Luận văn thạc sĩ: Việc làm khi đô thị hóa ở Bắc Từ Liêm - Hà Nội

Nghiên cứu thực trạng việc làm cho người dân trong quá trình đô thị hóa tại quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội cùng các giải pháp giải quyết việc làm bền vững.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan việc làm trong quá trình đô thị hóa ở quận Bắc Từ Liêm

Quá trình đô thị hóa tại quận Bắc Từ Liêm diễn ra với tốc độ rất nhanh. Sự chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất công cộng, nhà ở và hạ tầng kỹ thuật làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế địa phương. Đất canh tác nông nghiệp dần bị thu hẹp. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến sinh kế truyền thống của hàng nghìn hộ gia đình nông dân. Nhu cầu việc làm mới của người dân tăng cao trong giai đoạn chuyển đổi. Nhiều lao động nông thôn bước vào thị trường việc làm đô thị với ít kỹ năng chuyên môn. Trong khi đó, không gian đô thị mở rộng thu hút thêm nhiều doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ. Sự xuất hiện của các khu đô thị mới tạo ra nhiều cơ hội kinh tế đa dạng. Thị trường lao động đòi hỏi nguồn nhân lực có tay nghề và tính thích ứng cao. Giải quyết bài toán việc làm trở thành nhiệm vụ trọng tâm nhằm ổn định an sinh xã hội. Công tác này vừa bảo đảm thu nhập bền vững cho cư dân, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương một cách toàn diện.

1.1. Khái niệm và đặc điểm việc làm đô thị hóa

Việc làm đô thị hóa phản ánh sự chuyển biến mạnh mẽ từ lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Cư dân không còn gắn bó với đồng ruộng mà tham gia vào nhà máy, công xưởng hoặc dịch vụ đô thị. Đặc điểm nổi bật là tính cạnh tranh cao và yêu cầu kỷ luật lao động công nghiệp khắt khe. Nguồn cung lao động địa phương có sự phân hóa lớn về độ tuổi và trình độ học vấn. Nhóm lao động trẻ dễ dàng tiếp cận công nghệ và ngành nghề mới. Ngược lại, lao động lớn tuổi gặp nhiều rào cản trong quá trình thích ứng với môi trường làm việc hiện đại.

1.2. Bối cảnh chuyển dịch kinh tế quận Bắc Từ Liêm

Quận Bắc Từ Liêm được thành lập trên cơ sở tách địa giới hành chính với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng. Cơ cấu kinh tế quận dịch chuyển mạnh sang thương mại, dịch vụ và công nghiệp xây dựng. Các dự án giao thông trọng điểm và khu đô thị mới liên tục được triển khai. Sự thay đổi này kéo theo nhu cầu tuyển dụng lao động gia tăng ở các vị trí kỹ thuật và dịch vụ bán lẻ. Tuy nhiên, luồng di dân cơ học từ các tỉnh lân cận cũng tạo ra sức ép cạnh tranh việc làm rất lớn cho người dân bản địa.

II. Thực trạng và thách thức việc làm đô thị hóa tại quận Bắc Từ Liêm

Thực trạng việc làm tại quận Bắc Từ Liêm bộc lộ nhiều điểm bất cập sau khi thu hồi đất canh tác. Đa số lao động nông nghiệp mất kế sinh nhai truyền thống và lúng túng trong việc tìm kiếm công việc mới. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề chuyên sâu còn chiếm tỷ trọng đáng kể. Điều này làm gia tăng nguy cơ thất nghiệp cục bộ và thiếu việc làm ổn định. Một bộ phận lớn người dân chuyển sang làm các công việc tự do trong khu vực phi chính thức. Các công việc như kinh doanh nhỏ lẻ, vận chuyển hay dịch vụ ăn uống mang lại thu nhập bấp bênh và thiếu bảo hiểm xã hội. Sự cạnh tranh việc làm từ lao động nhập cư ngoại tỉnh ngày càng gia tăng gay gắt. Bên cạnh đó, nhóm lao động trung niên trên 40 tuổi chịu thiệt thòi lớn nhất. Nhóm này khó được các doanh nghiệp hiện đại tuyển dụng do hạn chế về thể lực và trình độ kỹ thuật. Khoảng cách giữa kỹ năng của người lao động và yêu cầu của thị trường tạo ra rào cản phát triển bền vững.

2.1. Rào cản về trình độ và kỹ năng nghề nghiệp

Chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương chưa bắt kịp tốc độ chuyển đổi số và công nghiệp hóa. Nhiều người lao động thiếu chứng chỉ nghề, kỹ năng ngoại ngữ và năng lực sử dụng máy móc công nghệ cao. Công tác đào tạo nghề trước đây còn mang tính hình thức và chưa gắn liền với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Hậu quả là người dân sau học nghề vẫn khó tìm được việc làm phù hợp. Việc thiếu hụt tác phong công nghiệp khiến lao động địa phương dễ bị sa thải hoặc đào thải trong môi trường áp lực cao.

2.2. Bất cập trong chuyển đổi sinh kế sau thu hồi đất

Chính sách đền bù giải phóng mặt bằng chủ yếu chi trả bằng tiền mặt. Nhiều hộ gia đình chưa có phương án quản lý tài chính và sử dụng nguồn vốn đền bù hiệu quả. Tiền bồi thường nhanh chóng bị tiêu dùng cho sinh hoạt thay vì tái đầu tư sinh kế bền vững. Việc chuyển đổi quỹ đất dịch vụ cho người dân còn gặp nhiều vướng mắc về thủ tục pháp lý. Tình trạng thiếu mặt bằng kinh doanh khiến người lao động gặp khó khăn khi muốn phát triển các mô hình thương mại dịch vụ quy mô hộ cá thể.

III. Giải pháp tạo việc làm bền vững cho người dân quận Bắc Từ Liêm

Giải quyết việc làm cho người dân đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết liệt từ chính quyền. Trước hết, công tác quy hoạch kinh tế phải gắn liền với kế hoạch sử dụng đất và giải quyết việc làm dài hạn. Địa phương cần chủ động thu hút các dự án đầu tư sử dụng nhiều lao động phù hợp với trình độ cư dân. Chính quyền cần đổi mới căn bản chương trình đào tạo nghề theo cơ chế đặt hàng của doanh nghiệp. Đào tạo phải tập trung vào các ngành nghề dịch vụ chất lượng cao, thương mại điện tử, logistics và quản trị cơ sở lưu trú. Song song đó, nguồn vốn tín dụng chính sách ưu đãi cần được mở rộng để hỗ trợ người dân khởi nghiệp kinh doanh cá thể. Đẩy mạnh hoạt động của các sàn giao dịch việc làm lưu động và trung tâm giới thiệu việc làm vệ tinh. Các mô hình kết nối cung - cầu lao động trực tuyến giúp người dân tiếp cận thông tin tuyển dụng minh bạch và nhanh chóng. Cơ chế hỗ trợ xuất khẩu lao động có tay nghề cũng là một hướng đi chiến lược.

3.1. Đổi mới đào tạo nghề theo nhu cầu doanh nghiệp

Mô hình liên kết chặt chẽ giữa trường nghề và doanh nghiệp trên địa bàn quận là giải pháp then chốt. Chương trình đào tạo cần chuyển dịch từ lý thuyết sang thực hành thực tế tại nhà xưởng. Doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào khâu xây dựng giáo trình và đánh giá chất lượng đầu ra. Lao động sau đào tạo được tiếp nhận ngay vào làm việc tại các vị trí phù hợp. Địa phương cần hỗ trợ toàn bộ học phí cho người thuộc diện thu hồi đất khi tham gia các khóa học nâng cao tay nghề ngắn hạn.

3.2. Hỗ trợ vốn vay và phát triển kinh tế dịch vụ

Ngân hàng Chính sách xã hội cần nâng hạn mức vay vốn ưu đãi cho các hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp nhỏ. Thủ tục thẩm định và giải ngân phải được tinh gọn để người dân kịp thời nắm bắt cơ hội kinh doanh. Đồng thời, quận cần quy hoạch các tuyến phố chuyên doanh và chợ đêm ẩm thực tạo không gian sinh kế cho lao động chuyển đổi nghề. Các lớp tập huấn kỹ năng bán hàng trực tuyến và quản lý tài chính giúp người dân tự tin kinh doanh dịch vụ thành công.

IV. Kết luận và định hướng việc làm đô thị hóa tại quận Bắc Từ Liêm

Đô thị hóa là xu thế tất yếu mở ra nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra bài toán an sinh lớn về việc làm tại quận Bắc Từ Liêm. Đảm bảo việc làm cho người dân không chỉ giúp ổn định trật tự xã hội mà còn tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bền vững. Sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động đóng vai trò quyết định thành công. Trong giai đoạn tới, quận Bắc Từ Liêm cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ sinh kế và phát triển thị trường lao động linh hoạt. Người dân địa phương cần chủ động thay đổi tư duy, tích cực học hỏi kỹ năng mới để hòa nhập thị trường. Bài học kinh nghiệm thực tiễn từ quận Bắc Từ Liêm mang lại giá trị tham khảo sâu sắc cho các địa phương đang trong tiến trình đô thị hóa tương tự tại Việt Nam. Việc đầu tư thỏa đáng cho con người chính là chìa khóa phát triển đô thị văn minh và hiện đại.

4.1. Bài học kinh nghiệm trong quản lý việc làm đô thị

Bài học quan trọng nhất là phải gắn quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch nguồn nhân lực ngay từ đầu dự án. Chính quyền không thể chỉ quan tâm đến khâu bồi thường vật chất mà phải chuẩn bị kỹ năng sinh kế cho người dân trước khi thu hồi đất. Việc khảo sát nhu cầu việc làm và tâm tư của người lao động phải được thực hiện công khai, minh bạch. Hệ thống cơ sở dữ liệu việc làm cần được số hóa để quản lý và điều phối nguồn cung cầu lao động kịp thời và hiệu quả.

4.2. Khuyến nghị ứng dụng cho các địa phương lân cận

Các huyện, quận đang trong tiến trình đô thị hóa có thể học hỏi mô hình cấp đất dịch vụ tập trung và liên kết đào tạo nghề tại Bắc Từ Liêm. Cần đa dạng hóa các hình thức tạo việc làm, từ dịch vụ thương mại tại chỗ đến xuất khẩu lao động tay nghề cao. Việc duy trì các kênh đối thoại trực tiếp giữa chính quyền và người dân giúp tháo gỡ kịp thời các khó khăn phát sinh. Chính sách an sinh xã hội phải đóng vai trò là bệ đỡ vững chắc cho các nhóm lao động yếu thế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Việc làm cho người dân trong quá trình đô thị hóa ở quận bắc từ liêm thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. 10 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 1. Việc làm và tác động của quá trình đô thị hoá đến việc làm 1. Việc làm và thất nghiệp 1.1 Việc làm * Về mặt lý luận, hầu như tất cả các học thuyết kinh tế (ở mức độ khác nhau) đều đề cập đến vấn đề việc làm và thất nghiệp.

Kinh tế học cổ điển cho rằng lao động việc làm là nguồn gốc của mọi của cải (của mọi sự giàu có), nhưng người lao động chỉ có việc làm khi việc làm đó đồng thời mang lại thu nhập cho người sử dụng lao động, vậy nên: Tiền công thấp thì có nhiều việc làm, tiền công cao thì có ít việc làm, và tiền công cao là nguyên nhân chính của sự thất nghiệp; thị trường tự điều tiết mối quan hệ này thông qua cung cầu về lao động trên thị trường, không cần sự điều tiết hay sự can thiệp nào về việc làm. Kinh tế học Mác xít cho rằng, về mặt tuyệt đối thi cầu về lao động và việc làm tăng lên cùng với sự gia tăng đầu tư của tư bản (của vốn), nhưng lại giảm xuống một cách tương đối với cấp số ngày càng lớn hơn so với quy mô đầu tư, vì phần đầu tư dành cho tư bản bất biến (c) hay dành cho máy móc thiết bị… nguyên nhiên vật liệu … ngày càng lớn hơn phần dành cho tư bản khả biến (v) hay dành cho lao động nhằm tăng giá trị thặng dư tương đối và tăng lợi nhuận cho nhà tư bản, dẫn đến nạn nhân khẩu thừa tương đối (thiếu việc làm tương đối) hay thất nghiệp; vì vậy việc làm và thất nghiệp luôn là hai mặt của quá trình phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, của kinh tế thị trường và biến động theo các giai đoạn của chu kỳ kinh tế. Kinh tế học hiện đại (chủ yếu là kinh tế học của J.Keynes) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa việc làm với lãi suất và tiền tệ thì cho rằng: Tăng tiền vào lưu thông để giảm lãi suất; lãi suất giảm sẽ hạn chế tiết kiệm tăng tiêu 11 dùng (tăng mức tiêu thụ hàng hóa), lãi suất giảm sẽ làm tăng đầu tư, qua đó mà sản xuất và việc làm được mở rộng. * Về mặt thực tế thì việc làm là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất và những điều kiện cần thiết sử dụng sức lao động đó nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người; sự kết hợp này thể hiện cả về mặt số lượng và chất lượng.

Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận là khi họ làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực Nhà nước và kinh tế tập thể. Trong cơ chế đó, Nhà nước bố trí việc làm cho người lao động từ đầu đến cuối. Cách hiểu tĩnh như vậy không bao hàm hết tất cả các hoạt động khác nhau nhằm tạo ra thu nhập cho bản thân, gia đình người lao động và xã hội mà không bị pháp luật cấm. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, quan niệm về việc làm đã thay đổi căn bản.

Tại Điều 13, chương II Bộ Luật lao động đầu tiên của Việt Nam đã khẳng định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [41, tr. Một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: thứ nhất, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và các thành viên trong gia đình, điều kiện này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập; thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm, điều kiện này thể hiện rõ tính pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường sức lao động trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Hai điều kiện của việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm; vì một hoạt động tạo ra thu nhập nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn lậu, buôn bán phụ nữ, trẻ em,… đều không được công nhận là việc làm.

Mặt khác, một hoạt 12 động dù hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được coi là việc làm. Căn cứ vào khái niệm việc làm như trên, hoạt động được xác định là việc làm bao gồm: - Làm các công việc được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho công việc đó - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên đó sở hữu, quản lý hoặc có quyền sử dụng; hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. - Làm công việc tạo thu nhập cho hộ gia đình mình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho công việc đó, bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hoặc có quyền sử dụng; hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu hoặc quản lý. Với quan niệm việc làm như trên, nội dung của việc làm được mở rộng và tạo ra khả năng to lớn để giải phóng tiềm năng lao động của con người.

Điều này được thể hiện ở hai góc độ: - Thị trường việc làm được mở rộng, bao gồm người lao động của tất cả các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh và cũng không bị hạn chế về mặt không gian trong hay ngoài nước. - Người lao động được tư do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết, tự do thuê mướn lao động theo pháp luật và sự hướng dẫn của Nhà nước để tự tạo việc làm cho mình và thu hút thêm lao động xã hội. Căn cứ vào thời gian thực tế làm việc, nhu cầu làm việc và mức thu nhập, việc làm được chia ra thành các loại như sau: - Việc làm đầy đủ: là việc làm mà nó cho phép người lao động có đủ điều kiện để sử dụng thời gian lao động theo quy định và mang lại thu nhập 13 không thấp hơn mức thu nhập tối thiểu. Nếu không đảm bảo một trong hai yếu tố này thì gọi là bán thất nghiệp.

Tuy nhiên, việc làm đầy đủ chỉ nói lên trạng thái mà mỗi người có khả năng lao động muốn làm việc thì đều có thể tìm được việc làm trong một thời gian nhất định và nói lên về mặt số lượng, chưa tính đến việc làm đó có phù hợp với trình độ, khả năng, sở trường của người lao động hay không. - Việc làm không đầy đủ hay thiếu việc làm: là những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn. Người lao động không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng, làm những công việc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc thêm để có thu nhập. Căn cứ vào tình trạng hoạt động kinh tế thường xuyên trong 12 tháng của những người đủ từ 15 tuổi trở lên, số người hoạt động kinh tế thường xuyên được chia ra làm hai loại: dân số có việc làm thường xuyên và dân số không có việc làm thường xuyên.

Khái niệm việc làm đầy đủ mới chỉ nói lên số lượng việc làm, muốn nói lên chất lượng của việc làm người ta dùng khái niệm việc làm hợp lý - Việc làm hợp lý: là sự thỏa mãn nhu cầu cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân và phù hợp với khả năng, trình độ và nguyện vọng của người lao động. Việc làm hợp lý có năng suất lao động và hiệu quả KT - XH cao hơn so với việc làm đầy đủ. Là sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố con người với điều kiện vật chất của sản xuất và xã hội, giải quyết hợp lý giữa lợi ích cá nhân người lao động với lợi ích của xã hội, là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ. Tại hội nghị quốc tế thứ 13 về Lao động, việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), các nhà thống kê đã đưa ra quan niệm về người có việc làm và người thiếu việc làm như sau: 14 Người có việc làm là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không nhận tiền công hoặc hiện vật.

Người thiếu việc làm là những người có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm. Người thiếu việc làm có hai dạng: Một là, Người thiếu việc làm vô hình: là người có thời gian làm việc tuy đủ hoặc vượt mức chuẩn quy định về đủ số giờ làm việc nhưng việc làm có năng suất, thu nhập thấp, công việc không phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, tuổi tác, sức khỏe,. và họ có nhu cầu tìm kiếm việc làm thêm hoặc việc làm khác; Hai là, Người thiếu việc làm hữu hình: là ngưởi có việc làm nhưng số giờ làm việc trong tuần lễ tham khảo ít hơn mức quy định chuẩn và họ có nhu cầu việc làm thêm. Cả hai dạng thiếu việc làm trên đây đều l vấn đề KT - XH cấp bách mà tổ chức ILO khuyến nghị các nước nên dùng khái niệm người thiếu việc làm hữu hình, còn dạng người thiếu việc làm vô hình rất khó xác định Ở Việt Nam, khái niệm người thiếu việc làm được hiểu là người trong độ tuổi lao động đang có việc làm nhưng thời gian làm việc ít hơn mức chuẩn quy định cho người đủ việc làm.

Hiện nay, ở Việt Nam phổ biến là tình trạng thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình. Thiếu việc làm vô hình phản ảnh sự phân bố không cân đối giữa lao động và các yếu tố sản xuất khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ