Khóa luận phát triển nông nghiệp bền vững tại tỉnh Xaynhabuly, Lào

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững tại tỉnh Xaynhabuly, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nông nghiệp phát triển bền vững ở tỉnh Xaynhabuly

Tỉnh Xaynhabuly sở hữu diện tích tự nhiên rộng 16.389 km2 với tiềm năng nông nghiệp miền núi vượt trội. Hơn 80% dân số toàn tỉnh sinh sống tại khu vực nông thôn. Lực lượng lao động nông nghiệp chiếm gần 79% tổng số lao động địa phương. Ngành nông nghiệp đóng góp khoảng 27% vào cơ cấu GDP quốc gia của Lào. Địa phương có lợi thế lớn về quỹ đất canh tác, rừng đặc dụng và mạng lưới sông ngòi tự nhiên. Đường lối đổi mới và chính sách mở cửa kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng giao thương quốc tế. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại đây vẫn mang nặng tính tự cung tự cấp. Năng suất lao động chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên sẵn có. Phát triển nông nghiệp bền vững trở thành định hướng chiến lược then chốt trong chính sách kinh tế. Mục tiêu cốt lõi là gắn kết khai thác kinh tế với bảo tồn sinh thái và cải thiện đời sống nhân dân. Định hướng này giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng nông thôn và đô thị.

1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Xaynhabuly

Xaynhabuly nằm ở vùng Tây Bắc Lào với địa hình đồi núi xen kẽ các thung lũng màu mỡ. Đất đai nơi đây thích hợp cho việc phát triển cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày và chăn nuôi đại gia súc. Vị trí tiếp giáp đường biên giới mở ra cơ hội giao lưu thương mại hàng hóa nông sản với các nước láng giềng. Dân cư phân bố rải rác trên các sườn đồi, tạo nên nét đặc thù về tập quán canh tác truyền thống. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm nhưng nông nghiệp vẫn giữ vị trí chủ đạo. Thu nhập bình quân của nông dân còn ở mức thấp so với mặt bằng chung cả nước. Việc khai thác tiềm năng địa phương đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về hạ tầng giao thông và dịch vụ kỹ thuật nông thôn.

1.2. Vai trò của phát triển nông nghiệp bền vững tại địa phương

Phát triển bền vững bảo đảm an ninh lương thực lâu dài cho cộng đồng dân cư địa phương. Mục tiêu này thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ độc canh sang sản xuất hàng hóa đa dạng. Quá trình này giúp nâng cao thu nhập thực tế cho các hộ gia đình nông dân miền núi. Bảo vệ tài nguyên đất và nguồn nước hạn chế xói mòn và suy thoái môi trường đất dốc. Nông nghiệp bền vững còn tạo nền tảng vững chắc cho công nghiệp chế biến nông lâm sản trong tương lai. Sự ổn định kinh tế nông thôn góp phần củng cố an ninh trật tự và giảm thiểu di cư tự do. Đây là động lực quan trọng thúc đẩy xóa đói giảm nghèo bền vững.

II. Thực trạng nông nghiệp phát triển bền vững tại tỉnh Xaynhabuly

Thực tế sản xuất nông nghiệp tại Xaynhabuly bộc lộ nhiều hạn chế về hiệu quả kinh tế và tính bền vững. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp còn chậm so với tiềm năng và mặt bằng chung của nhiều tỉnh tại Lào. Diện tích đất hoang hóa và đất trống đồi trọc vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu sử dụng đất. Tình trạng độc canh cây lúa nước và lúa nương diễn ra phổ biến trên quy mô rộng. Các mô hình thí điểm trồng cây công nghiệp ngắn ngày và cây rau màu chưa hình thành vùng chuyên canh tập trung. Nguồn nước tưới tiêu thiếu hụt nghiêm trọng trong mùa khô, gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất thu hoạch. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ nông nghiệp như đường giao thông nội đồng và kênh mương thủy lợi còn rất sơ sài. Dịch vụ khuyến nông và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của nông dân. Đời sống văn hóa, hệ thống y tế và giáo dục tại khu vực nông thôn vẫn còn nhiều thiếu thốn.

2.1. Bất cập trong khai thác và sử dụng tài nguyên nông nghiệp

Công tác quản lý đất đai và rừng tại Xaynhabuly còn nhiều sơ hở và thiếu quy hoạch khoa học. Hiện tượng khai thác tài nguyên rừng bừa bãi làm suy giảm diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn. Đất canh tác dốc bị rửa trôi nghiêm trọng do kỹ thuật canh tác lạc hậu và lạm dụng phương thức đốt nương làm rẫy. Nguồn nước mặt suy giảm dẫn đến tình trạng thiếu nước sinh hoạt và sản xuất vào mùa khô hạn. Việc phân bổ đất sản xuất chưa bảo đảm tính công bằng và cân bằng sinh thái. Sự suy giảm đa dạng sinh học ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phục hồi của hệ sinh thái tự nhiên.

2.2. Hạn chế về kinh tế xã hội và kết cấu hạ tầng nông thôn

Hệ thống giao thông liên xã và đường ra vùng sản xuất chưa được kiên cố hóa, gây khó khăn cho việc vận chuyển nông sản. Thị trường tiêu thụ sản phẩm bấp bênh do thiếu vắng các chuỗi liên kết giá trị và cơ sở chế biến sâu. Tỷ lệ lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo nghề còn rất cao, hạn chế khả năng tiếp thu công nghệ mới. Nông dân thiếu vốn đầu tư sản xuất nhưng khó tiếp cận các nguồn tín dụng chính sách ưu đãi. Tỷ lệ hộ nghèo tại các bản vùng sâu vùng xa vẫn ở mức cao. Khoảng cách phát triển giữa khu vực nông thôn và thị trấn trung tâm ngày càng mở rộng.

III. Giải pháp nông nghiệp phát triển bền vững ở tỉnh Xaynhabuly Lào

Xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững tại Xaynhabuly đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Tỉnh cần đổi mới công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp dựa trên đánh giá thổ nhưỡng và nguồn nước. Việc đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn liền với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Các đơn vị kinh tế quốc doanh nông nghiệp cần được tái cơ cấu theo hướng tự chủ kinh doanh và xóa bỏ bao cấp. Quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp phải dựa trên hợp đồng kinh tế minh bạch, tôn trọng quyền tự chủ sản xuất. Chính quyền địa phương cần giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài cho người lao động để khuyến khích đầu tư thâm canh. Các doanh nghiệp nhà nước tập trung làm tốt khâu dịch vụ cung ứng đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra cho nông dân. Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan về phát triển mạng lưới cơ khí nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch cần được nghiên cứu áp dụng linh hoạt.

3.1. Hoàn thiện chính sách đất đai và đổi mới quản lý kinh tế

Chính quyền tỉnh cần đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân. Quyền sở hữu tư liệu sản xuất hợp pháp tạo động lực để người dân yên tâm cải tạo đất và đầu tư dài hạn. Doanh nghiệp nông nghiệp quốc doanh cần tinh gọn bộ máy quản trị, tăng cường kiểm toán độc lập và nâng cao năng lực cạnh tranh. Cơ chế phân chia lợi nhuận thỏa đáng phải bảo đảm lợi ích kinh tế trực tiếp của người lao động. Nhà nước chuyển sang vai trò hỗ trợ pháp lý, kiểm tra giám sát và cho vay vốn theo hiệu quả dự án.

3.2. Đầu tư hạ tầng thủy lợi và ứng dụng khoa học kỹ thuật

Huy động các nguồn lực tài chính để xây dựng hệ thống đập trữ nước và kênh mương dẫn nước tưới tiêu chủ động. Triển khai chương trình điện khí hóa nông thôn nhằm đưa năng lượng phục vụ cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp. Mở rộng mạng lưới cơ khí nhỏ tại các cụm xã, hỗ trợ nông dân mua sắm máy móc chế tạo trong nước. Đẩy mạnh nghiên cứu cải tạo đất, ứng dụng công nghệ sinh học và chuyển giao các giống lai cho năng suất cao. Đầu tư kho bảo quản sau thu hoạch để giảm tổn thất nông sản và nâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu.

IV. Ứng dụng mô hình nông nghiệp phát triển bền vững tỉnh Xaynhabuly

Việc triển khai các mô hình nông nghiệp bền vững mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho tỉnh Xaynhabuly. Mô hình kết hợp nông lâm nghiệp trên đất dốc giúp phủ xanh đất trống, chống xói mòn đất và tạo sinh kế ổn định. Canh tác lúa cải tiến kết hợp luân canh cây họ đậu và rau màu giúp phục hồi độ phì nhiêu của đất tự nhiên. Các hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò cầu nối tổ chức sản xuất tập trung theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng khô hạn. Thu nhập của nông dân tham gia chuỗi liên kết sản xuất tăng trưởng đều đặn qua từng vụ mùa. Kết quả từ các đề tài khóa luận và nghiên cứu thực địa cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho công tác hoạch định chính sách của tỉnh. Đây là nền tảng vững chắc để Xaynhabuly hiện thực hóa mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn mới.

4.1. Triển khai mô hình canh tác nông lâm kết hợp trên đất dốc

Mô hình nông lâm kết hợp bố trí cây gỗ lớn ở đỉnh đồi xen kẽ cây ăn quả và dải cỏ chống xói mòn theo đường đồng mức. Tầng mặt đất được tận dụng để trồng cây màu ngắn ngày phục vụ nhu cầu lương thực tại chỗ. Kỹ thuật này giữ ẩm cho đất, giảm rửa trôi dinh dưỡng trong mùa mưa và cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho chăn nuôi. Nông dân bản địa dễ dàng tiếp cận và nhân rộng kỹ thuật nhờ chi phí đầu tư ban đầu thấp. Mô hình tạo ra nguồn thu nhập đa dạng từ gỗ, hoa quả và vật nuôi thương phẩm.

4.2. Xây dựng chuỗi giá trị nông sản gắn với thị trường tiêu thụ

Tổ chức liên kết chặt chẽ giữa hộ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến nông sản theo hợp đồng kinh tế. Các bên thống nhất quy trình kỹ thuật gieo trồng, kiểm soát chất lượng và cam kết giá thu mua ổn định. Sản phẩm nông sản địa phương được đăng ký chỉ dẫn địa lý và xây dựng thương hiệu uy tín. Hạ tầng logistic và kho lạnh bảo quản được đầu tư tại trung tâm huyện để kết nối hàng hóa về thủ đô Vientiane và xuất khẩu sang Thái Lan. Chuỗi giá trị khép kín giúp nâng cao vị thế đàm phán của người sản xuất nông nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Kltn nông nghiệp phát triển bền vững ở tỉnh xaynhabuly cộng hoà dân chủ nhân dân lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. LÝ LUẬN VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Nhận thức chung về phát triển bền vững Đời sống của con người bao gồm nhiều hoạt động như kinh tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật. Xã hội càng tiến bộ, thì các hoạt động đó càng phong phú, đa dạng và phát triển ở trình độ cao hơn.

Để sinh tồn con người cần phải ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại và các điều kiện vật chất cần thiết khác. Những thứ này không có sẵn mà con người phải lao động để tạo ra chúng, đó là quá trình sản xuất của cải vật chất. Sản xuất vật chất là sự tác động của con người vào tự nhiên nhằm biến đổi các vật thể của tự nhiên để tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình. Trong quá trình sản xuất vật chất con người sử dụng sức lao động của mình tác động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động để cải biến tự nhiên.

Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất không phải đơn thuần chỉ có quan hệ giữa con người với tự nhiên mà còn phải có mối quan hệ giữa con người với con người, phải có sự tác động qua lại giữa con người với nhau trong sản xuất - mối quan hệ đó gọi là QHSX. Quan hệ sản xuất biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất - đó là quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất (TLSX). Lực lượng sản xuất, QHSX là hai mặt của một phương thức sản xuất (PTSX). PTSX là phương thức khai thác những của cải vật chất (TLSX và tư liệu sinh hoạt) cần thiết cho xã hội có thể tồn tại và phát triển.

Từ buổi sơ khai trong PTSX công xã nguyên thủy, nhu cầu vật chất của con người được khai thác hoàn toàn từ tự nhiên bằng hái lượm và săn bắt. Đến PTSX chiếm hữu nô lệ, PTSX phong kiến trình độ của LLSX có nhiều tiến bộ cùng với nó QHSX cũng biến đổi theo tạo nên một phương 6 thức sản xuất tiến bộ hơn. Đến chủ nghĩa Tư bản, LLSX có sự phát triển vượt bậc, con người đã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ đã tạo ra “một đống hàng hóa khổng lồ", đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú đa dạng của con người nhưng PTSX này dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về TLSX, bóc lột lao động làm thuê nhằm thu được nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản cho nên nó kìm hãm sự phát triển, tất yếu sẽ bị thay thế. Sản xuất ngày nay dù tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người do ứng dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật với việc khai thác các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ngày càng hiệu quả.

Nhưng cũng chính từ sự phát triển đó đã nảy sinh nhiều thách thức mới, nhiều quốc gia đã quá tập trung cho tăng trưởng kinh tế nên đã bỏ qua các yếu tố liên quan đến môi trường, thiếu sự tôn trọng sự bền vững nuôi trường khi ứng dụng kỹ thuật mới cho nên đã khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách quá mức, dẫn đến hệ sinh thái bị mất cân đối nghiêm trọng, khí hậu thay đổi theo hướng bất lợi cho sản xuất và cuộc sống, làm cho chất lượng cuộc sống của con người ngày càng giảm sút, mất công bằng xã hội ngày càng sâu sắc. Đã có rất nhiều bài học cho các nước quá coi trọng tăng trưởng kinh tế nhanh, tạo được sự bứt phá lớn về kinh tế, nhưng phải trả giá đắt về việc làm cạn kiệt và suy thoái môi trường. Trung Quốc là một ví dụ: Trung Quốc hiện có 16 trong 20 đô thị ô nhiễm nhất thế giới. Mưa axít rơi trên ¼ lãnh thổ Trung Quốc làm giảm năng suất mùa màng và xói mòn các công trình xây dựng, đất đai cũng ô nhiễm.

Phá rừng song song với khai thác quá mức đồng cỏ để chăn nuôi súc vật và canh tác đã biến các vùng ở Đông bắc Trung Quốc thành sa mạc. Cục lâm vụ Trung Quốc ước lượng là hiện tượng sa mạc hóa đã biến 400 triệu dân thành người tị nạn môi sinh, phải tìm kiếm nơi ở mới. Đất đai bị ô nhiễm cũng gây lo ngại về an toàn thực phẩm. Vào những năm cuối của thế kỷ XX, con người đã bắt đầu nhận ra 7 rằng chúng ta không thể có được một xã hội hay một nền kinh tế lành mạnh trong một thế giới có quá nhiều sự thách thức và bất lợi: Nạn đói nghèo sản xuất ngày càng khó khăn, tái sản xuất mở rộng có nhiều lực cản, tình trạng ô nhiễm môi trường, xói mòn đất, nhiễm mặn, úng ngập, mất độ màu mỡ của đất ngày càng tăng lên.

Mặt khác, trên lĩnh vực xã hội cũng có nhiều vấn đề như phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng, mất công bằng xã hội. Đã làm cho sản xuất và cuộc sống nhân loại ngày càng gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết vấn nạn này đòi hỏi con người phải xem xét lại hành vi của mình trong quá trình tồn tại và phát triển, phải tìm ra cách thức phát triển kinh tế xã hội một cách hài hòa vừa đảm bảo cuộc sống hiện tại vừa đảm bảo ổn định cho tương lai; vừa phát triển kinh tế nhanh, mạnh nhưng vẫn phải đảm bảo tốt môi trường sinh thái, đảm bảo công bằng xã hội. Từ đó vấn đề phát triển bền vững được nghiên cứu và trở thành định hướng phát triển của nhân loại.

Phát triển bền vững là một khái niệm, xuất hiện trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới từ trước đến nay, phản ánh xu thế của thời đại và định hướng tương lai của loài người. Nó xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên thế giới (IUCN) công bố với nội dung rất đơn giản: "sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" [9, tr. Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định: phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt phát triển gồm phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế); phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, XĐGN và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống 8 cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là: sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm; bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống.

Từ đó có thể hiểu phát triển bền vững là kiểu phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại, vừa không ảnh hưởng xấu đến khả năng phát triển của các thế hệ tương lai; là sự phát triển kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và môi trường sinh thái nhằm làm cho cuộc sống của con người tốt đẹp hơn. Sự phát triển hài hòa trong phát triển bền vững thể hiện: kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao ổn định trong thời gian dài tất yếu kéo theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đến lượt chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực sẽ dẫn đến cơ cấu ngành nghề thay đổi (xuất hiện ngành nghề mới, làm việc mới) thay đổi kết cấu dân cư…Bản thân phát triển bền vững về kinh tế đã bao hàm cả phát triển bền vững xã hội. Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau.

Theo đó, phát triển bền vững gồm 3 nội dung cơ bản sau: Một là, phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi đảm bảo kết hợp hài hòa, hợp lý giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu phát triển văn hóa - xã hội trong đó xác lập được sự cân đối giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các nguồn lực con người, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ thân thiện với môi trường. Hai là, phát triển bền vững về xã hội là sự phát triển trong đó trước mắt xã hội có nền kinh tế tăng trưởng và ổn định gắn liền với xây dựng chế độ dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế và 9 phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong toàn xã hội. Ba là, phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường là sự phát triển trong đó các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được sử dụng trong phạm vi cho phép và có khả năng khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo được phải sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất. Khái niệm và nội dung về nông nghiệp phát triển bền vững - Khái niệm: Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng.

Trồng trọt và chăn nuôi tạo ra sản phẩm nông nghiệp còn bao gồm cả một số loại việc sơ chế sản phẩm của ngành trồng trọt và chăn nuôi (nếu như những công việc này không tách ra thành những ngành công nghiệp độc lập) ở một số nước nông nghiệp còn bao gồm cả lâm nghiệp. Nông nghiệp sản xuất thực phẩm cho người, nguyên liệu cho rất nhiều ngành công nghiệp (thực phẩm, thức ăn gia súc tổng hợp, dệt, dược liệu, hương liệu v.) tái sản xuất sức kéo (nuôi ngựa, nuôi bò v. Trong nông nghiệp có các ngành trồng trọt (trồng lúa, trồng rau, trồng hoa quả v.) ngành chăn nuôi. Sự kết hợp đúng đắn giữa 2 ngành này sẽ bảo đảm sử dụng hợp lý các nguồn vật tư và lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ