Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những công trình nghiên cứu về đội ngũ giáo viên trung học cơ sở Giáo viên có tính chất chất quyết định đến sự phát triển của GD&ĐT. Vì vậy có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề đội ngũ GV ở các khía cạnh khác nhau: Nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng triển khai chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho GV phổ thông” do Cao Đức Tiến làm chủ nhiệm đánh giá công tác bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ đã tạo ra thói quen tự học tập, tự bồi dưỡng trong hệ thống GV cả nước.
Nhu cầu được bồi dưỡng thường xuyên đã trở thành ý thức trong GV nhằm cập nhật kiến thức mới theo xu hướng của xã hội, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn giảng dạy và đáp ứng nhu cầu của sự phát triển GD [35] Tác giả Trần Bá Hoành có bài viết: “Chất lượng giáo viên” đưa ra cách tiếp cận chất lượng GV từ các khía cạnh như đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới GD, mục tiêu sử dụng GV và chất lượng từng giáo viên. Tác giả đưa ra ba yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng GV và đưa ra những hạn chế của GV bởi sự tác động đó. Đồng thời bài biết đưa ra 3 giải pháp giải quyết vấn đề gồm: chỉ đạo đào tạo, bồi dưỡng năng lực GV và đổi với sử dụng GV [22] Bài viết “Chất lượng GV và những chính sách cải thiện chất lượng GV” trình bày khái niệm chất lượng GV, đưa ra những đặc điểm, năng lực đặc trưng của GV có năng lực thông qua phân tích hai năng lực cụ thể trên góc độ tiếp cận năng lực giảng dạy và giáo dục. Tác giả cũng đề cập tới những chính sách quản lý và cải thiện chất lượng GV, theo đó 3 vấn đề chính quyết định đến chất lượng GV đó là bản thân người GV, nhà trường và môi trường chính sách GD [23].
6 Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc có bài “Nghề và Nghiệp của người GV” đã nhấn mạnh đến “lý tưởng sư phạm” - cái tạo nên động cơ cho việc giảng dạy của GV, khuyến khích GV sáng tạo và không ngừng học tập nâng cao trình độ đáp ứng xu thế phát triển của xã hội. Tác giả đã đề xuất giải pháp xây dựng tập thể theo mô hình “đồng thuận” nghĩa là trong quan hệ giữa GV với GV có sự chia sẻ kinh nghiệm cho nhau, theo đó năng lực chuyên môn của GV là nền tảng của mô hình “đồng thuận” nhằm đào tạo GV trong thế kỷ XXI theo hướng sáng tạo và hiệu quả [25]. Thông tư số 20/2018/TT-BGD&ĐT ngày 22/8/2018 của Bộ GD&ĐT ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp GV cơ sở giáo dục phổ thông bao gồm giáo viên trung học phổ thông và trung học cơ sở, xây dựng các tiêu chí đánh giá phẩm chất chính trị đạo đức, năng lực dạy học của GV, hình thức xếp loại GV hàng nằm, trên cơ sở đó để các đơn vị giáo dục áp dụng đánh giá chất lượng GV trong đơn vị mình theo chuẩn nghề nghiệp [6]. Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở Nhà xã hội học người Mỹ, Leard Nadle đã đưa ra hồ sơ quản lý nguồn nhân lực với ba nhiệm vụ chính là: (1) Phát triển nguồn nhân lực (Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, nghiên cứu, phục vụ); (2) Sử dụng nguồn nhân lực (tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ, kế hoạch hoá sức lao động); (3) môi trường nguồn nhân lực (mở rộng chủng loại làm việc, phát triển tổ chức…) đây chính là cơ sở lý thuyết cho rất nhiều hoạt động nghiên cứu về nguồn nhân lực trong đó có cả các hoạt động phát triển đội ngũ GV trong các đơn vị GD[12].
Trong “Quản trị hiệu quả trường học”, các tác giả K. Everard, Geofrey Morris, Ian Wilson do tác giả Vũ Văn Hùng, Bùi Thị Thanh Hiền và Đoàn Hiền Anh sưu tầm, biên dịch đã nghiên cứu sâu về quản lý con người như tuyển dụng, quản lý đánh giá nguồn nhân lực và kết quả công tác, để quản lý tốt nhà trường, các đánh giá đã khẳng định cần phát triển đội ngũ GV, địa vị của GV phải được tôn trọng, đối sử xứng đáng và phù hợp [21]. 7 Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học công nghệ, kinh tế tri thức có vai trò quan trọng trọng quá trình phát triển KTXH. Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý GD, phát triển đội ngũ GV và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [19]. Đề án: “Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD giai đoạn 2005-2010” theo Quyết định số 09/2005/QĐ- TTG ngày 11 tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng Chính Phủ xác định GV đóng vai trò then chốt trong chất lượng GD&ĐT, nêu rõ “xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL GD theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng bảo đảm đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo” [32]. Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025” của Thủ tướng Chính phủ nhằm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục bảo đảm chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Điều này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ giáo viên hiện nay [33].
Trần Khánh Đức (2010), “Giáo dục và phát triển nguồn nhận lực trong thế kỷ XXI” NXB Giáo dục, Hà Nội là một công trình nghiên cứu công phu đề cập đến lý luận và thực tiễn GD, QLGD và phát triển nguồn nhân lực giáo dục. Cuốn sách đề cập tới lý thuyết hệ thống và hệ thống GD hiện đại, nêu lên thực trạng phát triển nguồn nhân lực quản lý và phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục. Mặc dù nguồn lực giáo dục đào tạo đã tăng cả số lượng, chất lượng và cơ cấu tuy nhiên với yêu cầu cao của phát triển kinh tế và hội nhập thì nguồn nhân 8 lực trong GD&ĐT còn nhiều bất cập. Cuốn sách là tài liệu bổ tích cho các cán bộ giáo dục hiện nay [20].
Luận án tiến sỹ: Phát triển đội ngũ GV tin học trường THPT theo quan điểm chuẩn hoá và xã hội hoá của tác giả Vũ Đình Chuẩn đưa ra các quan điểm lý luận về GV và phát triển GV tin học đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay, trình bày sự thiếu hụt nguồn lực GV công nghệ thông tin trong các nhà trường phổ thông và định hướng, giải pháp phát triển đội ngũ GV tin học cả về chất lượng và số lượng đến năm 2020. Đề tài đã hệ thống hoá được khung lý thuyết về phát triển GV, là tài liệu quan trọng để các nghiên cứu đi sau tham khảo các biện pháp phát triển đội ngũ GV trong nhà trường [13]. Đề tài do tác giả Dương Văn Sỹ chủ nhiệm: “Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên ở học viện chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” tập trung nghiên cứu các yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ quản lý tại trường Quân đội. Đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và những vấn đề cần giải quyết trong quá trình phát triển đội ngũ CBQL.
Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý GD nhà trường Quân đội trong giai đoạn hiện nay. Đề tài nêu rõ: “Phát triển đội ngũ giảng viên là quá trình quy hoạch, xây dựng bồi dưỡng đội ngũ giảng viên cấp uỷ, chỉ huy các cấp, các cơ quan chức năng, các giáo viên nhà trường làm cho đội ngũ này tăng cả số lượng và chất lượng, có cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển của nhà trường”[29] Các nhà nghiên cứu đi trước đã nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau trong vấn đề phát triển đội ngũ GV. Khảo sát thực trạng về phát triển GV của đơn vị nơi mình công tác và đưa ra các biện pháp thiết thực giúp các đơn vị thực hiện tốt hơn công tác phát triển GV. Tuy nhiên ở mỗi địa phương, mỗi đơn vị có điều kiện phát triển KTXH khác nhau, yếu tố môi trường khác nhau sẽ có những bước phát triển khác nhau.
Đến nay các đề tài nghiên cứu khoa học về phát triển đội ngũ GV cấp THCS đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 ít được đề cập tới do chương trình mới vừa được áp dụng tại các địa phương, để 9 GV nhà trường có thể giảng dạy và phát triển theo đúng định hướng đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước còn nhiều hạn chế. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng Chương trình GDPT 2018” này là hết sức cần thiết góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường THCS huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn tới. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Giáo viên trung học cơ sở Theo luật GD nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2019, GV được hiểu là: “Giáo viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và các cơ sở GD khác” [28].
Trường THCS là một bậc học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam, sau cấp tiểu học và trước cấp THPT. Trường THCS kéo dài 4 năm từ lớp 6 đến lớp 9. GV THCS được hiểu là nhà giáo giảng dạy tại các cơ sở giáo dục THCS (cấp 2). Giáo viên trong các cơ sở giáo dục THCS có nhiệm vụ, quyền lợi, vài trò và trách nhiệm được quy định trong Luật Giáo dục và Điều lệ trường học [5].
Tại Điều 26 của Điều lệ trường THCS, trường THPT do Bộ GD&ĐT ban hành ngày 15/6/2020 đã ghi rõ: “Giáo viên làm nhiệm vụ dạy học, giáo dục học sinh trong trường trung học” [5].