CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ VĂN NGHỊ LUẬN VÀ DẪN CHỨNG TRONG VĂN NGHỊ LUẬN 1. Khái quát chung về văn nghị luận 1. Định nghĩa về văn nghị luận Khái niệm văn nghị luận: Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) trình bày những ý kiến của mình bằng cách dùng lí luận (bao gồm cả lí lẽ và dẫn chứng) để làm rõ một vấn đề, nhằm làm cho người đọc (người nghe) hiểu, tin, đồng tình với những ý kiến của mình. Đặc trưng của văn nghị luận: Khác với văn miêu tả, kể chuyện nhằm tái hiện con người và cuộc sống bằng ngôn ngữ, chủ yếu tác động vào cảm xúc, tưởng tượng của người đọc (người nghe); văn nghị luận thiên về trình bày các ý kiến, các lí lẽ để giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận…một vấn đề nào đó.
Nó nhằm tác động vào trí tuệ, vào lí trí của người đọc. Nó là kết quả của tư duy logic. Ngôn ngữ của văn nghị luận là ngôn ngữ mang phong cách ngôn ngữ nghị luận. Nó chú trọng đặc biệt đến sự chính xác, chặt chẽ vì mục đích của diễn đạt trong văn nghị luận là nhằm phản ánh rõ ràng, chính xác quá trình tư duy để đạt đến việc nhận thức chân lí.
Tuy nhiên ngôn ngữ của văn bản nghị luận cũng cần có sức hấp dẫn, lôi cuốn bằng các từ ngữ hình tượng, có sự biểu cảm; bằng cách diễn đạt linh hoạt chứ không chấp nhận sự khô khan đơn điệu nhất là khi đối tượng nghị luận lại là một vấn đề văn học, một tác phẩm văn học. Vai trò, vị trí của văn nghị luận: Văn nghị luận đã hình thành từ xa xưa và phát triển cùng với sự phát triển của tư tưởng, văn hóa của nhân loại và góp phần vào sự phát triển ấy. Ngày nay văn nghị luận càng phát triển mạnh mẽ. Nó thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nó là vũ khí khoa học và vũ khí tư tưởng sắc bén, giúp cho con người nhận thức đúng đắn các lĩnh vực của đời sống xã hội và hướng dẫn, thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do đó, học làm văn nghị luận là một công việc, một yêu cầu rất trọng yếu của việc học văn trong nhà trường. Văn nghị luận đặt ra những vấn đề tư tưởng và học thuật đòi hỏi người học phải giải quyết, từ đó giúp các em vận dụng tổng hợp các tri thức đã được học từ tự nhiên đến xã hội, rèn luyện khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ, khả năng tư duy logic khoa học. Từ đó góp phần tích cực vào việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách người học.
Vì vậy văn nghị luận ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống. Các dạng bài nghị luận Trong nhà trường, văn nghị luận thường có 2 dạng cơ bản: Nghị luận xã hội và nghị luận văn học.1 Nghị luận xã hội Nghị luận xã hội là một loại hình văn bản rất quan trọng với học sinh. Bởi sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông có phải ai cũng đi vào con đường văn chương đâu. Nhưng ai chẳng phải đối mặt với những vấn đề xã hội.
Do đặc điểm nội dung xã hội chính trị, loại văn nghị luận xã hội chủ yếu dùng các thao tác nghị luận chính là: giải thích, chứng minh, bình luận. Ít có trường hợp đề ra yêu cầu phân tích hoặc bình giảng. Có các dạng đề nghị luận xã hội như sau: - Nghị luận về một tư tưởng đạo lí - Nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội - Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.2 Nghị luận văn học Đối tượng của nghị luận văn học là tất cả các sự kiện và các vấn đề văn học, có ý nghĩa rất đa dạng và phong phú. Có hai loại chính như sau: - Nghị luận về tác phẩm văn học: Nhằm kiểm tra năng lực cảm thụ văn học của người viết.
Đó có thể là một tác phẩm hoặc một đoạn trích. - Nghị luận về một ý kiến văn học: Thường là một ý kiến về lí luận, một nhận định về văn học sử hoặc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm… 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại cả hai loại nghị luận xã hội và nghị luận văn học đều nhằm phát biểu tư tưởng, quan điểm, thái độ của người viết một cách trực tiếp về những vấn đề văn hóa, chính trị, đạo đức, xã hội…với ngôn ngữ trong sáng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng tiêu biểu, xác đáng, thuyết phục… 2. Dẫn chứng trong văn nghị luận 2.1 Khái niệm dẫn chứng Dẫn chứng là những số liệu, tư liệu (sự vật, sự việc, danh ngôn, câu văn, câu thơ, hình tượng nghệ thuật…) lấy từ thực tế cuộc sống hoặc thực tế văn học mà người viết đưa vào bài làm nhằm thuyết minh cho ý kiến nhận định, đánh giá trong nghị luận.2 Vai trò của dẫn chứng trong văn nghị luận Nội dung bài nghị luận được tạo nên bởi những lí lẽ và dẫn chứng. Cả hai cùng có một mục đích là làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận.
Tuy vậy, nếu như lí lẽ nghiêng về việc làm cho người đọc hiểu thì dẫn chứng thiên về phía làm người ta tin. Một khi đã hiểu và tin tức là đã bị thuyết phục. Thậm chí, nếu không có dẫn chứng, những lí lẽ được đưa ra dù hay và sắc sảo đến đâu thì vẫn không đủ sức thuyết phục và không thể tác động mạnh mẽ đến người đọc, người nghe. Bài văn nghị luận sẽ trở thành những lời bàn luận mang tính chất là những khái niệm, lí thuyết suông.
Dẫn chứng là tổng hợp những kiến thức của người viết: vốn sống, vốn kiến thức về văn học, về kinh tế, chính trị, xã hội, về các khoa học tự nhiên…Trong quá trình chứng minh, người viết cần phải huy động và xử lí vốn kiến thức này. Vốn này càng nhiều, bài làm càng phong phú và luận cứ có sức sống, lập luận trở nên sắc sảo, có sức mạnh thuyết phục. Vốn này nghèo nàn, bài làm trở nên khô khan, thiếu “máu thịt” do đó thiếu sức thuyết phục. Vì vậy, trong văn nghị luận dẫn chứng rất quan trọng.
Dẫn chứng hay, xác đáng giống như một nụ cười làm sáng bừng khuôn mặt. Dẫn chứng trong bài nghị luận văn học Có hai loại dẫn chứng trong bài nghị luận văn học. Đó là dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng (liên hệ, so sánh). Dẫn chứng bắt buộc là dẫn chứng nằm trong phạm vi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yêu cầu của đề về tư liệu.
Còn dẫn chứng mở rộng là loại dẫn chứng ngoài phạm vi trên do người viết viện dẫn ra để liên hệ, đối chiếu, so sánh nhằm làm sáng tỏ thêm ý đang được bàn bạc. Ví dụ: Có ý kiến cho rằng Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ đặc sắc của làng cảnh Việt Nam. Anh /chị hãy chứng minh điều đó qua việc phân tích chùm thơ mùa thu của ông. Ở đề này, chùm thơ mùa thu của Nguyễn Khuyến là phạm vi tư liệu mà người viết buộc phải trích dẫn.
Đó là những dẫn chứng bắt buộc. Tuy vậy, trong quá trình viết, người làm bài có thể liên hệ với nhiều nhà thơ khác cùng viết về mùa thu để so sánh, đối chiếu, làm nổi rõ những nét đặc sắc của mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến. Tất cả những tác phẩm trích dẫn ngoài yêu cầu của đề này đều là những dẫn chứng mở rộng. Về nguyên tắc những dẫn chứng mở rộng này có thể ở nhiều cấp độ.
Nếu dẫn chứng bắt buộc là một đoạn trích, thì dẫn chứng mở rộng có thể là những đoạn khác trong tác phẩm ấy, những tác phẩm khác của cùng một nhà văn, những tác phẩm khác của những nhà văn khác (cùng thời, trước đó, sau đó, trong nước, ngoài nước, văn học dân gian, văn học viết…) Cần phân biệt được hai loại dẫn chứng này trong bài nghị luận văn học và chú ý: phải tôn trọng và tập trung vào những dẫn chứng bắt buộc, tránh tình trạng dẫn chứng mở rộng lại nhiều hơn, coi trọng hơn, làm át cả dẫn chứng bắt buộc. Dẫn chứng mở rộng chỉ là để làm sáng tỏ thêm cho dẫn chứng bắt buộc. Dẫn chứng mở rộng khá quan trọng với bài viết của học sinh giỏi Ngữ văn. Những dẫn chứng này một mặt để liên hệ, so sánh, mặt khác cũng chứng tỏ tầm kiến văn sâu rộng của người viết.
Ngoài việc phân biệt hai loại dẫn chứng trên đây, có những đề văn yêu cầu người viết tự xác định lấy dẫn chứng. Ví dụ: “Nhà thơ đích thực là người có thể mơ khi đang tỉnh, và rất tỉnh khi đang mơ. Với họ có ít nhất hai thế giới tồn tại song song. Và họ dễ dàng “đi lại” giữa hai thế giới ấy.
Cái nhìn trong suốt là cái nhìn của tâm hồn, và cái mờ ảo của ngôn ngữ là kết quả của sự tương tác giữa hai thế giới ” 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (Thanh Thảo trích trong Thanh Thảo – Mãi mãi là bí mật, NXB Lao động, Hà Nội, 2004, trang 228) Anh/Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm văn học của mình hãy làm sáng tỏ. Rõ ràng ở đề này người viết phải tự mình xác định và lựa chọn lấy những dẫn chứng sao cho phù hợp, tiêu biểu, làm sáng tỏ dẫn chứng những lí lẽ vừa nêu. Trong trường hợp này không có sự phân biệt dẫn chứng bắt buộc và dẫn chứng mở rộng. Tiểu kết: Văn nghị luận có vai trò quan trọng trong trường học và ngoài xã hội.
Văn nghị luận có hai dạng: nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Bài nghị luận văn học thường có số điểm cao nhất trong đề thi dành cho học sinh giỏi Ngữ văn. Trong văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng, dẫn chứng có vai trò vô cùng quan trọng. Bài văn của học sinh có thuyết phục người đọc, người nghe dẫn chứng hay không chính là nằm ở kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng.
Trong khi đây lại là khâu yếu nhất của học sinh cũng như nhiều giáo viên non trẻ mới vào tập huấn bồi dưỡng học sinh giỏi. Vì vậy, sau khi đã giới thiệu khái quát về vị trí, vai trò của văn nghị luận và dẫn chứng trong văn nghị luận; trong chương II, chúng tôi sẽ cụ thể hóa việc rèn kỹ năng chọn và phân tích dẫn chứng trong bài nghị luận văn học dành cho học sinh giỏi ngữ văn. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.