Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TỈNH ĐỒNG NAI 1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại tỉnh Đồng Nai 1. Quan niệm, vai trò và các loại hình kinh tế trang trại * Quan niệm về trang trại và kinh tế trang trại Quan niệm về trang trại Trang trại là thuật ngữ gắn liền với hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trên một diện tích đủ lớn với quy mô gia đình là chủ yếu để tạo ra sản phẩm hàng hoá cung cấp cho xã hội phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường. Trang trại ngày nay có nhiều mặt cùng tồn tại: Về mặt kinh tế, nói lên các hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm hàng hoá đem lại thu nhập cao và nhiều lợi nhuận; về mặt xã hội, trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, quan hệ giữa các thành viên của hộ trang trại, giữa chủ trang trại và người làm thuê là đan xen nhau; về mặt môi trường, trang trại có mối quan hệ thể hiện trên nhiều mặt rất đa dạng và gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời có tác động qua lại nhiều mặt, nhiều chiều của hệ kinh tế sinh thái - nhân văn trong vùng.
Trên thực tế người ta thường chú ý về mặt kinh tế của trang trại nhiều hơn mặt xã hội và môi trường. Điều này cũng dễ hiểu vì kinh tế là nội dung cơ bản, là cốt lõi của trang trại. Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, ngư nghiệp) mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập; sản xuất được tiến hành với quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tập trung đủ lớn cùng phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ để sản xuất ra các loại sản phẩm hàng hoá phù hợp với yêu cầu của cơ chế thị trường. 11 Tuy nhiên, cần phải thấy rằng các hình thức tổ chức sản xuất tập trung trong nông nghiệp dựa trên sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể như các nông, lâm trường quốc doanh, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp không thuộc khái niệm trang trại.
Quan niệm về kinh tế trang trại Kinh tế trang trại, một hình thức tổ chức sản xuất đã xuất hiện từ thời phong kiến trong lịch sử phát triển của nhân loại, dưới dạng các điền trang, thái ấp ở châu Á hay lãnh địa của các lãnh chúa châu Âu. Do sự khác nhau về qui mô, hình thức tổ chức và tính chất sở hữu, quan niệm về kinh tế trang trại vẫn còn hạn chế, thậm chí tồn tại những cách hiểu đánh đồng kinh tế trang trại với kinh tế hộ; hay kinh tế trang trại là hình thực sản xuất đơn thuần trong lĩnh vực nông nghiệp. Quan niệm hạn chế về kinh tế trang trại biểu hiện cụ thể trong sử dụng các thuật ngữ “farm” (tiếng Anh), “ferme” (tiếng Pháp) hoặc “Oepma” (tiếng Nga),… để chỉ trang trại, với cách hiểu chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp gắn với hộ gia đình nông dân. Từ các công trình nghiên cứu về kinh tế trang trại cho thấy, đây là loại hình sản xuất chuyển từ tự túc khép kín của hộ tiểu nông vươn lên sản xuất hàng hóa, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với kinh tế thị trường cạnh tranh; sự hình thành kinh tế trang trại gắn liền với quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp; mô hình kinh tế trang trại được coi là phù hợp và đạt hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp.
Vai trò của kinh tế trang trại được K. Marx nêu rõ qua trường hợp phát triển nông nghiệp của nước Anh. Ông cho rằng, sự phát triển thuận lợi của các hình thức sản xuất nông nghiệp ở nước Anh không phải là do các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình. Từ quan điểm đó, K.
Marx khái quát đặc trưng của kinh tế trang trại: “người chủ trang trại sau mỗi vụ sản xuất bán toàn bộ sản phẩm làm ra và mua vào tất cả các vật tư cần thiết kể cả thóc giống”.9] 12 Qua quá trình thực tế, quan điểm về kinh tế trang trại được phát triển đầy đủ thêm ở các nước phát triển như Mỹ, Anh và một số nước châu Á (Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản,…). Họ quan niệm “trang trại là loại hình sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp của hộ gia đình nông dân sau khi phá vỡ vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín của hộ tiểu nông, vươn lên sản xuất nông sản hàng hóa, tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh”[40, tr. Ở Việt Nam, cũng đồng nhất với các quan niệm trên, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều khái niệm về kinh tế trang trại. Theo tác giả Lê Trọng “kinh tế trang trại bao gồm kinh tế nông trại, lâm trại, ngư trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất nông nghiệp xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định, được các chủ trang trại trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường có sự bảo hộ của Nhà nước” [12, tr.
Tác giả Trần Hữu Quan cho rằng “trang trại là hình thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của gia đình là chủ yếu có tư cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, có chức năng là sản xuất nông sản hàng hóa, tạo ra nguồn thu nhập chính cho gia đình và đáp ứng nhu cầu cho xã hội” [12, tr. Viện Kinh tế Nông nghiệp quan niệm “trang trại là một loại hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa của hộ. Do một người làm chủ có khả năng đón nhận những cơ hội thuận lợi từ huy động thêm nguồn vốn và lao động, trang bị tư liệu sản xuất, lựa chọn công nghệ sản xuất thích hợp, tiến hành tổ chức sản xuất và dịch vụ những sản phẩm theo yêu cầu thị trường nhằm thu lợi nhuận cao” [14]. Như vậy, mặc dù diễn đạt có sự khác nhau, song nhìn chung quan niệm về kinh tế trang trại là khá đồng nhất về các đặc trưng cơ bản của loại hình kinh tế này.
Các khái niệm đều xác định, kinh tế trang trại là một trong những hình 13 thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp. Kinh tế trang trại là một cấp độ trong quá trình phát triển của kinh tế hộ từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa nên về cơ bản dựa trên nền tảng kinh tế hộ nhưng khác hẳn về chất so với kinh tế hộ. Sự phát triển của kinh tế trang trại là hoạt động tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu bởi yếu tố đầu tư vốn, khoa học kĩ thuật công nghệ và năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, nhằm đáp ứng các yêu cầu của thị trường. Trên cơ sở các quan niệm và thực tế phát triển kinh tế trang trại ở nước ta, năm 2000, Chính phủ ban hành nghị quyết về kinh tế trang trại, đã thống nhất nhận thức: “kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”[17].
Từ những nội dung trên có thể quan niệm: KTTT là một phạm trù kinh tế, chỉ một loại hình kinh tế hàng hóa trong nông, lâm, ngư nghiệp; phản ánh tổng hợp các mối quan hệ trong quá trình tổ chức lại sản xuất, phân công lại lao động của những hộ nông dân từ sản xuất tự cấp, tự túc, phân tán nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn; đó là quá trình khai thác, sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất để tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường nhằm cải thiện, nâng cao đời sống người nông dân. Từ nhận thức trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê đã đưa ra các tiêu chí để một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại: Một là, giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân từ 40 triệu đồng/năm đối với các tỉnh phía Bắc và duyên hải miền Trung) và từ 50 triệu đồng/năm với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên; Hai là, qui mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. Cụ thể: 14 “Đối với trang trại trồng trọt: Trồng cây hàng năm có từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung; từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên. Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung; từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên.
Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên. Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước. Đối với trang trại chăn nuôi: Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,. : Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên.
Chăn nuôi gia súc: lợn, dê,…: Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa) dê thịt từ 200 con trở lên. Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng,. có thường xuyên từ 2000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi). Trang trại nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên).
Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản và thuỷ hải sản, thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa (tiêu chí 1)” [8].