CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Trong vài năm trở lại đây, đã có nhiều tác giả trong và ngoài Học viện lựa chọn đề tài Kiểm soát nội bộ cho Luận văn nghiên cứu và các Công trình khoa học, dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của KSNB: Nghiên cứu Hệ thống KSNB vận hành trong một hệ thống Ngân hàng; Hệ thống KSNB trong phạm vi giới hạn đối tượng khách hàng của NHTM; KSNB đối với một mảng nghiệp vụ cụ thể. Mỗi công trình nghiên cứu đều có điểm mạnh và hạn chế riêng. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài “Kiểm soát nội bộ Nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Á Châu.
Thực trạng và giải pháp”, tác giả đã tiến hành tham khảo một số công trình nghiên cứu về KSNB và hoạt động huy động vốn, có nội dung liên quan đến đề tài và có cùng các phương pháp được sử dụng trong luận văn của mình như sau: 1/ Luận văn —Hoàn thiện kiểm soát nội bộ nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á” của tác giả Vũ Thị Trang (2017) - Học viện Ngân hàng, Hà Nội. Trong luận văn, tác giả đã tập trung vào làm rõ các vấn đề lý luận KSNB, đặc điểm KSNB, quy trình, quy định chung về hệ thống kiểm soát nội bộ do Ngân hàng nhà nước (NHNN) ban hành cũng như những quy trình, quy định riêng của Ngân hàng TMCP Đông Nam Á trong công tác huy động vốn. Từ đây, tôi có thể tham khảo được nội dung về đặc điểm và các tiêu chí đánh giá kết quả KSNB cho đối tượng nghiên cứu. 2/ Luận văn “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bình Định” của tác giả Hồ Văn Trị (2012) - Đại học Đà Nang.
Đề tài đã trình bày khá đầy đủ chi tiết cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn, đi sâu vào phân tích tình hình huy động vốn và đưa ra các giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Công thương chi nhánh Bình Định. Qua đề tài này, tôi có thể tham khảo nội dung về khái niệm, vai trò, cách phận loại nguồn vốn trong NHTM và các rủi ro liên quan đến hoạt động huy động vốn. 5 3/ Đề tài nghiên cứu của tác giả Lương Anh Tuấn (2013) iiHoan thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Quang Trung” - Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Trong phần cơ sở lý luận, tác giả đã trình bày đầy đủ khái niệm về kiểm soát nội bộ, đặc điểm vai trò của công tác huy động vốn trong ngân hàng.
Tuy nhiên đề tài chưa đi sâu phân tích được các nhân tố ảnh hưởng, chỉ tiêu đánh giá và chưa thực sự đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện KSNB hoạt động huy động vốn. 4/ Luận văn “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu” của tác giả Nguyễn Văn Quang (2014) - Học viện Ngân hàng, Hà Nội. Với phần giải pháp, tác giả đã nêu lên được một trong những biện pháp nâng cao năng lục cạnh tranh cho ngân hàng là hoàn thiện quy trình kiểm soát nội bộ nghiệp vụ tiền gửi, cụ thể là tăng cường vai trò kiểm soát sau của Kiểm soát viên giao dịch. 5/ Bài viết “Yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần” của tác giả Trương Nguyễn Tường Vy - Trường Cao đẳng Bách Việt, đăng trên website tapchitaichinh.
Nhìn chung các luận văn trên đã hệ thống hóa được lý luận chung về KSNB và đánh giá thực trạng KSNB của các Ngân hàng để đưa ra các giải pháp, các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các đề tài này còn một số giới hạn như phân tích nhân tố ảnh hưởng đến KSNB chưa được đầy đủ, chưa làm rõ được bản chất của KSNB, đặc biệt là nghiệp vụ huy động vốn, các giải pháp đưa ra chưa gắn với thực trạng của chính đối tượng nghiên cứu là các Ngân hàng TMCP. Ngoài ra, việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu là Nghiệp vụ huy động vốn còn ít, các tác giả chủ yếu phân tích Kiểm soát nội bộ nói chung, hoặc phân tích về nghiệp vụ tín dụng. Hơn nữa, phạm vi nghiên cứu tại Ngân hàng Á Châu với việc hoàn thiện Kiểm soát nội bộ nghiệp vụ huy động vốn chưa được công trình nào nghiên cứu.
Do vậy, khi nghiên cứu đề tài ‘‘Hệ thống Kiểm soát nội bộ Nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Á Châu. Thực trạng và giải pháp ”, tác giả sẽ kế thừa một số nội dung về cơ sở lý luận của các đề tài trước; tiếp theo tiến hành nêu thêm một số nội dung của KSNB, đặc biệt trong phần thực trạng, tác giả sẽ phân tích cụ thể công việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ nghiệp vụ huy động vốn tiền gửi trong Ngân hàng đã được từng bộ phận, từng nhân viên thực hiện như thế nào, từ đó đánh giá những kết quả đạt 6 được và các mặt còn hạn chế của KSNB nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng ACB. Cuối cùng, tác giả đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện KSNB nghiệp vụ huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Á Châu. NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái quát về Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là loại hình ngân hàng xuất hiện đầu tiên và phổ biến nhất hiện nay. Đây là tổ chức đóng vai trò là trung gian tài chính huy động tiền nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi và cung cấp cho những chủ thể cần vốn chủ yếu dưới hình thức cho vay. NHTM dù ở quốc gia nào cũng đều là nhóm trung gian tài chính lớn nhất, là trung gian mà các chủ thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó - kinh tế thị trường - thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.
Vai trò của NHTM: NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Vị thế của NHTM có thể được nhìn nhận như sau: - NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh.
- NHTM góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu. 7 - Tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục. - NHTM đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo. - NHTM góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững, thể hiện qua công tác thẩm định dự án, quyết định cho vay vốn ngân hàng cho các dự án và giám sát thực hiện một cách chặt chẽ sau khi cho vay.
Chức năng của NHTM: NHTM hoạt động với mục đích thu lợi nhuận từ hoạt động huy động và cho vay vốn: trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, phần chênh lệch lãi suất chính là lợi nhuận của ngân hàng. Huy động vốn: Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các NHTM đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau như: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. Ngoài ra NHTM còn có thể huy động vốn bằng cách phát hành kỳ phiếu, trái phiếu hoặc cổ phiếu,. Sử dụng vốn: NHTM sử dụng vốn chủ sở hữu và vốn huy động được để thực hiện các hoạt động cơ bản sau: Hoạt động cho vay: đây là một trong những hoạt động cơ bản nhất của NHTM.
Ngân hàng cung cấp cho khách hàng một khoản tiền, khách hàng có trách nhiệm phải trả lãi và hoàn trả gốc theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng. Các hình thức cho vay bao gồm: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ dự án. Hoạt động đầu tư: hoạt động đầu tư này khá đa dạng bao gồm: đầu tư tiền gửi trên thị trường liên ngân hàng, mua cổ phiếu, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, đầu tư vào các giấy nhận nợ, chứng từ có giá khác,. Ngoài hai loại hình sử dụng vốn trên chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sử dụng vốn của NHTM, các ngân hàng cũng sử dụng vốn đầu tư vào các trang thiết bị và trụ sở ngân hàng để hiện đại hoá công nghệ và nâng cao hình ảnh, uy tín của ngân hàng.
Các hoạt động khác: bên cạnh một số hoạt động cơ bản như: huy động và sử dụng vốn. NHTM còn thực hiện các hoạt động đặc thù khác như: làm trung gian thanh 8 toán, bảo lãnh, cung cấp dịch vụ bảo hiểm, cho thuê tài sản, kinh doanh vàng, ngoại tệ, nhận uỷ thác, làm đại lý, tu vấn về các hoạt động tài chính,. Nghiệp vụ Huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1. Vai trò của vốn huy động đối với NHTM Nghiệp vụ huy động vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân Ngân hàng cũng nhu đối với xã hội.