Luận văn: Kinh tế, xã hội thành phố Uông Bí (Quảng Ninh) từ 1986 đến 2013

Tài liệu nghiên cứu chi tiết về sự phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Uông Bí, Quảng Ninh trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2013.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Nhân văn

2015

112
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái quát về thành phố Uông Bí trước năm 1986

Thành phố Uông Bí là một trong những trung tâm công nghiệp quan trọng của Quảng Ninh, với lịch sử phát triển gắn liền với khai thác than đá. Trước năm 1986, kinh tế Uông Bí chủ yếu dựa vào hoạt động khai thác mỏ than và một số ngành nghề phụ trợ. Vị trí địa lý của thành phố nằm ở phía tây của tỉnh Quảng Ninh, với điều kiện tự nhiên có núi cao, sông suối, tạo nên một môi trường phát triển kinh tế độc đáo. Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là các mỏ than chất lượng cao, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành công nghiệp nặng. Dân cư thành phố Uông Bí bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, sống cùng nhau trong một cộng đồng có truyền thống đấu tranh cách mạng lâu đời.

1.1. Hình thành và phát triển lịch sử

Thành phố Uông Bí được hình thành từ những hoạt động khai thác than đá từ cuối thế kỷ XIX. Sự phát triển ban đầu của kinh tế xã hội Uông Bí gắn liền với sự khai thác tài nguyên và xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp. Trong giai đoạn trước năm 1986, kinh tế chủ yếu hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, với sản xuất than đá là ngành chủ yếu.

1.2. Vị trí địa lý và tài nguyên

Vị trí chiến lược của Uông Bí Quảng Ninh giữa các tuyến giao thông chính tạo lợi thế phát triển. Tài nguyên thiên nhiên phong phú bao gồm mỏ than, các loại khoáng sản khác. Điều kiện tự nhiên với địa hình núi non, sông suối cung cấp nguồn nước và điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp địa phương.

II. Phát triển kinh tế từ 1986 đến 2013

Giai đoạn từ 1986 đến 2013 là thời kỳ đổi mới kinh tế xã hội của Việt Nam, trong đó Uông Bí trải qua những biến đổi sâu sắc. Sự thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra cơ hội phát triển mới cho thành phố. Kinh tế Uông Bí chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các ngành sản xuất chủ yếu bao gồm công nghiệp than, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ. Trong giai đoạn này, thành phố đã phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính ngân hàng, và tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế đa ngành. Sản xuất công nghiệp không chỉ tập trung vào than đá mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác như xây dựng, tiểu thủ công nghiệp.

2.1. Ngành công nghiệp và khai thác mỏ

Công nghiệp Uông Bí tiếp tục dựa vào khai thác than, nhưng với các phương pháp hiện đại hơn. Sản lượng than được tăng cường thông qua cơ chế thị trường và quản lý hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, các tiểu thủ công nghiệp phát triển để xử lý và chế biến sản phẩm than, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế địa phương.

2.2. Nông nghiệp lâm nghiệp và ngư nghiệp

Nông nghiệp Uông Bí được phát triển dựa trên các chính sách hỗ trợ nông dân. Lâm nghiệp phát triển qua các chương trình trồng rừng. Ngư nghiệp ở khu vực沿海được khuyến khích phát triển, tạo thêm nguồn sống cho cộng đồng dân cư.

III. Phát triển xã hội và chất lượng cuộc sống

Song song với phát triển kinh tế Uông Bí, lĩnh vực xã hội Uông Bí cũng chứng kiến những tiến bộ đáng kể từ 1986 đến 2013. Giáo dục đào tạo được đầu tư mạnh mẽ với sự thành lập các trường học từ tiểu học đến trung học phổ thông. Hệ thống y tế được hoàn thiện với các cơ sở y tế cơ bản ở các xã, phường. Văn hóa thông tin thể thao phát triển qua các hoạt động cộng đồng và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. Thu nhập đời sống của nhân dân được cải thiện nhờ sự phát triển kinh tế và các chính sách xã hội. Lao động và việc làm được tạo ra thông qua sự phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ. Chính sách xã hội được thực hiện để đảm bảo an sinh xã hội cho các đối tượng chính sách.

3.1. Giáo dục y tế và văn hóa

Giáo dục Uông Bí phát triển qua sự mở rộng mạng lưới các trường học và cải thiện chất lượng giáo dục. Y tế Uông Bí được tăng cường với các dịch vụ khám chữa bệnh. Hoạt động văn hóa thông tin được đa dạng hóa qua các chương trình truyền hình, báo chí địa phương, hoạt động thể thao cộng đồng.

3.2. Lao động thu nhập và an sinh xã hội

Lao động Uông Bí được tạo ra thông qua sự phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm bớt áp lực thất nghiệp. Thu nhập đời sống của cư dân tăng lên nhờ các cơ hội việc làm mới. Các chính sách xã hội bao gồm hỗ trợ người lao động, chính sách lương hưu, được thực hiện nhằm đảm bảo đời sống cơ bản cho nhân dân.

IV. Đánh giá tổng thể sự phát triển 1986 2013

Giai đoạn 27 năm từ 1986 đến 2013 đại diện cho một sự chuyển đổi cơ bản của kinh tế xã hội Uông Bí. Thành phố đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, với sự tham gia ngày càng tăng của khu vực tư nhân. Phát triển kinh tế Uông Bí đạt được những kết quả đáng kể trong ngành công nghiệp than, nhưng cũng đối mặt với các thách thức về môi trường và sự bền vững. Xã hội Uông Bí được cải thiện đáng kể về các chỉ số giáo dục, y tế, và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, sự phát triển không đều giữa các khu vực, và các vấn đề về môi trường vẫn cần được giải quyết. Thành phố Uông Bí đã đặt nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong các giai đoạn tiếp theo.

4.1. Những thành tựu chính

Kinh tế Uông Bí đạt được sự tăng trưởng ổn định, với GDP tăng lên đáng kể. Cơ sở hạ tầng được hoàn thiện, bao gồm đường xá, cơ sở năng lượng, hệ thống viễn thông. Đội ngũ lao động được đào tạo tốt hơn, hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp. Chất lượng cuộc sống của nhân dân được cải thiện đáng kể.

4.2. Những thách thức và hướng phát triển tương lai

Vấn đề môi trường vẫn là thách thức lớn do hoạt động khai thác than. Sự phát triển không cân bằng giữa các khu vực cần được khắc phục. Tiêu dùng năng lượng cần được quản lý bền vững hơn. Các chính sách phát triển trong tương lai nên tập trung vào tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát về thành phố Uông Bí trước năm 1986 Chương 2: Kinh tế thành phố Uông Bí từ năm 1986 đến năm 2013 Chương 3: Xã hội thành phố Uông Bí từ năm 1986 đến năm 2013 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TRƢỚC NĂM 1986 1. Vài nét về lịch sử hình thành Các di chỉ khảo cổ học được tìm thấy ở phường Phương Nam cho thấy, Uông Bí là vùng đất cổ, từ xa xưa đã có người cư trú. Từ thủa xưa người Uông Bí vốn là cư dân của bộ lạc Ninh Hải, cùng với các bộ lạc anh em khác khai sơn lập địa dựng lên đất nước Văn Lang của Vua Hùng. Tên gọi Uông Bí xuất phát từ tên gọi của các làng Bí và làng Thượng.

Kể từ khi triều Nguyễn bán mỏ Uông Bí cho một số tư sản người Hoa, và sau đó là thực dân Pháp chiếm và khai thác than, dân cư nơi đây ngày càng trở nên đông đúc. Trong thời kỳ Pháp thuộc, sau khi có mỏ Vàng Danh, ở cửa sông Uông nơi giáp ranh giữa các làng Uông là Uông Thượng, Uông Hạ, và các làng Bí là Bí Thượng, Bí Trung, Bí Hạ, Bí Chợ có trụ sở công ty than Ðông Triều, trạm thuê đoan, nhà máy điện, xưởng cơ khí. Nên dân cư đông đúc tạo nên phố Uông Bí. Tháng 2 năm 1955 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng gồm tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hòn Gai.

Thị trấn Uông Bí thuộc huyện Yên Hưng, sau khi được giải phóng khoảng cuối năm 1955 đổi thành xã Uông Bí thuộc huyện Yên Hưng khu Hồng Quảng. “Đến năm 1960 - 1961, Uông Bí vẫn còn là một xã nông nghiệp nhỏ bé chỉ có 3 dãy phố nhỏ với những ngôi nhà lụp xụp, cùng với hệ thống lô cốt chằng chịt dây thép gai và những đống gạch vỡ, sắt vụn, le cỏ mọc đầy .Toàn xã có hơn 3000 dân với 2 dân tộc Kinh và Hoa” [20, tr. Khi ta được vào tiếp quản Uông Bí được gọi là thị trấn: “Phía tây bắc giáp huyện Yên Hưng, nam theo chiều dọc đường quốc lộ 18A, phía tây giáp xã Yên Thanh, đông nam giáp xã Đông Mai, bắc giáp rừng núi, rộng 504000 m², dân số là 2031 người, gồm 1447 người Việt Nam và 584 người Hoa Kiều” [36, tr. Tháng 4 năm 1961, khu Hồng Quảng đề nghị Hội đồng chính phủ thành lập thị xã Uông Bí.

Ngày 28 tháng 10 năm 1961, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 180/CP thành lập thị xã Uông Bí và đặt trực thuộc khu Hồng Quảng. Thị xã Uông Bí gồm có: xã Uông Bí cũ, cảng Điền Công và hai thôn Lạc Trung, Đồng Nối của xã Yên Thanh thuộc huyện Yên Hưng. Ngày 26-2-1966, Bộ Nội vụ ra quyết định 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 51/NV, phê chuẩn thành lập xã Đồng Tiến thuộc thị xã Uông Bí, bao gồm có: các thôn, xóm Thượng Mộ Công, Lạc Trung, Đồng Nối, Đồng Vỡ, Cầu Gẫy, Hang Hùm, Đá Cổng, Bãi Soi, Khe Ngát, đồi cà phê. Ngày 26-9-1966, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 184/CP, đặt xã Thượng Yên Công, xã Phương Đông và thôn Chạp Khê huyện Yên Hưng thuộc thị xã Uông Bí.

Ngày 28-9-1966, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 308/NV, phê chuẩn thành lập xã Nam Khê thuộc thị xã Uông Bí, gồm có các thôn: Chạp Khê, Đồng Mương, Nam Khê, Trần Phú (nguyên của thị xã Uông Bí). Ngày 18-3-1969, Bộ Nội vụ ra Quyết định 142/NV: Thành lập thị trấn Vàng Danh (gồm khu mỏ Vàng Danh và hai thôn Uông Thượng và Miếu Thán của xã Thượng Yên Công cắt sang), trực thuộc thị xã Uông Bí. Thành lập xã Phương Nam (gồm các HTX khai hoang ven sông Đá Bạc có sáu thôn: Hiệp An, Phong Thái, Hồng Hải, Hiệp Thanh, Hiệp Thái và Phương Hải) thuộc thị xã Uông Bí. Ngày 10/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 63 HĐBT, giải thể thị trấn Vàng Danh, thành lập phường Vàng Danh; giải thể xã Đồng Tiến để sáp nhập vào phường Bắc Sơn và phường Quang Trung.

Ngày 25-8-1999, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 83/CP, thành lập phường Yên Thanh trên cơ sở tách một phần của xã Phương Đông và một phần phường Thanh Sơn. Giải thể xã Nam Khê, thành lập phường Nam Khê thuộc thị xã Uông Bí. Ngày 25-2-2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 12/NQ-CP thành lập thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Uông Bí Ngày 28-11-2013, Chính Phủ đã ban hành quyết định số 2306/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh là đô thị loại II. Thành phố Uông Bí được công nhận là đô thị loại II là sự kiện chính trị trọng đại, bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của vùng đất Uông Bí và của tỉnh Quảng Ninh, là niềm tự hào, động viên khích lệ cán bộ, đảng viên, nhân dân thành phố tập trung nguồn lực xây dựng thành phố Uông Bí giàu đẹp, văn minh, xứng tầm là đô thị trung tâm miền Tây của tỉnh Quảng Ninh, góp phần đưa tỉnh Quảng Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015.

8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Vị trí địa lý Uông Bí là thành phố nằm phía tây nam tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ địa lý từ 21º01'20'' đến 21°10'20'' vĩ bắc và từ 106º43'20'' đến 106°54'50'' kinh đông. Cách thủ đô Hà Nội 120km, cách Hải Phòng gần 30km và cách thành phố Hạ Long 40km. Địa giới hành chính thành phố Uông Bí phía đông giáp huyện Hoành Bồ, phía đông nam giáp huyện Yên Hưng, phía tây giáp huyện Đông Triều, phía bắc giáp huyện Sơn Động (Bắc Giang), phía nam giáp huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng).

Điều kiện tự nhiên Uông Bí có diện tích tự nhiên là 25630,77 ha, trong đó hơn 2/3 là đất đồi núi, đất nông nghiệp có 3392ha. Đất canh tác là 1873,912ha, với diện tích đất gieo trồng là 3114ha. Đất lâm nghiệp có 11830 ha trong đó rừng tự nhiên là 5790ha. 2] Về địa hình: Uông Bí nằm trong dải cánh cung Đông Triều - Móng Cái, chạy dài theo hướng Tây – Đông; kiến tạo địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam.

Phía Bắc cao nhất là núi Yên Tử với độ cao 1.068km, núi Bảo Đài cao 875km, phía Nam thấp nhất là vùng bãi bồi, trũng ngập nước ven sông Đá Bạc. Thành phố Uông Bí với 2/3 diện tích là đồi núi dốc nghiêng từ phía Bắc xuống phía Nam và được phân tách thành 3 vùng rõ rệt: Vùng rừng núi cao phía bắc gồm xã Thượng Yên Công và hai phường Vàng Danh, Bắc Sơn chiếm 48% diện tích toàn thành phố. Vùng rừng núi thấp mang tính trung du, chạy dọc theo ven đường 18 bao gồm: Xã Điền Công và các phường: Phương Đông, Nam Khê, Thanh Sơn, Quang Trung, Trưng Vương, Yên Thanh, chiếm 44% diện tích toàn thành phố. Vùng đất trũng mới khai phá là phường Yên Thanh và Phương Nam chiếm 7,4% diện tích đất toàn thành phố.

Là một thành phố nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, nên nhìn chung mạng lưới giao thông ở Uông Bí tương đối phát triển. Quốc lộ số 18A, 18B, đường 10 là con đường giao thông huyết mạch của Thành phố. Nối liền Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh duyên hải Bắc bộ với thành phố Hạ Long, trung tâm kinh tế - du lịch - thương mại của tỉnh Quảng Ninh và cửa khẩu quốc tế Móng Cái. Từ phía đông sang phía tây có đường xe lửa quốc gia đi qua, từ phía bắc xuống phía nam có đường xe 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ lửa chở than từ Vàng Danh ra cảng Điền Công.

Phía nam có sông Bạch Đằng, sông Uông, sông Sinh bắt nguồn từ phía bắc chảy qua thành phố nối vào sông Bạch Đằng, thuyền bè có thể đi từ Uông Bí ra Thị xã Yên Hưng và thành phố cảng Hải Phòng thuận lợi. Uông Bí có nhiều suối nhưng ngắn và có độ dốc cao. Ở vị thế địa chính trị có lợi về giao thông đường bộ, đường thủy và đường sắt Uông Bí có vị trí chiến lược về kinh tế và quốc phòng. Cảng Bạch Thái Bưởi nằm trên cửa sông Bạch Đằng với diện tích khu bến 0,8ha, thuyền và xà lan 200-300 tấn có thể ra vào được.

Đây là cảng trung chuyển, chuyên dùng để nhập hóa chất, thuốc nổ. Cảng Điền Công nằm trên cửa sông Bạch Đằng, gồm 2 cầu cảng 120m và 80m, rộng 18m, diện tích bến cảng và kho chứa than rộng 25ha, với công suất trên 5 triệu tấn/năm, độ sâu 6,5m, có khả năng cho tàu 5.000 tấn cấp bến nhưng hiện nay luồng lạch cửa sông bị bồi đắp nên chỉ có tàu và xà lan 400 - 600 tấn ra vào được, sử dụng chủ yếu cho xuất than và nhập vật tư, gỗ trụ mỏ. Cảng Sông Hang Mai-Phương Nam là cảng chuyên dùng của Công ty Xi măng Xây dựng Quảng Ninh, cảng này chuyên dùng để cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất và tiêu thụ xi măng [1, tr. Về khí hậu: Do vị trí địa lý và địa hình nằm trong cánh cung Đông Triều – Móng Cái, có nhiều dãy núi cao ở phía Bắc và thấp dần xuống phía Nam đã tạo cho Uông Bí một chế độ khí hậu đa dạng, phức tạp vừa mang tính chất khí hậu miền núi vừa mang tính chất khí hậu miền duyên hải.

Nhiệt độ trung bình năm là 22,20C. Uông Bí cách biển không xa, phía bắc tựa lưng vào dãy núi Yên Tử che chắn nên lượng mưa tương đối lớn, trung bình hàng năm là 1842mm, mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8 trong năm, số ngày có mưa khoảng 153 ngày độ ẩm trung bình là 81%, độ ẩm thấp nhất là khoảng 50,8%. Nhiệt độ trung bình năm là 24ºC. Tài nguyên thiên nhiên Về đất đai: Đất đai ở Uông Bí có nhiều loại nhóm đất mặn hình thành từ những sản phẩm phù sa sông, biển được lắng đọng trong môi trường nước biển, phân bố ở Phương Nam, Phương Đông, Yên Thanh, Quang Trung, Trưng Vương.

Đất mặn sú vẹt đước phân bố ở Phương Nam, Phương Đông, Yên Thanh, Quang Trung, Trưng Vương. Đây là loại đất tốt, độ phì thực tế cao, thích hợp với phần lớn rừng ngập mặn 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên để đạt hiệu quả kinh tế cao khi bố trí nuôi trồng thủy sản cần có chính sách trồng rừng phòng hộ ven đê, giao rừng đến từng hộ quản lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ