicating with Patients, Tái bản lần thứ hai, cung cấp một cách tiếp cận toàn diện để cải thiện giao tiếp trong y học.
Được cập nhật và sửa đổi đầy đủ cũng như được mở rộng đáng kể, ấn bản mới này xem xét cách xây dựng chương trình giảng dạy kỹ năng ở tất cả các cấp độ giáo dục y tế và xuyên suốt các chuyên ngành, ghi lại các kỹ năng cá nhân tạo thành nội dung cốt lõi của chương trình giảng dạy kỹ năng giao tiếp và khám phá sâu các vấn đề cụ thể. phương pháp giảng dạy, học tập và đánh giá hiện đang được sử dụng trong giáo dục y tế. Kể từ khi xuất bản, ấn bản đầu tiên của cuốn sách này và cuốn sách kèm theo Kỹ năng giao tiếp với bệnh nhân, đã trở thành văn bản tiêu chuẩn trong việc giảng dạy kỹ năng giao tiếp trên toàn thế giới, 'cuốn sách giáo khoa hoàn toàn dựa trên bằng chứng đầu tiên về phỏng vấn y tế. Đây là tài liệu cần thiết cho những người tổ chức khóa học, những người giảng dạy hoặc làm mẫu các kỹ năng giao tiếp và người quản lý chương trình.
Nghiên cứu “Communication skills for effective management” (năm 2004) của Owen Hargie, David Dickson and Dennis Tourish. Nghiên cứu bao gồm 15 phần lớn về toàn diện nhiều khía cạnh của giao tiếp, đưa ra những cách thức để có thể nâng cao kỹ năng giao tiếp cho người đọc, từ ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết đều được trình bày cụ thể và về nhiều khía cạnh thú vị. Đây là tài liệu hữu ích cho ngành quản lý, sale, và cả cho những nhân viên bán hàng có thể ứng dụng để đạt được hiệu quả cao trong công việc. Thế giới của người quản lý giao tiếp; Đó không phải là điều bạn nói…: giao tiếp phi ngôn ngữ; Họ có thể bị thuyết phục: sử dụng ảnh hưởng quản lý của bạn; Hãy cùng nhau làm việc: các nhóm làm việc; Chỉ đạo: dẫn dắt các cuộc họp hiệu quả; Con quỷ lưỡi bạc đó …: làm cho bài thuyết trình trở nên quan trọng; Chúng ta có thể giải quyết: đàm phán và thương lượng; Họ sẽ mua nó chứ? Tại sao người quản lý phải có khả năng bán; Gọi cho tất cả các tổ chức: kinh doanh điện thoại; Vấn đề viết: cách tạo ấn tượng khi viết; Kể như thế này…: giao tiếp một cách quyết đoán; Vấn đề của bạn là gì? Sự giúp đỡ tại nơi làm việc; Cuộc chiến giành nhân tài: kỹ năng tuyển chọn dành cho những 7 nhà quản lý bận rộn; Thời gian phản hồi: đánh giá và quản lý hiệu suất; Đi theo con đường đúng đắn: ánh sáng dẫn đường của đạo đức và kiểm soát.
Trong nước Nghiên cứu “Thái độ về học kỹ năng giao tiếp của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Y Hà Nội” (năm 2021) của Phạm Thị Bích Diệp và Phạm Thị Nga, Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu mô tả thái độ về học kỹ năng giao tiếp và một số yếu tố liên quan của SV năm thứ nhất ngành bác sĩ y khoa Trường Đại Học Y Hà Nội năm học 2020- 2021 và một số yếu tố liên quan. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 431 SV năm nhất hệ bác sĩ đa khoa. Kết quả cho thấy thái độ tích cực học KNGT của SV là cao (điểm PAS = 51,2/65) và thái độ tiêu cực học KNGT là thấp (điểm NAS =30,3/65).
SV có bố là bác sỹ và SV tin là KNGT cần thiết cho SV y có mối liên quan đến thái độ về học KNGT. Ngoài ra, SV nam có thái độ tiêu cực với học KNGT hơn là nữ, SV có người thân/quen cho rằng KNGT cần thiết với SV y có mối liên quan tích cực đến học KNGT. SV cần được truyền thông nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của học KNGT. Ngoài ra, cần tiếp tục rèn luyện KNGT liên tục cho SV trong các năm học tiếp cho đến khi ra trường.
Nghiên cứu “Đánh giá nhu cầu của sinh viên khoa dược trường đại học y dược, đại học thái nguyên đối với lớp kỹ năng giao tiếp” (năm 2023), của Nguyễn Thị Mỹ Ninh, Lê Thị Giang, Trường và Nguyễn Ngọc Minh, trường Đại học Y Dược – ĐH Thái Nguyên, tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên. Kỹ năng giao tiếp trong Y- Dược là một trong những năng lực nền tảng của nhân viên y tế. Nhưng sinh viên có thể chưa nhận thức được lợi ích của kỹ năng giao tiếp trong thực hành lâm sàng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá nhu cầu của sinh viên năm thứ 2 và năm thứ 3 khoa Dược, trường Đại học Y-Dược, Đại học Thái Nguyên đối với lớp kỹ năng giao tiếp.
Số liệu được xử lý bằng phần mềm excel trên máy tính. Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 210 sinh viên đại học dược K17 và K18, qua khảo sát chúng tôi thu nhận được 210 phiếu phản hồi (tỷ lệ phản hồi đạt 100%). Kết quả nghiên cứu cho thấy: số sinh viên hiểu về kỹ năng giao tiếp nhưng chưa ứng dụng vào thực tế chiếm tỷ lệ 64,28%. Sinh viên cần kỹ năng giao tiếp là để giúp tự tin và năng động là 92,85%, về kỹ năng giao tiếp hiện tại thì phần lớn sinh viên đều ở mức độ không hài lòng chiếm 73,3%.
Tỷ lệ sinh viên có nhu cầu tham gia lớp kỹ năng giao tiếp khá cao, chiếm tỷ lệ 64,28%. 8 Nghiên cứu “Năng lực giao tiếp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh” (năm 2015) của ThS. Phạm Văn Tuân, tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng. Năng lực giao tiếp là một trong những năng lực quan trọng đối với sinh viên, việc học tập và rèn luyện nâng cao năng lực giao tiếp không những giúp sinh viên nâng cao năng lực nghề nghiệp mà còn giúp nâng cao cơ hội việc làm và khả năng thành công trong cuộc sống.
Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về năng lực giao tiếp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh và một số yếu tố ảnh hưởng. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng lực giao tiếp của sinh viên Trường Đại học Trà Vinh ở mức khá. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp của sinh viên, trong số các yếu tố được khảo sát, “tính tích cực học tập, rèn luyện năng lực giao tiếp” và “môi trường học tập, rèn luyện năng lực giao tiếp” là những yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất. Nghiên cứu “Đặc điểm giao tiếp của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị” (năm 2008) của Lê Quang Sơn, Nguyễn Thị Diễm, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 2 (25), 2008, trang 107-114.
Nghiên cứu được tiến hành trên 180 sinh viên trường Cao đẳng Sư Phạm Quảng Trị trong 2 năm 2006 và 2007 bằng cách sử dụng phối hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu tâm lý như: các phương pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp trắc nghiệm tâm lý, điều tra viết, quan sát, phỏng vấn, thực nghiệm, và phương pháp thống kê toán học. Phần lớn sinh viên có kỹ năng giao tiếp ở mức trung bình và trung bình thấp, xét trung bình chung có khoảng 50,28% sinh viên có kỹ năng giao tiếp ở mức trung bình, 26,81% ở mức trung bình thấp. Tỷ lệ sinh viên đạt mức độ cao rất ít, chiếm 0,97% trong tổng số sinh viên. Số sinh viên có kỹ năng giao tiếp ở mức độ thấp chiếm tỷ lệ thấp (7,22%).
Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nếu được quan tâm và có biện pháp thích hợp thì có thể hoàn toàn có thể nâng cao và hoàn thiện giao tiếp cho sinh viên, tạo dựng cho sinh viên sư phạm một công cụ hữu hiệu để thực hiện tốt các nhiệm vụ của nhà giáo dục. Theo Phương Nguyên, “Kỹ năng mềm và thương hiệu cá nhân”, báo Thanh niên. “Hiện có tới 83% sinh viên tốt nghiệp được đánh giá là thiếu kỹ năng mềm, 37% không tìm được việc làm phù hợp vì nhiều nguyên nhân - trong đó do thiếu yếu tố kỹ năng là chủ yếu. Còn theo thống kê từ Viện Khoa học Lao động (Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội), cứ 2.000 hồ sơ xin việc được nộp vào các doanh nghiệp thì chỉ có 40 hồ sơ đạt yêu cầu.
Một cán bộ nhân sự ngân hàng Vietcombank cũng bộc bạch: Tôi rất bức xúc khi thấy không ít bạn sinh viên thực tập, hoặc sinh viên mới ra trường, dù đã được 9 huấn luyện trước, nhưng hình như không có ý thức mở một nụ cười và lời chào thân thiện khi gặp những đồng nghiệp đi trước trong cơ quan”. Điều này cho thấy kỹ năng giao tiếp đóng một vai trò không nhỏ cho mỗi thành công của con người và thiếu kỹ năng giao tiếp đã làm cho sinh viên “mất điểm” trước nhà tuyển dụng dù kiến thức chuyên môn có thật sự vững vàng. Nghiên cứu “Kỹ năng giao tiếp của cán bộ công chức trong công tác tiếp dân tại bộ phận một cửa, một cửa liên thông thuộc ủy ban nhân dân Huyện Thanh Oai Thành phố Hà Nội”, năm 2018, tác giả Trần Thu Trà My, Khóa luận tốt nghiệp ngành quản trị văn phòng. Nhìn vào biểu đồ ta thấy, mức độ đánh giá kỹ năng lắng nghe trong công tác tiếp dân của CBCC giữa CBCC đánh giá và công dân đánh giá chênh lệch nhau đáng kể.
Đa số CBCC cho rằng họ lắng nghe ý kiến của công dân (chiếm ~71%); tùy từng trường hợp lắng nghe (chiếm ~29%); không lắng nghe ý kiến công dân (chiếm 0%). Về phía công dân, đa số công dân cho rằng CBCC tùy từng trường hợp lắng nghe ý kiến công dân, không phải lúc nào cũng tiếp thu ý kiến của dân (chiếm ~44%); CBCC lắng nghe ý kiến công dân (chiếm ~ 56%); CBCC không lắng nghe ý kiến công dân (chiếm 0%). (1) Đề tài “Một số vấn đề về công tác tiếp công dân. Đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác tiếp công dân trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Kim Tuyến, lớp Nghiệp vụ Thanh tra cơ bản (K3-2007), Trường Cán bộ Thanh tra.
(2) Khóa luận “Kỹ năng tiếp dân của cán bộ, công chức bộ phận một cửa qua khảo sát tại một số Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội” của Nguyễn Thu Hiền, lớp 1307QTVA, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.