Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường tại Bokeo, Lào

Nghiên cứu vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường tại tỉnh Bokeo, Lào. Phân tích thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế hiệu quả.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan vai trò kinh tế của nhà nước tại Bokeo Lào

Kinh tế chính trị Mác - Lênin khẳng định nhà nước giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào xác định rõ chức năng kiến tạo và điều tiết vĩ mô. Tỉnh Bokeo nằm ở khu vực Tây Bắc nước Lào, giữ vị trí ngã ba biên giới chiến lược. Địa phương tiếp giáp với Thái Lan và Myanmar. Vị trí này tạo động lực giao thương quốc tế mạnh mẽ. Nhà nước thực hiện quản lý kinh tế qua quy hoạch, pháp luật và chính sách tài khóa. Các công cụ này giúp định hướng sản xuất hàng hóa gắn liền với xóa đói giảm nghèo. Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh vi mô của doanh nghiệp. Thay vào đó, chính quyền tỉnh tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông và thủy lợi. Hệ thống hạ tầng đồng bộ mở đường cho lưu thông hàng hóa nông sản. Bài học từ các địa phương như Xiêng Khoảng và Luông Pha Bang chứng minh tính đúng đắn của việc phát huy vai trò kinh tế nhà nước. Quá trình đổi mới cơ chế quản lý từ năm 1986 đã xóa bỏ bao cấp, chuyển đổi thành công sang kinh tế thị trường.

1.1. Cơ sở lý luận về vai trò kinh tế nhà nước

Kinh tế chính trị nghiên cứu bản chất tương tác giữa nhà nước và thị trường. Trong kinh tế thị trường, các quy luật giá trị và cung cầu vận hành tự do. Tuy nhiên, thị trường tự do bộc lộ nhiều khuyết tật nghiêm trọng. Khủng hoảng kinh tế, phân hóa giàu nghèo và suy thoái môi trường là những ví dụ điển hình. Nhà nước xuất hiện để can thiệp và khắc phục các thất bại này. Nhà nước duy trì ổn định kinh tế vĩ mô thông qua điều tiết cung tiền và lãi suất. Chính sách phân phối lại thu nhập bảo đảm công bằng xã hội. Nhà nước cung cấp hàng hóa công cộng thiết yếu như y tế, giáo dục và quốc phòng. Cơ sở lý luận này là kim chỉ nam cho sự phát triển của tỉnh Bokeo.

1.2. Đường lối phát triển kinh tế của Đảng NDCM Lào

Đại hội IV năm 1986 của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào mở ra công cuộc đổi mới toàn diện. Đại hội IX năm 2011 tiếp tục củng cố chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chủ trương nhất quán là chuyển đổi nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng quy hoạch và phân bổ ngân sách. Hệ thống chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chính phủ bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật cho mọi thành phần kinh tế. Đường lối đổi mới tạo nền tảng vững chắc cho chính quyền tỉnh Bokeo triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế địa phương.

II. Thực trạng vai trò kinh tế của nhà nước ở tỉnh Bokeo

Tỉnh Bokeo đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển kinh tế thời gian qua. Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch mạnh mẽ sang sản xuất hàng hóa chuyên canh. Diện tích trồng lúa, cây công nghiệp như cao su, ngô, mía và cây ăn quả tăng trưởng đều đặn. Ngành chăn nuôi gia súc và gia cầm mở rộng về quy mô hộ gia đình. Tỉnh cũng tập trung quản lý bảo vệ rừng và phủ xanh đất trống đồi trọc. Lĩnh vực du lịch dịch vụ có bước phát triển mới với số lượng khách sạn, nhà hàng gia tăng. Khu kinh tế đặc biệt Tam Giác Vàng thu hút nguồn vốn đầu tư quốc tế đáng kể. Tuy nhiên, vai trò kinh tế của chính quyền địa phương vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Nguồn vốn đầu tư công cho nông thôn miền núi còn phân tán và manh mún. Hệ thống giao thông, thủy lợi và lưới điện tại các bản vùng sâu xuống cấp nghiêm trọng. Thủ tục tín dụng ngân hàng phức tạp khiến người dân khó tiếp cận vốn dài hạn. Trình độ dân trí chưa đồng đều dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn vay thấp. Đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu kỹ năng chuyên sâu về điều hành kinh tế thị trường.

2.1. Thành tựu trong phát triển nông nghiệp và dịch vụ

Chính quyền Bokeo đã chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với khí hậu thổ nhưỡng địa phương. Mô hình kinh tế trang trại trồng ngô, chuối, cao su và cà phê mang lại giá trị gia tăng cao. Các dự án lâm nghiệp và ươm cây giống phủ xanh hàng nghìn hécta đất trống đồi trọc. Sản xuất hàng hóa nông nghiệp giúp cải thiện thu nhập cho đồng bào các dân tộc. Ngành thương mại và dịch vụ tận dụng hiệu quả vị trí cửa ngõ biên giới. Lượng khách du lịch đến tỉnh tăng trưởng ổn định qua từng năm. Hệ thống nhà hàng, khách sạn và dịch vụ lưu trú được nâng cấp mở rộng. Các hoạt động kinh tế này đóng góp quan trọng vào ngân sách tỉnh.

2.2. Những hạn chế và thách thức về vốn cùng nhân lực

Hạ tầng kinh tế kỹ thuật tại các huyện miền núi Bokeo còn nhiều yếu kém. Địa hình đồi núi hiểm trở gây trở ngại lớn cho giao thông vận tải hàng hóa. Vốn đầu tư công phân bổ dàn trải và chưa đáp ứng nhu cầu phát triển dài hạn. Kênh tín dụng ngân hàng hoạt động nhỏ lẻ với quy trình giải ngân phức tạp. Nông dân vùng sâu thiếu kỹ thuật canh tác tiên tiến và kỹ năng quản lý tài chính. Tình trạng đốt rừng làm nương rẫy vẫn tồn tại ở nhiều bản vùng cao. Nguồn nhân lực quản lý nhà nước tại địa phương thiếu kiến thức kinh tế thị trường hiện đại. Năng lực thực thi pháp luật và giám sát thị trường chưa thực sự đồng bộ.

III. Giải pháp nâng cao vai trò kinh tế của nhà nước Bokeo

Để nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế, chính quyền tỉnh Bokeo cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp đột phá. Trước hết, tỉnh cần hoàn thiện công tác quy hoạch tổng thể và chi tiết từng vùng sinh thái nông nghiệp. Quy hoạch rõ ràng giúp tập trung nguồn lực phát triển sản phẩm thế mạnh địa phương. Nhà nước cần cải cách môi trường đầu tư kinh doanh để thu hút doanh nghiệp tư nhân. Cơ chế một cửa liên thông giảm thiểu thời gian thực hiện thủ tục hành chính. Hệ thống tài chính ngân hàng cần đổi mới phương thức cấp tín dụng cho nông dân. Việc thành lập các quỹ phát triển cấp bản tạo nguồn vốn vay tại chỗ linh hoạt. Chính quyền đẩy mạnh giao đất giao rừng gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Địa phương cần đầu tư nâng cấp mạng lưới giao thông liên xã và hệ thống trường trạm. Song song với đó, việc đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ công chức là nhiệm vụ then chốt. Cán bộ quản lý kinh tế phải nắm vững luật pháp và cơ chế thị trường quốc tế.

3.1. Hoàn thiện quy hoạch và chính sách phát triển tài chính

Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bokeo cần dựa trên lợi thế địa kinh tế của vùng Tam Giác Vàng. Tỉnh cần xác định rõ các phân khu chức năng gồm nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ thương mại và du lịch sinh thái. Chính sách huy động vốn cần đa dạng hóa nguồn lực xã hội kết hợp ngân sách nhà nước. Ngân hàng thương mại mở rộng các gói tín dụng ưu đãi trung và dài hạn cho sản xuất nông lâm nghiệp. Mô hình quỹ tín dụng vi mô cấp bản giúp hộ nghèo chủ động tiếp cận vốn sản xuất hàng hóa. Minh bạch hóa quản lý tài chính công nâng cao hiệu quả giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

3.2. Củng cố bộ máy thực thi và đào tạo nguồn nhân lực

Nâng cao hiệu quả bộ máy công quyền là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy kinh tế thị trường tại Bokeo. Tỉnh cần tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên môn về quản lý kinh tế hiện đại cho cán bộ cơ sở. Đội ngũ thực thi pháp luật cần tăng cường kiểm tra thị trường, chống buôn lậu và gian lận thương mại. Chính quyền địa phương phối hợp với các viện trường mở lớp khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân. Đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp trong khu kinh tế. Tinh gọn thủ tục hành chính tạo môi trường thông thoáng thu hút đầu tư trong và ngoài nước.

IV. Kết luận về vai trò kinh tế của nhà nước ở tỉnh Bokeo

Khóa luận tốt nghiệp kinh tế chính trị làm sáng tỏ vị trí và vai trò kinh tế của nhà nước tại tỉnh Bokeo nước CHDCND Lào. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng và điều tiết sự phát triển của nền kinh tế thị trường địa phương. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Bokeo đã đạt những bước tiến vượt bậc trong nông nghiệp, thương mại và du lịch biên mậu. Sự can thiệp của chính quyền giúp bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy xóa đói giảm nghèo bền vững. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách cấp tỉnh giai đoạn tiếp theo. Việc thực thi đồng bộ các giải pháp về thể chế, tài chính, nhân lực và quy hoạch sẽ tháo gỡ điểm nghẽn tăng trưởng. Bokeo có đầy đủ tiềm năng để trở thành trung tâm kinh tế năng động tại khu vực Bắc Lào. Sự kết hợp hài hòa giữa cơ chế thị trường và quản lý nhà nước là chìa khóa phát triển toàn diện.

4.1. Ý nghĩa thực tiễn đối với chính sách kinh tế địa phương

Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế tại tỉnh Bokeo. Các cấp lãnh đạo có thêm luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế quản lý và phân cấp đầu tư. Địa phương có thể vận dụng linh hoạt mô hình quản lý đất đai và phát triển trang trại tập trung. Đề tài hỗ trợ xây dựng chiến lược liên kết kinh tế vùng với các tỉnh Bắc Lào lân cận. Cơ chế khuyến khích đầu tư vào khu vực cửa ngõ biên giới được làm rõ giúp tối ưu hóa nguồn thu ngân sách địa phương.

4.2. Khuyến nghị định hướng nghiên cứu và phát triển tương lai

Nghiên cứu mở ra các hướng tiếp cận mới về kinh tế học phát triển tại các tỉnh biên giới nước CHDCND Lào. Các công trình tiếp theo cần đi sâu đánh giá tác động môi trường của Khu kinh tế đặc biệt Tam Giác Vàng. Việc khảo sát chuyên sâu đời sống đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện vùng sâu là rất cần thiết. Nhà khoa học cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Lào. Sự phối hợp nghiên cứu giữa các trường đại học Lào và Việt Nam sẽ tạo ra nhiều giải pháp chính sách đột phá.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Kltn ktct vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở tỉnh bokeo nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TR̉ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Lư luận chung về vai tṛ của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Vấn đề cơ bản trong phát triển kinh tế - xă hội của mỗi quốc gia hiện nay là t́m ra một phương thức tốt nhất để phối hợp giữa “bàn tay vô h́ nh” và “bàn tay hữu h́ nh”, tức là giữa cơ chế thị trường tự điều tiết và vai tṛ quản lư của Nhà nước. Thị trường làm được nhiều điều tốt đẹp cho mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế, bởi nó là phương thức tốt nhất phân bổ và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả. Cơ chế thị trường là cơ chế thỏa măn tốt nhất lợi ích cá nhân, tạo động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế.

Nhưng thị trường không thể làm được tất cả hoặc ít ra th́ cũng không thể làm tốt bằng Nhà nước trong việc ổn định nền kinh tế, cung cấp những hàng hóa công cộng, giải quyết những ảnh hưởng ngoại ứng, xử lư tính không hoàn hảo của thị trường và đảm bảo công bằng về kinh tế. Với mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế, Nhà nước không thể không can thiệp, điều tiết thị trường. Thị trường và Nhà nước gắn liền với nhau. Nhà nước cần thị trường và thị trường cũng cần Nhà nước.

Nhà nước cần thị trường v́ thị trường là phương tiện, công cụ để tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thị trường cần Nhà nước v́ chỉ có Nhà nước 8 mới đảm bảo luật pháp, trật tự, ổn định và hệ thống kết cấu hạ tầng cho thị trường vận hành hiệu quả. Có thể nói, bên cạnh tư tưởng về giá trị, tư tưởng về vai tṛ Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là một trong hai tư tưởng quan trọng nhất trong các lư thuyết kinh tế từ trước đến nay. Lịch sử tư tưởng kinh tế của nhân loại không chỉ đă từng chứng kiến các cuộc tranh luận quyết liệt về giá trị, mà c̣n biết đến vô số cuộc hội thảo, đại luận chiến chưa có hồi kết về vai tṛ Nhà nước trong mối quan hệ với thị trường.

Theo cách tiếp cận hệ thống, ta hăy lần lượt khảo sát quan điểm của hai trường phái kinh tế chính trị tư sản và kinh tế chính trị Mác-Lênin về mối tương quan giữa Nhà nước và thị trường. Quan điểm của kinh tế chính trị tư sản Nh́ n chung, có hai quan điểm, Nhà nước có can thiệp vào kinh tế hay không? Và can thiệp th́ ở mức như thế nào? Những người không ủng hộ sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế được gọi là những người theo trường phái tự do kinh tế mà tiêu biểu là A. Trong tác phẩm “Nghiên cứu về nguyên nhân và bản chất sự giàu có của các dân tộc” xuất bản năm 1776, ông cho rằng, hoạt động kinh tế của con người là hoạt động tự do, do “bàn tay vô h́ nh” hay quy luật kinh tế khách quan chi phối. Theo nguyên tắc này, hoạt động kinh tế phải tiến hành một cách tự do, do bộ máy cung cầu và biến động của giá cả trên thị trường quyết định.

Việc sản xuất cái ǵ? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho 9 ai?. được giải quyết thông qua thị trường. Nhà nước không can thiệp vào thị trường và hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Theo các nhà kinh tế học tư sản cổ điển, Nhà nước là cần thiết để bảo vệ các quyền của chủ sở hữu tư nhân, chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ đất nước.Smith cũng cho rằng đôi khi Nhà nước cũng có những nhiệm vụ kinh tế nhất định, khi những nhiệm vụ này vượt ra khỏi phạm vi doanh nghiệp như các công việc đắp đường, đào sông… Đến cuối thế kỷ XIX, trường phái Tân cổ điển gồm các nhà kinh tế học nổi tiếng như Leon Walars (1834 - 1910), Alfred Marshall (1842-1924) vẫn tiếp tục ủng hộ nguyên tắc tự do kinh tế.

Họ cho rằng hoạt động tự do của doanh nhân theo sự biến động tự phát của cung cầu và giá cả trên thị trường là điều kiện cơ bản cho sự phát triển và cân đối thị trường. Như vậy, các nhà lý luận Tân cổ điển cho rằng tự do kinh tế là sức mạnh của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa. Họ đ̣i hỏi giảm sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế. Khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 của hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới cho thấy lư thuyết “bàn tay vô h́ nh” không thể đảm bảo cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển b́ nh thường.

Keynes cho rằng khủng hoảng, thất nghiệp là do chính sách kinh tế lỗi thời, bảo thủ, do thiếu sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế. Từ đó, ông cho rằng muốn có cân bằng kinh tế, Nhà nước phải can thiệp vào kinh tế, điều tiết kinh tế vĩ mô bằng các chính sách 10 thích hợp như dùng lăi suất, chính sách đầu tư, dùng “lạm phát có điều tiết” v. nhằm kích thích và duy tŕ tốc độ gia tăng ổn định của tổng cầu. Lý thuyết của Keynes đă đáp ứng được đ̣i hỏi của nền kinh tế là phải có sự can thiệp của Nhà nước.

Nhưng khiếm khuyết lớn nhất của ông là ở chỗ coi nhẹ vai tṛ điều tiết của thị trường. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải đưa ra được lư thuyết kết hợp cả sức mạnh của Nhà nước và sức mạnh của cơ chế thị trường để điều tiết nền kinh tế. Chủ nghĩa tự do mới ra đời đáp ứng đ̣i hỏi đó. Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa tự do mới là “cơ chế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước” với khẩu hiệu “cạnh tranh thị trường nhiều hơn, Nhà nước can thiệp ít hơn” chủ trương dựa tối đa vào thị trường, hạn chế sự can thiệp của Nhà nước, chỉ thừa nhận chức năng của Nhà nước trong việc điều tiết tiền tệ, kiềm chế lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thuyết trọng cung, một trường phái của chủ nghĩa tự do mới với các đại biểu như Arthur Laffer, Jede Winniski, Norman Ture. đề cao vai tṛ tự chủ của giới chủ và phải giảm thiểu tối đa sự ràng buộc của Nhà nước. Nhà nước phải đảm bảo cạnh tranh tự do, chỉ nên tác động vào những nhân tố thuộc mặt cung của quá tŕnh tái sản xuất như lao động, vốn và kỹ thuật để tạo ra sự tăng trưởng dài hạn. Lư thuyết kinh tế thị trường xă hội quan niệm nền kinh tế dựa trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa nguyên tắc tự do và nguyên 11 tắc công bằng xă hội, trên cơ sở nền kinh tế thị trường.

Nhà nước có vai tṛ can thiệp vào nền kinh tế nhằm khơi dậy và bảo vệ các nhân tố của thị trường. Đồng thời những chính sách của Nhà nước phải phù hợp với sự vận động của kinh tế thị trường. Nếu lư thuyết của Keynes quá cọi trọng vai tṛ của Nhà nước th́ chủ nghĩa tự do mới đă kết hợp sức mạnh của thị trường và của Nhà nước nhưng chỉ thừa nhận vai tṛ của Nhà nước trong giới hạn chật hẹp. Trường phái chính hiện đại mà đại biểu điển h́ nh là P.Samuelson muốn kết hợp các lư thuyết của trường phái Keynes và trường phái tự do mới làm cơ sở lý thuyết cho hoạt động của doanh nghiệp và chính sách kinh tế của Nhà nước tư sản [21].

Tư tưởng cốt lơi của trường phái chính hiện đại là phải phối hợp sức mạnh điều tiết bằng quy luật của thị trường với sức mạnh của Chính phủ, tạo ra cơ chế hỗn hợp để điều tiết nền kinh tế. Đó là nền kinh tế hỗn hợp trong đó có sự kết hợp “bàn tay vô h́ nh” của thị trường và “bàn tay hữu h́ nh” của Chính phủ để dẫn dắt các hoạt động kinh tế. Samuelson viết: “Điều hành một nền kinh tế mà không có cả Chính phủ lẫn thị trường giống như định vỗ tay bằng một bàn tay”. Quan điểm của kinh tế chính trị Mác-Lênin Vào cuối thế kỷ XIX, C.Mác đă từng suy nghĩ rằng trong xă hội tương lai, sản xuất và hoạt động kinh tế của toàn xă hội sẽ được tổ chức có kế hoạch.

Trong tác phẩm “Chống Đuy - Rinh”, Ph.Ăngghen 12 cũng cho rằng cùng với việc xă hội nắm lấy những tư liệu sản xuất th́ sản xuất hàng hóa cũng bị loại trừ. Năm 1906, Lênin đă coi kinh tế kế hoạch và kinh tế thị trường là hai loại chế độ xă hội đối lập nhau. Sau cách mạng tháng Mười, Đảng Cộng sản Nga (Bônsêvích) đă có ư định lợi dụng thời kỳ lịch sử đặc biệt chủ nghĩa cộng sản thời chiến là bước quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xă hội. Nhưng bắt đầu từ mùa xuân 1921, sau khi kết thúc nội chiến, chuyển sang thời kỳ ḥa b́ nh và phát triển kinh tế, trước những nhiệm vụ khôi phục nền kinh tế nặng nề, khắc phục nạn đói và đặc biệt là sự phản ứng của nông dân đối với chính sách trưng thu lương thực, Đảng Cộng sản Nga buộc phải chuyển sang thực hiện Chính sách kinh tế mới.

Thực tiễn đă làm cho tư tương của Lênin có những thay đổi lớn. Lênin chủ trương “sử dụng h́ nh thức kinh tế thị trường” để thực hiện kế hoạch kinh tế Nhà nước. Một trong những nội dung của Chính sách kinh tế mới là thừa nhận kinh tế hàng hóa, thừa nhận thương nghiệp và thị trường, cho tồn tại ở một giới hạn nhất định thành phần kinh tế tư nhân, sử dụng kinh tế tư bản nhà nước và các h́ nh thức kinh tế quá độ, xem hợp tác xă như chiếc cầu đưa người sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xă hội. Như vậy, Lênin xuất phát từ tŕnh độ phát triển kinh tế, văn hóa c̣n thấp của nước Nga khi bắt đầu quá độ lên chủ nghĩa xă hội để đề xuất mô h́ nh chủ nghĩa xă hội có vai tṛ của nền kinh tế hàng hóa, của kinh tế thị trường.

13 Trước thập kỷ 80, vấn đề xă hội chủ nghĩa có tồn tại sản xuất hàng hóa hay không, vai tṛ kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường như thế nào là vấn đề tranh luận chưa ngă ngũ. Từ đầu thập kỷ 90 trở lại đây, có lẽ không c̣n mấy ai nghi ngờ sự tồn tại của kinh tế hàng hóa trong chủ nghĩa xă hội và vai tṛ của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ