Chương 1: Khái quát về thành phố Uông Bí trước năm 1986 Chương 2: Kinh tế thành phố Uông Bí từ năm 1986 đến năm 2013 Chương 3: Xã hội thành phố Uông Bí từ năm 1986 đến năm 2013 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TRƢỚC NĂM 1986 1. Vài nét về lịch sử hình thành Các di chỉ khảo cổ học được tìm thấy ở phường Phương Nam cho thấy, Uông Bí là vùng đất cổ, từ xa xưa đã có người cư trú. Từ thủa xưa người Uông Bí vốn là cư dân của bộ lạc Ninh Hải, cùng với các bộ lạc anh em khác khai sơn lập địa dựng lên đất nước Văn Lang của Vua Hùng. Tên gọi Uông Bí xuất phát từ tên gọi của các làng Bí và làng Thượng.
Kể từ khi triều Nguyễn bán mỏ Uông Bí cho một số tư sản người Hoa, và sau đó là thực dân Pháp chiếm và khai thác than, dân cư nơi đây ngày càng trở nên đông đúc. Trong thời kỳ Pháp thuộc, sau khi có mỏ Vàng Danh, ở cửa sông Uông nơi giáp ranh giữa các làng Uông là Uông Thượng, Uông Hạ, và các làng Bí là Bí Thượng, Bí Trung, Bí Hạ, Bí Chợ có trụ sở công ty than Ðông Triều, trạm thuê đoan, nhà máy điện, xưởng cơ khí. Nên dân cư đông đúc tạo nên phố Uông Bí. Tháng 2 năm 1955 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng gồm tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hòn Gai.
Thị trấn Uông Bí thuộc huyện Yên Hưng, sau khi được giải phóng khoảng cuối năm 1955 đổi thành xã Uông Bí thuộc huyện Yên Hưng khu Hồng Quảng. “Đến năm 1960 - 1961, Uông Bí vẫn còn là một xã nông nghiệp nhỏ bé chỉ có 3 dãy phố nhỏ với những ngôi nhà lụp xụp, cùng với hệ thống lô cốt chằng chịt dây thép gai và những đống gạch vỡ, sắt vụn, le cỏ mọc đầy .Toàn xã có hơn 3000 dân với 2 dân tộc Kinh và Hoa” [20, tr. Khi ta được vào tiếp quản Uông Bí được gọi là thị trấn: “Phía tây bắc giáp huyện Yên Hưng, nam theo chiều dọc đường quốc lộ 18A, phía tây giáp xã Yên Thanh, đông nam giáp xã Đông Mai, bắc giáp rừng núi, rộng 504000 m², dân số là 2031 người, gồm 1447 người Việt Nam và 584 người Hoa Kiều” [36, tr. Tháng 4 năm 1961, khu Hồng Quảng đề nghị Hội đồng chính phủ thành lập thị xã Uông Bí.
Ngày 28 tháng 10 năm 1961, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 180/CP thành lập thị xã Uông Bí và đặt trực thuộc khu Hồng Quảng. Thị xã Uông Bí gồm có: xã Uông Bí cũ, cảng Điền Công và hai thôn Lạc Trung, Đồng Nối của xã Yên Thanh thuộc huyện Yên Hưng. Ngày 26-2-1966, Bộ Nội vụ ra quyết định 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 51/NV, phê chuẩn thành lập xã Đồng Tiến thuộc thị xã Uông Bí, bao gồm có: các thôn, xóm Thượng Mộ Công, Lạc Trung, Đồng Nối, Đồng Vỡ, Cầu Gẫy, Hang Hùm, Đá Cổng, Bãi Soi, Khe Ngát, đồi cà phê. Ngày 26-9-1966, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 184/CP, đặt xã Thượng Yên Công, xã Phương Đông và thôn Chạp Khê huyện Yên Hưng thuộc thị xã Uông Bí.
Ngày 28-9-1966, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 308/NV, phê chuẩn thành lập xã Nam Khê thuộc thị xã Uông Bí, gồm có các thôn: Chạp Khê, Đồng Mương, Nam Khê, Trần Phú (nguyên của thị xã Uông Bí). Ngày 18-3-1969, Bộ Nội vụ ra Quyết định 142/NV: Thành lập thị trấn Vàng Danh (gồm khu mỏ Vàng Danh và hai thôn Uông Thượng và Miếu Thán của xã Thượng Yên Công cắt sang), trực thuộc thị xã Uông Bí. Thành lập xã Phương Nam (gồm các HTX khai hoang ven sông Đá Bạc có sáu thôn: Hiệp An, Phong Thái, Hồng Hải, Hiệp Thanh, Hiệp Thái và Phương Hải) thuộc thị xã Uông Bí. Ngày 10/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 63 HĐBT, giải thể thị trấn Vàng Danh, thành lập phường Vàng Danh; giải thể xã Đồng Tiến để sáp nhập vào phường Bắc Sơn và phường Quang Trung.
Ngày 25-8-1999, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 83/CP, thành lập phường Yên Thanh trên cơ sở tách một phần của xã Phương Đông và một phần phường Thanh Sơn. Giải thể xã Nam Khê, thành lập phường Nam Khê thuộc thị xã Uông Bí. Ngày 25-2-2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 12/NQ-CP thành lập thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Uông Bí Ngày 28-11-2013, Chính Phủ đã ban hành quyết định số 2306/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh là đô thị loại II. Thành phố Uông Bí được công nhận là đô thị loại II là sự kiện chính trị trọng đại, bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của vùng đất Uông Bí và của tỉnh Quảng Ninh, là niềm tự hào, động viên khích lệ cán bộ, đảng viên, nhân dân thành phố tập trung nguồn lực xây dựng thành phố Uông Bí giàu đẹp, văn minh, xứng tầm là đô thị trung tâm miền Tây của tỉnh Quảng Ninh, góp phần đưa tỉnh Quảng Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015.
8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Vị trí địa lý Uông Bí là thành phố nằm phía tây nam tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ địa lý từ 21º01'20'' đến 21°10'20'' vĩ bắc và từ 106º43'20'' đến 106°54'50'' kinh đông. Cách thủ đô Hà Nội 120km, cách Hải Phòng gần 30km và cách thành phố Hạ Long 40km. Địa giới hành chính thành phố Uông Bí phía đông giáp huyện Hoành Bồ, phía đông nam giáp huyện Yên Hưng, phía tây giáp huyện Đông Triều, phía bắc giáp huyện Sơn Động (Bắc Giang), phía nam giáp huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng).
Điều kiện tự nhiên Uông Bí có diện tích tự nhiên là 25630,77 ha, trong đó hơn 2/3 là đất đồi núi, đất nông nghiệp có 3392ha. Đất canh tác là 1873,912ha, với diện tích đất gieo trồng là 3114ha. Đất lâm nghiệp có 11830 ha trong đó rừng tự nhiên là 5790ha. 2] Về địa hình: Uông Bí nằm trong dải cánh cung Đông Triều - Móng Cái, chạy dài theo hướng Tây – Đông; kiến tạo địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam.
Phía Bắc cao nhất là núi Yên Tử với độ cao 1.068km, núi Bảo Đài cao 875km, phía Nam thấp nhất là vùng bãi bồi, trũng ngập nước ven sông Đá Bạc. Thành phố Uông Bí với 2/3 diện tích là đồi núi dốc nghiêng từ phía Bắc xuống phía Nam và được phân tách thành 3 vùng rõ rệt: Vùng rừng núi cao phía bắc gồm xã Thượng Yên Công và hai phường Vàng Danh, Bắc Sơn chiếm 48% diện tích toàn thành phố. Vùng rừng núi thấp mang tính trung du, chạy dọc theo ven đường 18 bao gồm: Xã Điền Công và các phường: Phương Đông, Nam Khê, Thanh Sơn, Quang Trung, Trưng Vương, Yên Thanh, chiếm 44% diện tích toàn thành phố. Vùng đất trũng mới khai phá là phường Yên Thanh và Phương Nam chiếm 7,4% diện tích đất toàn thành phố.
Là một thành phố nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, nên nhìn chung mạng lưới giao thông ở Uông Bí tương đối phát triển. Quốc lộ số 18A, 18B, đường 10 là con đường giao thông huyết mạch của Thành phố. Nối liền Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh duyên hải Bắc bộ với thành phố Hạ Long, trung tâm kinh tế - du lịch - thương mại của tỉnh Quảng Ninh và cửa khẩu quốc tế Móng Cái. Từ phía đông sang phía tây có đường xe lửa quốc gia đi qua, từ phía bắc xuống phía nam có đường xe 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ lửa chở than từ Vàng Danh ra cảng Điền Công.
Phía nam có sông Bạch Đằng, sông Uông, sông Sinh bắt nguồn từ phía bắc chảy qua thành phố nối vào sông Bạch Đằng, thuyền bè có thể đi từ Uông Bí ra Thị xã Yên Hưng và thành phố cảng Hải Phòng thuận lợi. Uông Bí có nhiều suối nhưng ngắn và có độ dốc cao. Ở vị thế địa chính trị có lợi về giao thông đường bộ, đường thủy và đường sắt Uông Bí có vị trí chiến lược về kinh tế và quốc phòng. Cảng Bạch Thái Bưởi nằm trên cửa sông Bạch Đằng với diện tích khu bến 0,8ha, thuyền và xà lan 200-300 tấn có thể ra vào được.
Đây là cảng trung chuyển, chuyên dùng để nhập hóa chất, thuốc nổ. Cảng Điền Công nằm trên cửa sông Bạch Đằng, gồm 2 cầu cảng 120m và 80m, rộng 18m, diện tích bến cảng và kho chứa than rộng 25ha, với công suất trên 5 triệu tấn/năm, độ sâu 6,5m, có khả năng cho tàu 5.000 tấn cấp bến nhưng hiện nay luồng lạch cửa sông bị bồi đắp nên chỉ có tàu và xà lan 400 - 600 tấn ra vào được, sử dụng chủ yếu cho xuất than và nhập vật tư, gỗ trụ mỏ. Cảng Sông Hang Mai-Phương Nam là cảng chuyên dùng của Công ty Xi măng Xây dựng Quảng Ninh, cảng này chuyên dùng để cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất và tiêu thụ xi măng [1, tr. Về khí hậu: Do vị trí địa lý và địa hình nằm trong cánh cung Đông Triều – Móng Cái, có nhiều dãy núi cao ở phía Bắc và thấp dần xuống phía Nam đã tạo cho Uông Bí một chế độ khí hậu đa dạng, phức tạp vừa mang tính chất khí hậu miền núi vừa mang tính chất khí hậu miền duyên hải.
Nhiệt độ trung bình năm là 22,20C. Uông Bí cách biển không xa, phía bắc tựa lưng vào dãy núi Yên Tử che chắn nên lượng mưa tương đối lớn, trung bình hàng năm là 1842mm, mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8 trong năm, số ngày có mưa khoảng 153 ngày độ ẩm trung bình là 81%, độ ẩm thấp nhất là khoảng 50,8%. Nhiệt độ trung bình năm là 24ºC. Tài nguyên thiên nhiên Về đất đai: Đất đai ở Uông Bí có nhiều loại nhóm đất mặn hình thành từ những sản phẩm phù sa sông, biển được lắng đọng trong môi trường nước biển, phân bố ở Phương Nam, Phương Đông, Yên Thanh, Quang Trung, Trưng Vương.
Đất mặn sú vẹt đước phân bố ở Phương Nam, Phương Đông, Yên Thanh, Quang Trung, Trưng Vương. Đây là loại đất tốt, độ phì thực tế cao, thích hợp với phần lớn rừng ngập mặn 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên để đạt hiệu quả kinh tế cao khi bố trí nuôi trồng thủy sản cần có chính sách trồng rừng phòng hộ ven đê, giao rừng đến từng hộ quản lý.