Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tâm lý học (hướng Tâm lý học chuyên ngành / Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm) tập trung nghiên cứu đề tài: "Kĩ năng giảng dạy trên lớp của giảng viên trẻ các trường cao đẳng miền núi phía Bắc" (trong phần nội dung còn được đề cập với tên gọi cụ thể là "Kĩ năng giảng dạy trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề các trường cao đẳng miền núi phía Bắc").
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về vai trò của kĩ năng giảng dạy (KNGD): Hoạt động giảng dạy là phương thức cơ bản hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách của người giảng viên. KNGD là yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng giờ dạy và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực. Giảng viên trẻ mới vào nghề tuy có tri thức, sự năng động và nhiệt huyết nhưng thiếu hụt kinh nghiệm thực tiễn, chưa thuần thục trong vận dụng tri thức vào không gian lớp học cụ thể.
- Thực tiễn đào tạo tại khu vực miền núi phía Bắc: Các trường cao đẳng sư phạm (CĐSP) miền núi phía Bắc giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo giáo viên cho các địa phương. Tuy nhiên, điều kiện địa lý hiểm trở, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, thành phần cư dân đa sắc tộc với nhiều nét văn hóa, phong tục và ngôn ngữ riêng biệt. Đối tượng người học chủ yếu là sinh viên dân tộc thiểu số (DTTS) có những đặc điểm tâm lý đặc thù (nhút nhát, hạn chế về khả năng diễn đạt tiếng Việt phổ thông, thói quen tự học chưa cao). Giảng viên trẻ tại đây phần lớn từ miền xuôi lên nhận công tác, vừa chịu áp lực thích ứng môi trường sống, vừa hạn chế về hiểu biết văn hóa bản địa, dẫn tới mức độ làm chủ KNGD trên lớp còn nhiều bất cập.
- Khoảng trống nghiên cứu: Trước đây, các nghiên cứu về KNGD chủ yếu tập trung ở bậc phổ thông, giáo dục đại học nói chung hoặc kỹ năng của sinh viên sư phạm trong các đợt thực tập. Chưa có công trình tâm lý học nào đi sâu khảo sát toàn diện cấu trúc, thực trạng KNGD trên lớp và các yếu tố tác động đặc thù đối với đối tượng giảng viên trẻ mới vào nghề tại các trường CĐSP vùng cao phía Bắc.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng KNGD trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề ở các trường CĐSP miền núi phía Bắc, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng; từ đó đề xuất và thực nghiệm các biện pháp tâm lý - sư phạm nhằm nâng cao KNGD trên lớp cho nhóm đối tượng này.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu tổng quan, khái quát và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kĩ năng, KNGD trên lớp.
- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài về kĩ năng, KNGD và KNGD trên lớp của giảng viên mới vào nghề tại trường CĐSP.
- Đánh giá thực trạng KNGD trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề ở các trường CĐSP miền núi phía Bắc và làm rõ các yếu tố ảnh hưởng.
- Đề xuất và tổ chức thực nghiệm một số biện pháp tâm lý - sư phạm nhằm nâng cao KNGD trên lớp cho giảng viên trẻ mới vào nghề tại địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và mức độ KNGD trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề các trường cao đẳng miền núi phía Bắc.
- Khách thể nghiên cứu: Giảng viên trẻ mới vào nghề (có tuổi đời từ 22–25 tuổi, tuổi nghề từ 1 đến 3 năm, đang trong thời gian tập sự hoặc vừa hoàn thành tập sự) đang trực tiếp giảng dạy tại các trường CĐSP.
- Phạm vi không gian (địa bàn nghiên cứu): Khảo sát thực tiễn tại 4 trường CĐSP thuộc khu vực miền núi phía Bắc: CĐSP Hà Giang, CĐSP Lào Cai, CĐSP Cao Bằng và CĐSP Điện Biên.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào cấu trúc tâm lý của KNGD trên lớp thông qua 3 nhóm kỹ năng thành phần cơ bản: nhóm kỹ năng tổ chức giờ giảng, nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giảng dạy và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học trong giờ học.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu đi trước theo hai mảng lớn: kỹ năng hoạt động sư phạm và kỹ năng giảng dạy trên lớp, phân tách giữa học giới quốc tế và Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu trên thế giới
- Về kỹ năng hoạt động sư phạm:
- Từ thời cổ đại, các tư tưởng về phẩm chất và năng lực người thầy đã được Arirxtot, Khổng Tử, Mạnh Tử, Socrate đề cập.
- Từ những năm 70 của thế kỷ XX, các tác giả phương Tây phân loại kỹ năng thành kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao (gắn với hành động phức tạp trong điều kiện biến đổi), đồng thời xác định kỹ xảo là một bộ phận của kỹ năng.
- Kiexegof (dẫn theo tài liệu số 89): Trong công trình về hình thành kỹ năng và kỹ xảo sư phạm cho sinh viên đại học, tác giả nêu hơn 100 kỹ năng sư phạm và xây dựng quy trình 5 giai đoạn: (1) Giới thiệu hoạt động, (2) Diễn đạt quy tắc lĩnh hội, (3) Trình bày mẫu hành động, (4) Tiếp thu hành động thực tiễn, (5) Luyện tập độc lập và có hệ thống.
- Xavier Roegiers (dẫn theo tài liệu số 40): Xem kỹ năng là biểu hiện của năng lực, chia thành kỹ năng nhận thức và kỹ năng thao tác chân tay; đi sâu phân tích hệ thống kỹ năng giao tiếp sư phạm.
- Apđulinna: Phân loại kỹ năng sư phạm thành nhóm kỹ năng chung và nhóm kỹ năng chuyên biệt cho từng loại hình hoạt động.
- Gônôbolin: Đưa ra 10 nhóm năng lực sư phạm của người giảng viên nhưng chưa phân tách rạch ròi giữa năng lực dạy học và năng lực giáo dục.
- Cudơmina: Đưa ra 4 nhóm năng lực (truyền đạt, tổ chức, nhận thức, sáng tạo) và nghiên cứu mối quan hệ giữa năng khiếu sư phạm với bồi dưỡng năng lực nghiệp vụ.
- Kyrbanova và Ph.Rakhmatylina: Chia giao tiếp sư phạm thành 3 nhóm kỹ năng: định hướng trước giao tiếp, tiếp xúc trong giao tiếp và nhóm kỹ năng độc đáo hướng vào quá trình giao tiếp.
- Hội thảo APEID (UNESCO tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc): Nhấn mạnh việc đổi mới đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp sư phạm tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
- Về kỹ năng giảng dạy:
- Teles và Oliveira: Đề cao vai trò của kỹ năng nhận xét, đánh giá trong việc tạo động cơ học tập cho sinh viên ngành kỹ thuật phần mềm.
- E. Hoy: Phân tích thực hành kỹ năng tư duy nhận xét đối với sinh viên công nghệ thông tin.
- Vogt và Bottomley: Xem xét việc giảng dạy trên hai khía cạnh là mối quan hệ giữa các cá nhân và kỹ năng giảng dạy, coi đây là các nhân tố tạo nên năng lực người thầy.
- Taran: Khẳng định phát triển kỹ năng dạy học sáng tạo thông qua phân tích video, đóng vai và nghiên cứu trường hợp.
- B. Saunders: Đề cao chiến lược giảng dạy và năng lực phát triển kỹ năng tư vấn cho người học.
- J.A. Comenxki: Đặt nền móng cho hình thức tổ chức dạy học theo lớp - bài.
- Thành tựu của J. Skinner: Ứng dụng tâm lý học hành vi và tâm lý học chức năng vào rèn luyện thực hành sư phạm tại Canada, Australia, Hoa Kỳ.
- Johnson và cộng sự: Nghiên cứu rèn luyện KNGD thông qua mô hình "lớp học nhỏ" tại Canada.
Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam
- Về kỹ năng hoạt động sư phạm:
- Giai đoạn trước năm 1970: Kỹ năng sư phạm chủ yếu xuất hiện gián tiếp qua các giáo trình tâm lý - giáo dục dịch từ Liên Xô.
- Tài liệu năm 1982 của Bộ Giáo dục (Cục Đào tạo và Bồi dưỡng giáo viên): Đưa công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên thành một thành tố chính khóa.
- Nguyễn Quang Uẩn (1987): Định hình phương hướng rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho sinh viên.
- Nguyễn Đình Chỉnh, Nguyễn Hữu Dũng (1995): Nghiên cứu cơ sở lý luận hình thành kỹ năng sư phạm và cấu trúc năng lực nghề nghiệp.
- Các nghiên cứu kỹ năng chuyên biệt: Nguyễn Thị Thúy Dung (kỹ năng giải quyết tình huống quản lý giáo dục qua 3 giai đoạn: nhận thức, làm thử, luyện tập); Hoàng Thị Quỳnh Lan (4 nhóm kỹ năng giải quyết tình huống có vấn đề); Trần Quốc Thành (kỹ năng tổ chức trò chơi gồm 25 kỹ năng thuộc 5 nhóm); Ngô Công Hoàn và Hoàng Anh (3 nhóm kỹ năng giao tiếp sư phạm: định hướng, định vị, điều khiển); Nguyễn Minh Ngọc (kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non gồm lắng nghe, tự chủ cảm xúc, sử dụng phương tiện); Châu Thúy Kiều (kỹ năng tự chủ, kiềm chế, diễn đạt, linh hoạt, thuyết phục, điều chỉnh trong giao tiếp); Cao Xuân Liễu (kỹ năng đọc tiếng Việt của học sinh dân tộc Cờ Ho); Đỗ Thị Châu (kỹ năng đọc hiểu tiếng Anh lớp 6); Nguyễn Thị Thanh (kỹ năng dạy học hợp tác qua 5 giai đoạn); Lê Nam Hải (kỹ năng học tập từ xa gồm 3 nhóm); Đỗ Khánh Năm và Đỗ Thị Phương Thảo (kỹ năng tự học và tự học môn Toán).
- Về kỹ năng giảng dạy trên lớp (tác giả chia làm 2 hướng tiếp cận):
- Hướng thứ nhất (coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động): Trần Anh Tuấn (xây dựng quy trình tập luyện KNGD trong thực hành, thực tập); Lã Văn Mến (kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm của sinh viên CĐSP Nam Định); Trương Thị Thu Yến (quy trình 2 giai đoạn: hình thành nhận thức và rèn luyện trực tiếp trên lớp); Nguyễn Thị Hồng Thắm (hệ thống KNGD môn Toán); Nguyễn Thị Kim Ánh (rèn kỹ năng dạy học môn Hóa học gắn với 6 yêu cầu sư phạm).
- Hướng thứ hai (coi kỹ năng là biểu hiện của năng lực hành động): Nguyễn Như An (hệ thống 4 nhóm KNGD môn Giáo dục học); Lê Văn Hồng (xếp kỹ năng dạy học vào cấu trúc năng lực sư phạm); Phan Thanh Long (chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến KNGD của sinh viên CĐSP); Nguyễn Thị Nhân (4 biện pháp rèn luyện KNDH theo tiếp cận linh hoạt); Nguyễn Thành Kính (kỹ năng dạy học hợp tác cấp THCS); Đoàn Thị Ngân (kỹ năng dạy học theo định hướng phát triển năng lực tại Thủ Đức); Nguyễn Đắc Thanh (kỹ năng dạy học phân hóa); Dương Thị Thoan (kỹ năng giảng dạy theo học chế tín chỉ); Nguyễn Thị Thanh Nga (sự thích ứng với hoạt động dạy học của giáo viên tiểu học mới vào nghề); Trần Thu Hương (sự thích ứng hoạt động dạy học của giảng viên trẻ trường Công an nhân dân).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các nghiên cứu trong nước chủ yếu tiếp cận kỹ năng dạy học của sinh viên thực tập hoặc giáo viên phổ thông. Hoàn toàn vắng bóng các công trình khảo cứu trực tiếp KNGD trên lớp của đối tượng giảng viên trẻ mới vào nghề tại các trường cao đẳng sư phạm miền núi phía Bắc – một địa bàn có tính chất phức tạp về văn hóa, rào cản ngôn ngữ và sự thiếu hụt phương tiện dạy học hiện đại. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xác lập khung lý thuyết, đo lường thực trạng và thử nghiệm chương trình tập huấn nâng cao năng lực cho nhóm khách thể đặc thù trên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án điểm lại 3 hướng tiếp cận lý thuyết về kỹ năng:
- Hướng kỹ thuật hành động: Các tác giả P.A. Rudich, Cruchetxki, A. Covaliov, Lêvitôp, Trần Trọng Thủy xem kỹ năng là phương thức thực hiện hành động mà con người nắm vững dựa trên tri thức, chú trọng tính quy chuẩn của thao tác.
- Hướng tiếp cận năng lực: Các tác giả K.K. Platonov, A.V. Petrovxki, B.F. Lomov, Vũ Dũng, Trần Hiệp, Đỗ Long, Đặng Thành Hưng xem kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức và kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ trong những điều kiện thay đổi.
- Hướng tiếp cận hành vi, thái độ: Tiêu biểu như J.N. Richard, nhìn nhận kỹ năng gắn liền với cảm xúc, niềm tin, động cơ và hành vi ứng xử xã hội.
Định nghĩa của luận án:
- Kĩ năng: Là sự vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đã có vào thực hiện có kết quả một hành động, hoạt động tương ứng.
- Giảng viên trẻ mới vào nghề: Là người giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng đảm bảo tiêu chuẩn luật định, có tuổi đời từ 22–25 tuổi và có tuổi nghề từ 1 đến 3 năm (đang trong thời gian tập sự hoặc vừa hoàn thành tập sự).
- Kĩ năng giảng dạy trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề: Là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm chuyên môn - nghiệp vụ sư phạm cần thiết vào thực hiện có hiệu quả hoạt động giảng dạy trên không gian lớp học của người giảng viên trẻ mới vào nghề.
Khung phân tích cấu trúc KNGD trên lớp
Luận án khu biệt nghiên cứu vào 3 nhóm kỹ năng thành phần với các kỹ năng cụ thể sau:
| Nhóm kỹ năng | Các kỹ năng thành phần |
|---|---|
| 1. Nhóm KN tổ chức giờ giảng trên lớp | - KN tổ chức giờ giảng lý thuyết cho sinh viên. - KN tổ chức giờ thảo luận nhóm cho sinh viên. - KN tổ chức giờ làm bài tập thực hành cho sinh viên. - KN tổ chức giờ tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên. |
| 2. Nhóm KN sử dụng phương tiện giảng dạy | - KN sử dụng phương tiện ngôn ngữ (diễn đạt rõ ràng, ngữ điệu, dùng từ chính xác, viết bảng). - KN sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ (tư thế, tác phong, ánh mắt, nụ cười, trang phục). - KN giao tiếp với người học (đồng cảm, lắng nghe sinh viên DTTS, xử lý tình huống). - KN sử dụng công nghệ thông tin (thiết kế slide bài giảng, hình ảnh, video, hiệu ứng). |
| 3. Nhóm KN kiểm tra, đánh giá kết quả học tập | - KN xác định nội dung, hình thức và thời lượng kiểm tra. - KN đặt câu hỏi kiểm tra (sát nội dung, tường minh, vừa sức sinh viên). - KN xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả kiểm tra (đáp án, biểu điểm rõ ràng). - KN nhận xét, đánh giá kết quả kiểm tra của sinh viên. |
Tiêu chí và thang đánh giá mức độ kỹ năng
Luận án căn cứ vào 3 tiêu chí: tính đúng đắn, tính thuần thục và tính hiệu quả để xác lập 5 mức độ biểu hiện KNGD:
- Mức 1 (Thấp): Đã có một số thao tác hành động nhưng chưa thành thạo, kết quả hoạt động đạt mức thấp.
- Mức 2 (Tương đối thấp): Có thao tác cơ bản nhưng kết quả thực hiện chưa đạt mức trung bình.
- Mức 3 (Trung bình): Thể hiện đầy đủ, đúng đắn các thao tác nhưng chưa thuần thục, kết quả ở mức trung bình.
- Mức 4 (Tương đối cao): Thao tác đầy đủ, thường xuyên và thuần thục, đạt kết quả tốt trong các hoàn cảnh quen thuộc.
- Mức 5 (Cao): Thực hiện thuần thục, linh hoạt, sáng tạo và đạt kết quả cao trong những điều kiện, hoàn cảnh dạy học thay đổi.
Các yếu tố ảnh hưởng
- Yếu tố chủ quan: Tri thức và hiểu biết của giảng viên về vai trò KNGD trên lớp; Hứng thú nghề nghiệp (nhu cầu nâng cao trình độ, say mê, trách nhiệm, tình cảm yêu nghề yêu trò, niềm tin); Tính tích cực tự rèn luyện và nâng cao tay nghề.
- Yếu tố khách quan: Đặc thù kinh tế, cơ sở vật chất, trang thiết bị nghèo nàn của các trường miền núi; Khoảng cách địa lý hiểm trở; Đặc thù sinh viên DTTS (tính cách rụt rè, rào cản tiếng Việt phổ thông, phong tục tập quán riêng, tỷ lệ nghỉ học/bỏ học theo mùa vụ, lễ hội); Môi trường văn hóa - ngôn ngữ địa phương và sự thiếu thốn điều kiện sống của giảng viên miền xuôi lên công tác.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nguyên tắc phương pháp luận tâm lý học:
- Nguyên tắc hoạt động: Tâm lý, ý thức và KNGD của giảng viên được hình thành, bộc lộ và biến đổi thông qua hoạt động sư phạm thực tiễn tại nhà trường.
- Nguyên tắc hệ thống: Xem KNGD là một cấu trúc phức hợp gồm nhiều nhóm kỹ năng bộ phận có mối liên hệ nhân - quả, tác động qua lại lẫn nhau.
- Nguyên tắc phát triển: Nghiên cứu KNGD trong quá trình vận động, biến đổi dưới tác động của quá trình tích lũy kinh nghiệm và các biện pháp can thiệp tâm lý - sư phạm.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu: Phân tích, tổng hợp các văn bản pháp quy, giáo trình, công trình nghiên cứu liên quan.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thu thập dữ liệu diện rộng về nhận thức, mức độ thực hiện kỹ năng và các yếu tố ảnh hưởng.
- Phương pháp quan sát: Dự giờ, theo dõi biểu hiện hành vi thao tác dạy học trực tiếp trên lớp của giảng viên trẻ.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trao đổi với giảng viên trẻ, cán bộ quản lý khoa/phòng và sinh viên.
- Phương pháp giải quyết bài tập tình huống: Đánh giá khả năng ứng phó, ra quyết định sư phạm của giảng viên trẻ.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích kế hoạch bài dạy, giáo án, bài giảng điện tử, đề kiểm tra và bảng điểm.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Đi sâu vào các trường hợp giảng viên trẻ điển hình.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức lớp tập huấn tác động tâm lý - giáo dục nhằm cải thiện KNGD.
- Phương pháp toán thống kê: Xử lý định lượng dữ liệu điều tra và thực nghiệm (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định tương quan, so sánh trước và sau thực nghiệm).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về kĩ năng giảng dạy trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề
Chương này dành toàn bộ dung lượng để phân tích lịch sử nghiên cứu vấn đề KNGD và kỹ năng sư phạm trên bình diện quốc tế và trong nước. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước đã làm sáng tỏ bản chất của kỹ năng, mối quan hệ giữa kỹ năng với kỹ xảo và năng lực, đồng thời vạch ra nhiều mô hình rèn luyện thao tác. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa chú trọng đến giảng viên trẻ mới vào nghề ở bậc cao đẳng – nhóm đối tượng có độ vênh lớn giữa lý thuyết sư phạm được đào tạo ở trường đại học với năng lực thực chiến trong môi trường lớp học đa văn hóa miền núi. Tác giả xác định nhiệm vụ của luận án là bổ sung mô hình lý luận và khảo sát thực chứng KNGD trên lớp gắn liền với tính đặc thù miền núi phía Bắc.
Chương 2: Cơ sở lí luận kĩ năng giảng dạy trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề các trường cao đẳng sư phạm miền núi phía Bắc
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ đề tài:
- Phân tích và làm rõ các khái niệm: Kỹ năng, giảng viên (theo Luật Giáo dục và Điều lệ trường học), giảng viên trẻ mới vào nghề (22–25 tuổi, 1–3 năm công tác), KNGD trên lớp.
- Phân tích cấu trúc tâm lý gồm 3 nhóm KNGD trên lớp được chọn lọc nghiên cứu: KN tổ chức giờ giảng (lý thuyết, thảo luận, thực hành, tự học); KN sử dụng phương tiện giảng dạy (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, giao tiếp sư phạm, CNTT); KN kiểm tra, đánh giá (nội dung/thời lượng, đặt câu hỏi, tiêu chí đánh giá, nhận xét).
- Phân tích chi tiết các đặc điểm tâm lý của giảng viên trẻ mới vào nghề (tràn đầy nhiệt huyết, nắm bắt nhanh CNTT nhưng thiếu hụt bản lĩnh sư phạm, dễ lúng túng khi xử lý tình huống bất thường, chịu rào cản thích ứng tâm lý khi công tác xa nhà).
- Phân tích đặc trưng tâm lý của sinh viên miền núi (dân tộc thiểu số, nhút nhát, hạn chế diễn đạt tiếng phổ thông) cùng điều kiện giảng dạy thiếu thốn trang thiết bị của các trường CĐSP vùng cao.
- Phân tích hệ thống các yếu tố ảnh hưởng gồm nhóm chủ quan (nhận thức, hứng thú, tính tích cực tự bồi dưỡng) và nhóm khách quan (đặc thù vùng miền, đối tượng sinh viên, công tác quản lý).
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu:
- Xây dựng hệ thống tiêu chí (tính đúng đắn, thuần thục, hiệu quả) tương ứng 5 mức độ đánh giá (thấp, tương đối thấp, trung bình, tương đối cao, cao).
- Thiết kế các công cụ khảo sát: phiếu trưng cầu ý kiến cho giảng viên và sinh viên, thang đo bài tập tình huống sư phạm, biên bản dự giờ quan sát, câu hỏi phỏng vấn sâu.
- Lựa chọn địa bàn khảo sát tại 4 trường CĐSP miền núi phía Bắc: CĐSP Hà Giang, CĐSP Lào Cai, CĐSP Cao Bằng, CĐSP Điện Biên.
- Thiết kế chương trình thực nghiệm tác động dưới hình thức "Mở lớp tập huấn" bồi dưỡng KNGD trên lớp, trang bị kiến thức tâm lý học sư phạm miền núi và kỹ thuật xử lý tình huống thực tế cho giảng viên trẻ.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn kĩ năng giảng dạy trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề các trường cao đẳng sư phạm miền núi phía Bắc
Chương 4 thể hiện toàn bộ các phát hiện định lượng và định tính của luận án, được tổng hợp thông qua hệ thống biểu đồ và bảng số liệu:
- Mức độ đạt KNGD chung (Biểu đồ 4.1): Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy mức độ làm chủ KNGD trên lớp tổng thể của giảng viên trẻ mới vào nghề tại 4 trường CĐSP miền núi phía Bắc chỉ đạt ở mức tương đối thấp.
- Mức độ thực hiện 3 nhóm KNGD (Biểu đồ 4.2): Trong 3 nhóm kỹ năng, phần lớn các kỹ năng thành phần chỉ đạt mức tương đối thấp, một số ít kỹ năng đạt mức trung bình. Các kỹ năng thuộc nhóm tổ chức thảo luận nhóm, giải quyết tình huống giao tiếp với sinh viên DTTS và ứng dụng linh hoạt CNTT còn nhiều hạn chế. Giữa các kỹ năng thành phần có mối tương quan thuận và chặt chẽ với nhau.
- Đánh giá qua bài tập tình huống (Biểu đồ 4.3): Điểm số giải quyết các tình huống sư phạm thực tế trên lớp phản ánh sự thiếu hụt kinh nghiệm ứng biến; giảng viên trẻ thường lúng túng khi sinh viên nói tiếng dân tộc trong giờ học, sinh viên thụ động hoặc không làm bài tập.
- Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan (Biểu đồ 4.4 và Biểu đồ 4.5):
- Yếu tố chủ quan tác động mạnh nhất là nhận thức của giảng viên về tầm quan trọng của KNGD, tiếp đến là hứng thú nghề nghiệp và tính tích cực tự rèn luyện.
- Yếu tố khách quan tác động sâu sắc là rào cản ngôn ngữ, phong tục tập quán của sinh viên DTTS và sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
- Kết quả thực nghiệm sư phạm (Biểu đồ 4.6 và Biểu đồ 4.7):
- So sánh trước và sau thực nghiệm tác động (thông qua lớp tập huấn), mức độ thực hiện KNGD trên lớp của nhóm giảng viên thực nghiệm có sự thay đổi và tiến bộ rõ rệt (Biểu đồ 4.6).
- Biểu đồ 4.7 ghi nhận sự nâng cao đáng kể ở nhóm kỹ năng tổ chức giờ giảng (tổ chức giờ lý thuyết, điều khiển thảo luận và hướng dẫn sinh viên tự học). Điều này chứng minh tính khả thi và hiệu quả của biện pháp tâm lý - sư phạm can thiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận về KNGD trên lớp của đối tượng giảng viên trẻ mới vào nghề trong bối cảnh các trường sư phạm địa phương vùng miền núi.
- Xây dựng định nghĩa thao tác chuẩn xác về KNGD trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề; xác định rõ cấu trúc tâm lý gồm 3 nhóm kỹ năng thành phần cơ bản (tổ chức giờ giảng; sử dụng phương tiện giảng dạy; kiểm tra, đánh giá).
- Xác lập 5 mức độ biểu hiện KNGD (thấp, tương đối thấp, trung bình, tương đối cao, cao) dựa trên 3 tiêu chí khoa học (tính đúng đắn, tính thuần thục, tính hiệu quả).
- Phân tích và chỉ rõ hệ thống các yếu tố ảnh hưởng chủ quan và khách quan mang tính đặc thù miền núi phía Bắc tác động tới sự hình thành KNGD trên lớp.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp bức tranh thực trạng khách quan: KNGD trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề tại 4 trường CĐSP miền núi phía Bắc (Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Điện Biên) hiện chỉ đạt ở mức tương đối thấp, một số ít kỹ năng đạt mức trung bình.
- Chứng minh bằng thực nghiệm rằng giữa các nhóm kỹ năng thành phần có mối tương quan thuận chặt chẽ; sự yếu kém ở kỹ năng tổ chức sẽ kéo theo sự hạn chế ở kỹ năng sử dụng phương tiện và kiểm tra đánh giá.
- Xây dựng và thực nghiệm thành công mô hình biện pháp tâm lý - giáo dục tác động (mở lớp tập huấn chuyên đề), chứng minh tính khả thi trong việc nâng cao rõ rệt KNGD trên lớp cho giảng viên mới vào nghề.
- Đóng góp luận cứ thực tiễn giúp các trường CĐSP hoàn thiện chương trình thực hành, thực tập sư phạm và kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với công tác quản lý tại các trường CĐSP miền núi phía Bắc: Cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng KNGD có hệ thống cho giảng viên trẻ ngay từ giai đoạn tập sự; chú trọng bồi dưỡng tri thức văn hóa bản địa, phong tục tập quán của đồng bào DTTS.
- Đối với hoạt động chuyên môn: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng xử lý tình huống sư phạm, kỹ năng tổ chức dạy học nhóm và phương pháp kích hoạt tính tích cực của sinh viên miền núi; tạo điều kiện hỗ trợ cơ sở vật chất, thiết bị dạy học.
- Đối với bản thân giảng viên trẻ: Cần chủ động nâng cao nhận thức, nuôi dưỡng hứng thú nghề nghiệp, tăng cường tính tích cực tự rèn luyện, dự giờ đồng nghiệp giàu kinh nghiệm và tìm hiểu đặc điểm tâm lý sinh viên DTTS để điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Về phạm vi nội dung kỹ năng: Do tính phức tạp của hoạt động nghề nghiệp, luận án chỉ tập trung khảo sát sâu 3 nhóm kỹ năng cốt lõi diễn ra trực tiếp trong không gian lớp học (tổ chức giờ học; sử dụng phương tiện; kiểm tra, đánh giá). Các kỹ năng sư phạm quan trọng khác như biên soạn giáo trình, tài liệu học tập, nghiên cứu khoa học sư phạm hoặc xây dựng kế hoạch dạy học dài hạn chưa được bao hàm toàn diện trong đề tài này.
- Về phạm vi khách thể và địa bàn: Luận án mới giới hạn nghiên cứu ở đối tượng giảng viên trẻ có tuổi nghề từ 1 đến 3 năm tại 4 trường CĐSP thuộc khu vực miền núi phía Bắc (Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Điện Biên). Kết quả phản ánh tính đặc thù cao của địa bàn miền núi phía Bắc, do đó cần thận trọng khi suy rộng cho các vùng địa lý khác hoặc các trường đại học tổng hợp quy mô lớn.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Có thể mở rộng đánh giá sự thích ứng và biến đổi KNGD của giảng viên sau giai đoạn 3 năm công tác; nghiên cứu sâu hơn về mô hình số hóa tài liệu tập huấn KNGD thích ứng với chuyển đổi số giáo dục tại các trường vùng cao.
Giá trị tham khảo
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục và ban giám hiệu các trường CĐSP: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định chương trình bồi dưỡng giáo viên mới tuyển dụng, đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá giờ dạy và xây dựng tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ sát hợp với thực tế vùng cao.
- Đối với giảng viên trẻ mới vào nghề: Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp giúp nhận diện các thao tác chuẩn mực trong giờ giảng, tự soi chiếu mức độ kỹ năng của bản thân (thông qua 5 mức độ và các tiêu chí đánh giá), từ đó xây dựng kế hoạch tự học, tự rèn luyện kỹ năng sư phạm.
- Đối với sinh viên sư phạm chuẩn bị tốt nghiệp: Cung cấp tri thức định hướng về môi trường dạy học thực tế, các yêu cầu kỹ năng cụ thể khi lên lớp và những khó khăn tâm lý cần chuẩn bị trước khi nhận công tác tại vùng đồng bào DTTS.
- Phần đáng tham khảo nhất: Cấu trúc 3 nhóm kỹ năng chi tiết (Chương 2), hệ thống bài tập tình huống sư phạm và quy trình tổ chức lớp tập huấn thực nghiệm nâng cao KNGD (Chương 3 và Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Giảng viên trẻ mới vào nghề trong luận án được xác định theo những tiêu chí nào?
Theo văn bản luận án, giảng viên trẻ mới vào nghề là những nhà giáo đáp ứng tiêu chuẩn Luật Giáo dục, có tuổi đời từ 22 đến 25 tuổi và tuổi nghề từ 1 đến 3 năm, hiện đang trong thời gian tập sự hoặc vừa hoàn thành giai đoạn tập sự tại các trường CĐSP.
2. Ba nhóm KNGD trên lớp được luận án tập trung khảo sát gồm những nhóm nào?
Luận án đi sâu nghiên cứu 3 nhóm kỹ năng:
- Nhóm KN tổ chức giờ giảng trên lớp (giờ lý thuyết, thảo luận, thực hành, tự học).
- Nhóm KN sử dụng phương tiện giảng dạy trên lớp (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, giao tiếp sư phạm, CNTT).
- Nhóm KN kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học trong giờ học (nội dung/thời lượng, đặt câu hỏi, tiêu chí đánh giá, nhận xét).
3. Thực trạng KNGD trên lớp của giảng viên trẻ tại các trường CĐSP miền núi phía Bắc đạt ở mức độ nào?
Kết quả khảo sát thực tiễn tại 4 trường CĐSP (Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Điện Biên) cho thấy mức độ biểu hiện KNGD trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề nhìn chung chỉ đạt ở mức tương đối thấp, trong đó chỉ có một số ít kỹ năng bộ phận đạt mức trung bình.
4. Đâu là những rào cản khách quan lớn nhất tác động đến KNGD của giảng viên trẻ tại địa bàn nghiên cứu?
Các yếu tố khách quan nổi bật gồm: điều kiện địa lý hiểm trở, kinh tế khó khăn; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học còn nghèo nàn; sinh viên phần lớn là người dân tộc thiểu số còn rụt rè, nói tiếng phổ thông chưa thuần thục, thói quen tự học hạn chế; sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục tập quán địa phương gây lúng túng cho giảng viên miền xuôi lên công tác.
5. Biện pháp thực nghiệm nào đã được luận án kiểm chứng mang lại hiệu quả nâng cao KNGD?
Luận án đã tổ chức thực nghiệm biện pháp tác động sư phạm thông qua việc "Mở lớp tập huấn" bồi dưỡng KNGD. Số liệu kiểm định trước và sau thực nghiệm (Biểu đồ 4.6 và Biểu đồ 4.7) chứng minh nhóm giảng viên được tập huấn có sự tiến bộ rõ rệt về kỹ năng, đặc biệt là nhóm kỹ năng tổ chức giờ giảng trên lớp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ đã hoàn thành việc xây dựng khung lý luận tâm lý học chuyên biệt về kĩ năng giảng dạy trên lớp của giảng viên trẻ mới vào nghề tại các trường cao đẳng sư phạm miền núi phía Bắc. Thông qua các phương pháp điều tra định lượng và định tính trên 4 địa bàn đặc thù, công trình đã phản ánh khách quan thực trạng KNGD của đội ngũ này mới dừng ở mức tương đối thấp do chịu sự chi phối mạnh mẽ từ rào cản ngôn ngữ, văn hóa bản địa và điều kiện cơ sở vật chất. Biện pháp can thiệp tâm lý - sư phạm bằng mô hình lớp tập huấn do tác giả thiết kế đã chứng minh được tính khả thi và hiệu quả rõ rệt, cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tại khu vực miền núi phía Bắc nước ta.