Chương 1: Cơ sở lý luận về biện pháp quản lý nâng cao chất lượng GD của hiệu trưởng trường mầm non. Chương 2: Thực trạng chất lượng GDMN và công tác quản lý của hiệu trưởng trường mầm non thành phố Hải Phòng. Chương 3: Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GD của hiệu trưởng trường mầm non thành phố Hải Phòng. 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG MẦM NON 1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề GD-ĐT là con đường quan trọng nhất của xã hội để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững. Muốn làm được như vậy GD-ĐT phải luôn chú trọng vấn đề nâng cao chất lượng. Chất lượng GD của mỗi nhà trường phụ thuộc rất lớn vào vai trò quản lý của hiệu trưởng vì họ là hạt nhân chủ yếu ứng dụng khoa học quản lý cải tiến các biện pháp quản lý để thực hiện mục tiêu chất lượng của nhà trường. Cùng với sự phát triển của khoa học quản lý GD, rất nhiều nhà khoa học đã đầu tư công sức, trí tuệ để nghiên cứu và tổng kết những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý và nâng cao chất lượng GD.
Có thể kể tên một số nhà khoa học tiêu biểu như: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Văn Lê, Hồ Sĩ Thế. Nhiều công trình nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của công tác quản lý đối với việc nâng cao chất lượng GD là: các nhà quản lý GD phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng điều hành và quản lý của mình để qua đó tác động một cách hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộ phận của hệ thống GD. GDMN là bậc học nền tảng, là khâu đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Trong thực tế, GDMN là một bậc học còn rất nhiều khó khăn.
Trước những thời cơ và thách thức mới đặt ra cho bậc học mầm non trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ CBQL mầm non cũng dành nhiều quan tâm, tìm hiểu nghiên cứu về các biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng GD của nhà trường. Trong số những nghiên cứu đó có thể kể đến các nghiên cứu như: 6 z “Biện pháp quản lý việc sử dụng phương tiện dạy học của hiệu trưởng trong các trường mẫu giáo Quận Hai Bà Trưng – Hà nội” (Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thúy). "Biện pháp quản lý công tác chăm sóc nuôi dưỡng của hiệu trưởng các trường mầm non quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội" (Tác giả Triệu Thị Bích Liên). “Biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho GV mầm non Thành phố Thái Nguyên” (Tác giả Lưu Thị Kim Phượng).
"Các biện pháp đổi mới quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GV của hiệu trưởng trường mầm non" (Tác giả Đào Ngọc Oanh). "Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động chuyên môn của hiệu trưởng các trường mầm non tỉnh Bắc Ninh" (Tác giả Nguyễn Thị Nhung) Các tác giả đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đề nâng cao chất lượng GD của trường mầm non ở những khía cạnh cụ thể, với đối tượng được khư trú khá đồng nhất, phù hợp với tình hình thực tiễn của các nhà trường, của địa phương nơi các tác giả công tác. Đối với bậc học GDMN thành phố Hải Phòng, hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu có tính hệ thống, đầy đủ, khoa học về biện pháp quản lý cuả hiêụ trưởng nhằm nâng cao chất lượng GD tại các trường mầm non. Chính vì vậy, nghiên cứu vấn đề "Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng GD của hiệu trưởng các trường mầm non thành phố Hải Phòng" trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên là rất cần thiết và có giá trị trong thực tiễn.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý Quản lý xuất hiện, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đây là một trong những loại hình lao động lâu đời và quan trọng nhất 7 z của con người, là công việc cần thiết trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, có tính chất quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội. Song chỉ những năm gần đây người ta mới thừa nhận tính chất khoa học của nó và quản lý mới được coi là một ngành khoa học theo đúng nghĩa.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý tùy theo quan điểm và cách tiếp cận. Theo những định nghĩa kinh điển nhất, hoạt động quản lý là các tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Hiện nay, khái niệm về quản lý được định nghĩa rõ hơn: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra" [11, tr. Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gốm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”.
Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Do vậy người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn được ở trạng thái cân bằng động. Bản chất của hoạt động quản lý có thể mô hình qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1 : Mô hình quản lý Công cụ Chủ thể quản lý Khách thể quản lý Phương pháp 8 z Trong đó: Chủ thể quản lý: Là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức tạo ra những tác động quản lý. Nó trả lời câu hỏi: ai quản lý? Khách thể (đối tượng) quản lý: Là đối tượng tiếp nhận các tác động quản lý.
Khách thể quản lý có thể là người (trả lời câu hỏi: quản lý ai?), là vật (trả lời câu hỏi: quản lý cái gì?), hoặc sự việc (trả lời câu hỏi: quản lý việc gì?). Công cụ quản lý: Là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: mệnh lệnh, quyết định, chính sách, luật lệ… Phương pháp quản lý: Là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý. Nó có thể là do nhà quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Như vậy, dù trong bất kỳ một tổ chức nào, với mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao, đều cần phải có sự quản lý và người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của tổ chức.
Hệ thống các chức năng quản lý Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong trong quá trình quản lý. Nói tới các chức năng chủ yếu của quản lý, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đa số các tác giả đều thống nhất ở bốn chức năng cơ bản sau: - Kế hoạch hóa: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý. Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục tiêu đối với thành tựu tương lai của tổ chức, chương trình hành động và quyết định cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý để đạt được mục tiêu đó.
Sản phẩm quan trọng của chức năng kế hoạch hóa là kế hoạch. Có 3 loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược, kế hoạch chiến thuật, kế hoạch tác nghiệp. Kế hoạch hóa giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng thể, toàn diện, từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận. Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo 9 z hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức giúp tổ chức sẵn sàng khả năng ứng phó với sự thay đổi.
Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra. Không có kế hoạch sẽ không thể xác định được tổ chức đang vận hành đúng hướng hay chệch mục tiêu và không biết khi nào đạt được mục tiêu, do đó kiểm tra trở thành vô căn cứ. Nhà quản lý thông qua kế hoạch có thể nhìn thấy tương lai, có thể điều chỉnh những quyết định trước đó đảm bảo hướng vào mục tiêu đã định. - Tổ chức: Tổ chức là việc chuyển hóa những ý tưởng trừu tượng của kế hoạch thành hiện thực.
Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý được thực hiện có hiệu quả. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý. Họ cần phân tích sứ mạng chung của đơn vị - từng bộ phận trong đơn vị, xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy, quy định chức năng - nhiệm vụ - quyền hạn cho từng bộ phận và cá nhân, lựa chọn và phân công cán bộ, xác lập cơ chế phối hợp trong tổ chức, khai thác sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực sao phù hợp với mục tiêu của tổ chức.
Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực. - Chỉ đạo: Đây là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào mục tiêu chung. Chỉ đạo là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý. Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau việc lập kế hoạch và cơ cấu tổ chức đã hoàn tất, mà nó thấm vào và ảnh hưởng đến hai chức năng kia.
- Kiểm tra: Đây là chức năng quan trọng và xuyên suốt quá trình quản lý.