Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk" do nghiên cứu sinh Dương Thị Ái Nhi thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2016), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Tuyết Hoa Niê Kdăm, thuộc chuyên ngành Kinh tế Phát triển (Mã số: 62.05).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo phát triển bền vững. Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân, các trang trại được hình thành với quy mô đầu tư vốn, lao động, công nghệ và trình độ quản lý cao hơn nhằm mở rộng sản xuất hàng hóa. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2014), năm 2013 cả nước có 23.000 trang trại; trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, số lượng trang trại tăng bình quân 10%/năm, diện tích đất sử dụng trên 900.000 ha, đa số có quy mô nhỏ.

Đắk Lắk là tỉnh trung tâm vùng Tây Nguyên với diện tích tự nhiên 13.125 km² và dân số khoảng 1,8 triệu người (năm 2013). Tỉnh là địa bàn cư trú của 44 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 32% dân số, riêng các dân tộc thiểu số tại chỗ (gồm Êđê, M'nông, J'rai) chiếm trên 70% tổng số dân tộc thiểu số toàn tỉnh. Mặc dù kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đã hình thành và phát triển, hoạt động sản xuất vẫn gặp nhiều trở ngại lớn về nhận thức, phong tục tập quán, nguồn lực đầu tư, thị trường đầu vào - đầu ra, cơ chế chính sách, dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp, thiếu tính bền vững và sức cạnh tranh chưa cao. Bên cạnh đó, các rủi ro về biến động giá cả nông sản, dịch bệnh và thiên tai đặt ra yêu cầu phải xác định mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô, hiện đại nhưng phù hợp với tập quán văn hóa và điều kiện tự nhiên đặc thù. Do đó, việc nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tại Đắk Lắk mang tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ; đánh giá thực trạng và chỉ ra các yếu tố cản trở phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển loại hình kinh tế này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số; tổng kết kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số ở một số quốc gia và địa phương trong nước, rút ra khả năng vận dụng tại Tây Nguyên và Đắk Lắk.
    2. Phân tích thực trạng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2004–2014, làm rõ thành công, hạn chế, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng.
    3. Xây dựng quan điểm, định hướng và hệ giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Thực tiễn phát triển kinh tế trang trại của dân tộc thiểu số ở các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam ra sao?
  2. Đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vùng Tây Nguyên và tỉnh Đắk Lắk nói riêng là gì?
  3. Tình hình phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk như thế nào?
  4. Các yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk?
  5. Những giải pháp cơ bản nào để thúc đẩy sự phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
  • Phạm vi nội dung: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn; phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường và các yếu tố tác động đến kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
  • Phạm vi thời gian:
    • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập trong giai đoạn 2004–2014 (mốc từ năm 2003 khi tách tỉnh Đắk Lắk thành hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông).
    • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập số liệu năm 2013 thông qua khảo sát thực địa tiến hành năm 2014.
    • Thời gian đề xuất giải pháp: Định hướng đến năm 2020.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi tỉnh Đắk Lắk, tập trung điều tra điểm tại 4 địa bàn: huyện Cư M’gar, huyện Ea H’leo, huyện Krông Năng và Thị xã Buôn Hồ. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế tập trung vào Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan; kinh nghiệm trong nước tập trung vào vùng miền núi Phía Bắc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tác giả phân loại các công trình nghiên cứu quốc tế theo ba nhóm nội dung chính:

  1. Nghiên cứu về sự khác biệt giữa kinh tế hộ và kinh tế trang trại: Cervantes-Godoy và Brooks (2008), Ironmonger (2001) chỉ ra các điểm khác biệt về định hướng sản xuất hàng hóa, sử dụng lao động thuê mướn, quan hệ sở hữu tài sản, phân công lao động và mức độ liên kết thị trường. Davis (2006) phân loại nông hộ và trang trại thành 4 nhóm dựa trên mức độ thương mại hóa. Heltberg (1998), Kimhi (2006), Anríquez và Bonomi (2007), Otsuka (2007) phân tích lợi thế kinh tế theo quy mô của trang trại lớn trong việc ứng dụng kỹ thuật, tiếp cận tín dụng, bảo hiểm và tham gia chuỗi giá trị.
  2. Nghiên cứu về lực cản đối với phát triển kinh tế trang trại: Các nghiên cứu của World Bank (2003a, 2003b, 2006b, 2007), Anríquez và Bonomi (2007), Reardon và cộng sự (1998), Hall và Patrinos (2006) chỉ ra các rào cản như quy mô đất đai nhỏ hẹp (95% dưới 2 ha), thiếu vốn đầu tư, chất lượng lao động thấp, rủi ro thiên tai và biến động giá nông sản (Carter và Barrett, 2006; Christiaensen và Subbarao, 2005; Dercon, 2004). Vollrath (2007), Zezza và cộng sự, Jayne và cộng sự (2006), Fafchamps và Pender (1997) phân tích tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và dịch vụ công của người dân tộc thiểu số. Fafchamps và Minten (2002), Jalan và Ravallion (2002) phân tích các khuyết tật thị trường và chi phí giao dịch ở khu vực nông thôn.
  3. Nghiên cứu về chính sách phát triển kinh tế trang trại: Các chính sách trợ cấp, trợ giá, kiểm soát giá nông sản (Brooks, 2010; Jones và Kwiecinski, 2010; OECD, 2003, 2009); chính sách tín dụng nông thôn (Gloede và Rungruxsirivorn, 2012); chính sách đầu tư vốn con người và cơ sở hạ tầng (Sherraden, 2004; Haggblade, Hazell và Reardon, 2005, 2010); cải cách thể chế kinh tế - xã hội, bảo hộ quyền sử dụng đất và phát triển tổ chức hiệp hội (IFAD, 2003; Brooks, Cervantes-Godoy và Jonasson, 2009).

Các hướng nghiên cứu trong nước

  1. Lý luận về khái niệm, tiêu chí và tính tất yếu của kinh tế trang trại: Khái niệm và đặc trưng được nghiên cứu bởi Nguyễn Điền và Trần Đức (1993), Lê Trọng (1993, 2000), Nhân Đạo (1994), Phí Văn Kỷ (1994), Trần Đức (1995a, 1995b, 1996a, 1996b, 1997, 1998), Trần Trác (1997, 1998, 2000), Nguyễn Xuân Kiên (1998), Nguyễn Đình Hương (2000), Cao Đức Phát (2000), Nguyễn Đức Thịnh (2001), Trương Thị Minh Sâm (2002), Đào Hữu Hoà (2008). Tính tất yếu khách quan và sự chuyển hóa từ kinh tế hộ sang kinh tế trang trại được phân tích trong công trình của Ban Vật Giá Chính phủ (2000), Nguyễn Thế Trường (2002), Chu Tiến Quang (2007), Nguyễn Ngọc Tuân (1999), Phạm Hùng (1999), Lê Hữu Ảnh và Nguyễn Công Tiệp (2000).
  2. Thực trạng, vai trò và yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế trang trại: Vai trò thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và bảo đảm phát triển bền vững được phân tích bởi Chu Thị Hảo (2004), Nguyễn Văn Sử (2006), Phạm Văn Vang (2006), Đinh Phi Hổ (2010), Phạm Bằng Luân (2007). Các yếu tố ảnh hưởng và hiệu quả kinh tế được kiểm chứng bởi Từ Thị Thanh Hiệp (2006) tại Cư Jút, Trần Xuân Ninh (2007) tại Buôn Ma Thuột, Lê Xuân Lãm (2011) tại Gia Lai, Nguyễn Cao Thịnh (2009) tại Sơn La.
  3. Các giải pháp phát triển kinh tế trang trại: Nghiên cứu của Bảo Trung (2010), Đinh Văn Hải (2004), Nguyễn Khắc Hoàn (2006), Trần Thị Thu Thuỷ (2010) đề xuất các giải pháp về đất đai, khoa học công nghệ, thị trường; các công trình của Phạm Hoài Bắc (2003), Lê Thị Yên (2003), Nguyễn Thái Bình (2005), Võ Văn Đức (2005), Nguyễn Thị Tằm (2006), Tô Thị Hậu (2007) tập trung vào tín dụng ngân hàng; các tác giả Phan Ngọc Châu (2005), Lê Anh Vũ (2007), Nguyễn Cao Thịnh (2009) nghiên cứu đặc thù kinh tế trang trại vùng dân tộc thiểu số miền núi.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  • Về lý luận: Chưa có công trình hệ thống hóa và làm rõ mối liên hệ giữa các lý thuyết phát triển nông nghiệp nông thôn với kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ; thiếu khung lý luận gắn phát triển kinh tế trang trại với đặc thù văn hóa truyền thống, phong tục tập quán và chưa có hệ tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế trang trại riêng cho nhóm đối tượng này.
  • Về thực tiễn: Hầu hết các nghiên cứu trước đây thực hiện độc lập tại vùng miền núi Phía Bắc hoặc từng địa phương đơn lẻ, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tại địa bàn Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và tiêu chí nhận dạng

  • Trang trại: Hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa cơ sở trong nông, lâm, thủy sản; tư liệu sản xuất thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ độc lập; sản xuất tiến hành trên quy mô ruộng đất và nguồn lực tập trung, có trình độ kỹ thuật và quản lý tiến bộ, hoạt động tự chủ gắn với thị trường (Nguyễn Thế Nhã, 2001; Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, 1993; Michael Lipton, 2005).
  • Kinh tế trang trại: Hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản gắn với chế biến nông lâm thủy sản (Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ; Trần Trác, 2000).
  • Phát triển kinh tế trang trại: Sự tăng lên về số lượng và chất lượng trang trại theo thời gian, thể hiện qua phát triển theo chiều rộng (mở rộng quy mô đất đai, lao động, vốn, số lượng trang trại) và phát triển theo chiều sâu (nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, giá trị gia tăng) (Lê Trọng, 2000).
  • Trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ: Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa có giá trị gia tăng cao, trong đó chủ trang trại là người dân tộc thiểu số tại chỗ (như Êđê, M'nông, J'rai).
  • Kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ: Tổng thể các yếu tố vật chất và các quan hệ kinh tế, xã hội, môi trường nảy sinh trong quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh của trang trại đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ nhằm đạt giá trị sản lượng hàng hóa cao đáp ứng nhu cầu gia đình và xã hội.
  • Tiêu chí định lượng xác định trang trại:
    • Theo Thông tư số 74/2003/TT-BNN: Giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân 1 năm từ 50 triệu đồng trở lên (vùng Tây Nguyên). Quy mô diện tích: cây hàng năm từ 3 ha trở lên; cây lâu năm từ 5 ha trở lên (riêng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên).
    • Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT: Trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, tổng hợp có diện tích tối thiểu 2,1 ha và giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm; chăn nuôi đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên; lâm nghiệp có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.

Cơ sở lý thuyết nền tảng

  1. Lý thuyết về vai trò của các yếu tố đầu vào: D. Ricardo (1772–1823) xác định 3 nguồn lực cơ bản gồm đất đai, lao động và vốn, trong đó đất đai là giới hạn của tăng trưởng do quy luật độ phì nhiêu giảm dần. Alves E. (1998) nhấn mạnh con đường thâm canh; Ellis và Biggs, báo cáo IFAD (2010, do Csaki C. nghiên cứu) phân tích lợi thế năng suất đất đai của nông trại quy mô nhỏ qua xen canh, đa vụ nhưng chỉ ra giới hạn về cơ giới hóa so với nông trại lớn.
  2. Lý thuyết về tích tụ ruộng đất: Quan điểm Marxist, Bernstein (1982) và Ellis (1993) phân tích quá trình thương mại hóa nông nghiệp dẫn đến rủi ro thị trường, phân hóa giàu nghèo và nguy cơ người nông dân mất đất phải làm thuê cho chủ đồn điền, trang trại.
  3. Lý thuyết về mối quan hệ giữa quy mô và năng suất đất đai: Carter (1984), Benjamin (1995), Heltberg (1998), Kimhi (2006), Ellis (1993) lập luận về mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa quy mô và năng suất do chi phí giám sát quản lý. Ngược lại, Kawagoe, Hayami và Ruttan (1985), Hayami (1988, 1997), McPherson (1983), Simmons (1987), Jensen (1997), Kislev và Peterson (1982) chứng minh lợi thế quy mô lớn trong việc ứng dụng cơ giới hóa và công nghệ hiện đại khi thị trường lao động phi nông nghiệp phát triển.
  4. Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập: So sánh giữa mô hình "Tăng trưởng trước, phân phối lại sau" của Kuznets - Lewis (đường cong chữ U ngược), mô hình "Phân phối lại trước, tăng trưởng sau" và mô hình "Tăng trưởng đi đôi với phân phối lại" của World Bank (Thorbecke, 2002). Luận án vận dụng quan điểm của World Bank để đề xuất giải pháp hỗ trợ nông dân chuyển đổi nghề nghiệp phi nông nghiệp hoặc tham gia trang trại hợp tác.
  5. Lý thuyết về liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản: Cơ chế liên kết ngang giữa các trang trại và liên kết dọc giữa trang trại với doanh nghiệp cung ứng đầu vào và công nghiệp chế biến nhằm giảm thiểu rủi ro thị trường.
  6. Đặc điểm sinh kế và văn hóa truyền thống: Khai thác tư liệu của Thu Nhung M’Lô (1998), Linh Nga Niê K’đăm (2003), Mạc Đường (2005) về tập quán sản xuất truyền thống, chế độ mẫu hệ, tập quán chia đất thừa kế cho con cái khi lập gia đình gây manh mún đất đai, và tinh thần tương trợ dòng họ trong lao động sản xuất.

Khung phân tích các quan hệ kinh tế - xã hội

Hệ thống quan hệ được xác định theo mô hình quan hệ bên trong và bên ngoài:

  • Môi trường bên ngoài: Thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường thông tin liên lạc, cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương, dòng họ và cộng đồng.
  • Môi trường bên trong: Quyền ra quyết định của chủ trang trại, phân công ra quyết định giữa vợ và chồng, quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ chủ trang trại với người lao động làm thuê, quan hệ giữa những người lao động.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận kinh tế học vi mô; tiếp cận phát triển bền vững (kinh tế - xã hội - môi trường); tiếp cận lịch sử; tiếp cận dân tộc học; tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA).
  • Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Chọn 4 địa bàn đại diện có đông đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ sinh sống và đa dạng loại hình kinh tế trang trại tại tỉnh Đắk Lắk gồm: huyện Cư M’gar, huyện Ea H’leo, huyện Krông Năng và Thị xã Buôn Hồ.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê, báo cáo tổng kết hàng năm của UBND tỉnh Đắk Lắk, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, Chi cục Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk, Niên giám Thống kê tỉnh Đắk Lắk; tư liệu từ Tổng cục Thống kê (GSO) và Hội làm vườn Việt Nam (VAC).
    • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua quan sát, phỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn sâu, điều tra bảng hỏi 60 trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ (dân tộc Êđê), chiếm 50% tổng số 119 trang trại đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn 4 huyện điểm. Sử dụng công cụ thảo luận nhóm PRA với 5 nhóm loại hình sản xuất: cây lâu năm, cây hàng năm, lâm nghiệp, chăn nuôi và kinh doanh tổng hợp. Tiến hành điều tra bổ sung mẫu đối chứng gồm trang trại người Kinh và trang trại dân tộc thiểu số khác trên cùng địa bàn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng.
Địa bàn nghiên cứu Tổng số trang trại ĐB DTTSTC theo địa bàn Phân theo loại hình: Cây lâu năm (CLN) Phân theo loại hình: Cây hàng năm (CHN) Phân theo loại hình: Lâm nghiệp (LN) Phân theo loại hình: Chăn nuôi (CN) Phân theo loại hình: Tổng hợp (TH) Số trang trại ĐB DTTSTC được chọn khảo sát Khảo sát: CLN Khảo sát: CHN Khảo sát: LN Khảo sát: CN Khảo sát: TH
TX Buôn Hồ 14 14 - - - - 7 7 - - - -
Huyện Cư M'gar 48 48 - - - - 24 24 - - - -
Huyện Ea H'leo 29 23 - 5 - 1 15 11 - 3 - 1
Huyện Krông Năng 28 28 - - - - 14 14 - - - -
TỔNG CỘNG 119 113 - 5 - 1 60 56 - 3 - 1
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Làm sạch dữ liệu, tổng hợp và phân tổ thống kê theo địa bàn, quy mô sản xuất, loại hình trang trại và thành phần dân tộc trên phần mềm Excel và SPSS. Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân), phương pháp thống kê so sánh (so sánh giữa các thời kỳ, giữa trang trại đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đạt tiêu chí mới với chưa đạt tiêu chí và với trang trại người Kinh), phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến kinh tế trang trại. Các nghiên cứu quốc tế tập trung phân định kinh tế hộ với kinh tế trang trại, chỉ rõ các rào cản về vốn, đất đai, thị trường, rủi ro thiên tai và phân tích các chính sách can thiệp (trợ giá, tín dụng, cải cách thể chế đất đai, đào tạo nguồn nhân lực). Các nghiên cứu trong nước làm rõ cơ sở lý luận về bản chất kinh tế trang trại, tính tất yếu của việc chuyển đổi từ kinh tế hộ, các tiêu chí nhận diện và vai trò của trang trại đối với công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Tác giả chỉ ra khoảng trống: chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở vùng Tây Nguyên gắn với đặc thù văn hóa truyền thống, từ đó xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

Chương 2 làm rõ các khái niệm cơ bản về trang trại, kinh tế trang trại, phát triển kinh tế trang trại theo chiều rộng và chiều sâu, trang trại và kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Tác giả phân tích các tiêu chí xác định trang trại theo Thông tư 74/2003/TT-BNN và Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT. Hệ thống hóa 5 lý thuyết phát triển nông nghiệp nông thôn nền tảng: lý thuyết các yếu tố đầu vào (D. Ricardo, Alves E., Ellis & Biggs), lý thuyết tích tụ ruộng đất (Bernstein, Ellis), lý thuyết quy mô - năng suất đất đai (Carter, Benjamin, Hayami), lý thuyết tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập (Kuznets, Lewis, World Bank), và lý thuyết liên kết chuỗi giá trị. Chương này cũng phân tích đặc điểm sinh kế và văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ (tập quán nương rẫy, mẫu hệ, chia đất thừa kế làm manh mún ruộng đất, tính tương trợ cộng đồng), vai trò kinh tế - xã hội - môi trường của kinh tế trang trại và tổng kết bài học kinh nghiệm quốc tế (Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan) cùng kinh nghiệm vùng miền núi Phía Bắc Việt Nam.

Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk

Chương 3 khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk và phân tích thực trạng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ giai đoạn 2004–2014 dựa trên số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp 60 trang trại (năm 2013–2014):

  • Quy mô và cơ cấu: Số lượng trang trại phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở loại hình trang trại trồng cây lâu năm (cà phê, hồ tiêu, cao su), rất ít trang trại lâm nghiệp và kinh doanh tổng hợp, chưa hình thành trang trại chăn nuôi và cây hàng năm quy mô trang trại trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
  • Tình hình sử dụng các nguồn lực sản xuất: Đánh giá quy mô diện tích đất đai, tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quy mô và cơ cấu vốn đầu tư (vốn tự có, vốn vay ngân hàng); tình hình sử dụng lao động gia đình và lao động thuê mướn theo thời vụ; mức độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.
  • Ứng dụng khoa học công nghệ và liên kết sản xuất: Đánh giá mức độ áp dụng tiến bộ kỹ thuật (giống mới, tưới tiết kiệm, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) và tình hình liên kết tiêu thụ sản phẩm giữa chủ trang trại với đại lý thu mua, doanh nghiệp chế biến và các hợp tác xã.
  • Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh: Phân tích giá trị sản xuất, doanh thu, chi phí, lợi nhuận; so sánh hiệu quả kinh tế giữa trang trại đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đạt tiêu chí mới (Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT) với trang trại chưa đạt tiêu chí và với trang trại của người Kinh; đánh giá hiệu quả xã hội (giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo) và bảo vệ môi trường sinh thái.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Phân tích tác động của các yếu tố nguồn lực nội sinh, trình độ quản lý, tập quán canh tác, cơ chế chính sách đất đai, tín dụng nông nghiệp, thị trường tiêu thụ và biến đổi khí hậu.

Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk

Chương 4 phân tích bối cảnh quốc tế, khu vực, trong nước và yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế trang trại trong giai đoạn mới. Xác định hệ thống quan điểm và định hướng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020:

  • Quan điểm: Phát triển kinh tế trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa bền vững, gắn với thị trường và công nghiệp chế biến; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với ổn định xã hội, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ tài nguyên môi trường.
  • Hệ thống giải pháp cơ bản:
    1. Hoàn thiện chính sách đất đai: Quy hoạch vùng sản xuất tập trung, thúc đẩy tích tụ và tập trung đất đai hợp pháp, hạn chế tình trạng chia nhỏ đất đai do thừa kế, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
    2. Giải pháp về vốn và tín dụng: Đa dạng hóa hình thức cho vay, mở rộng hạn mức tín dụng ưu đãi, đơn giản hóa thủ tục thế chấp tài sản trên đất nông nghiệp.
    3. Ứng dụng khoa học công nghệ và khuyến nông: Đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống cây trồng năng suất cao, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, đào tạo nâng cao kỹ năng quản lý cho chủ trang trại.
    4. Phát triển thị trường và chuỗi liên kết: Xây dựng thương hiệu nông sản, phát triển hợp tác xã nông nghiệp, kết nối chuỗi cung ứng giữa trang trại với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
    5. Đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn: Nâng cấp hệ thống giao thông nội đồng, mạng lưới điện phục vụ tưới tiêu và công trình thủy lợi.
    6. Kiến nghị cụ thể đối với Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương, UBND tỉnh Đắk Lắk và các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về kinh tế trang trại và phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, làm rõ mối quan hệ tương tác giữa các quy luật kinh tế thị trường với đặc trưng văn hóa, tập quán canh tác truyền thống và quan hệ gia đình, dòng họ của cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ.
  • Làm rõ sự vận dụng của các lý thuyết phát triển nông nghiệp nông thôn (lý thuyết các yếu tố đầu vào, lý thuyết tích tụ ruộng đất, lý thuyết quy mô - năng suất, lý thuyết tăng trưởng đi đôi với phân phối lại thu nhập của World Bank, lý thuyết liên kết thị trường) vào mô hình trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ tiêu phân tích, đánh giá sự phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ theo cả chiều rộng (quy mô nguồn lực, số lượng) và chiều sâu (hiệu quả kinh tế, xã hội, sinh thái môi trường).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2004–2014; xác định cụ thể cơ cấu loại hình, thực trạng sử dụng đất đai, vốn, lao động, trang thiết bị kỹ thuật, năng lực quản lý và mạng lưới liên kết thị trường.
  • Thực hiện kiểm chứng so sánh kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các nhóm trang trại: trang trại đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đạt tiêu chí mới theo Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT, trang trại chưa đạt tiêu chí mới và trang trại của người Kinh trên cùng địa bàn; chỉ rõ những mặt hạn chế về năng suất, tỷ suất lợi nhuận và nguyên nhân gốc rễ.
  • Đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng và các giải pháp đồng bộ, cụ thể, có tính khả thi cao nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn, địa bàn khảo sát đi lại khó khăn và có rào cản về ngôn ngữ giao tiếp, mẫu điều tra sơ cấp mới dừng lại ở 60 trang trại (chiếm 50% tổng số trang trại đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tại 4 địa bàn nghiên cứu điểm) và đối tượng khảo sát thực tế hoàn toàn là trang trại của đồng bào dân tộc Êđê. Cơ cấu mẫu khảo sát chưa bao quát được loại hình trang trại chăn nuôi và cây hàng năm do trên địa bàn chưa có trang trại đạt tiêu chí của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát đối với các nhóm dân tộc thiểu số tại chỗ khác tại Tây Nguyên (như M'nông, J'rai, Ba Na, Xơ Đăng); nghiên cứu sâu hơn về các mô hình liên kết chuỗi giá trị nông sản chất lượng cao, nông nghiệp hữu cơ và tác động lâu dài của biến đổi khí hậu đối với nguồn nước ngầm phục vụ tưới tiêu trang trại tại Đắk Lắk.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp UBND tỉnh Đắk Lắk, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Dân tộc và chính quyền các huyện xây dựng quy hoạch nông nghiệp, điều chỉnh chính sách giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thiết kế gói tín dụng ưu đãi và chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Đối với hệ thống khuyến nông, khuyến lâm: Làm cơ sở để xây dựng các chương trình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, quy trình canh tác thâm canh bền vững, kỹ thuật tưới tiết kiệm, phù hợp với trình độ tiếp thu và ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
  • Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế Phát triển, Kinh tế Nông nghiệp, Quản lý Kinh tế và Dân tộc học về phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích kinh tế lượng/thống kê mô tả với phương pháp tiếp cận dân tộc học và đánh giá có sự tham gia (PRA).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật nào để xác định tiêu chí định lượng cho trang trại?

Luận án sử dụng hai văn bản quy định tiêu chí trang trại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

  • Thông tư số 74/2003/TT-BNN: Áp dụng cho vùng Tây Nguyên quy định giá trị sản lượng hàng hóa bình quân năm từ 50 triệu đồng trở lên; quy mô diện tích cây hàng năm từ 3 ha trở lên, cây lâu năm từ 5 ha trở lên (riêng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên).
  • Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT: Quy định đối với trồng trọt/tổng hợp phải có diện tích trên mức hạn điền tối thiểu 2,1 ha và giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm; chăn nuôi đạt giá trị sản lượng từ 1.000 triệu đồng/năm; lâm nghiệp có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.

2. Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập từ những địa bàn nào và cỡ mẫu là bao nhiêu?

Dữ liệu sơ cấp được điều tra vào năm 2014 (thu thập số liệu sản xuất năm 2013) tại 4 địa bàn trọng điểm của tỉnh Đắk Lắk gồm: Thị xã Buôn Hồ (7 trang trại), huyện Cư M’gar (24 trang trại), huyện Ea H’leo (15 trang trại) và huyện Krông Năng (14 trang trại). Tổng số mẫu khảo sát là 60 trang trại đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ (dân tộc Êđê), chiếm 50% tổng số 119 trang trại đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn 4 huyện/thị xã này.

3. Những đặc điểm văn hóa truyền thống nào của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế trang trại?

Theo phân tích của luận án (kế thừa nghiên cứu của Thu Nhung M’Lô, Linh Nga Niê K’đăm, Mạc Đường), các yếu tố văn hóa ảnh hưởng gồm:

  • Tập quán sản xuất truyền thống gắn bó với rừng và nương rẫy, tâm lý sản xuất tự cấp tự túc chậm thay đổi.
  • Quan hệ sản xuất và sở hữu gắn chặt với dòng họ, chế độ mẫu hệ; tinh thần tương trợ, đổi công không tính tiền công.
  • Tập quán chia đất thừa kế cho con cái khi lập gia đình (kể cả khi con cái không trực tiếp làm nông nghiệp), dẫn đến tình trạng đất đai bị chia nhỏ, manh mún, gây khó khăn cho việc tích tụ đất đai và cơ giới hóa nông nghiệp.

4. Luận án vận dụng lý thuyết phát triển kinh tế nào để giải quyết vấn đề bất bình đẳng thu nhập khi phát triển trang trại?

Luận án phân tích và lựa chọn lý thuyết "Tăng trưởng đi đôi với phân phối lại thu nhập" (Redistribution with Growth) của World Bank (Thorbecke, 2002). Tác giả lập luận rằng cần thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại để gia tăng tăng trưởng, đồng thời sử dụng nguồn lực từ tăng trưởng để đầu tư cơ sở hạ tầng, trường học, trạm y tế, đào tạo nghề nông thôn. Đối với hộ nông dân mất đất hoặc không đủ khả năng sản xuất, chính sách cần hỗ trợ chuyển đổi sang ngành nghề phi nông nghiệp hoặc khuyến khích mô hình trang trại hợp tác (góp đất và lao động, chia lợi nhuận theo vốn góp).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Dương Thị Ái Nhi là công trình nghiên cứu hệ thống về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết kinh tế phát triển nông nghiệp với phương pháp tiếp cận dân tộc học và công cụ PRA, luận án đã làm rõ thực trạng tổ chức sản xuất, hiệu quả kinh tế - xã hội và những rào cản đặc thù của các trang trại dân tộc Êđê trên địa bàn. Các phát hiện thực nghiệm và hệ thống giải pháp về đất đai, vốn tín dụng, khoa học công nghệ và liên kết chuỗi giá trị đề xuất trong luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp bền vững vùng Tây Nguyên.