CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài 1. Các nghiên cứu sự khác biệt giữa kinh tế hộ với kinh tế trang trại Nhìn chung, sự phân biệt một cách chính xác dựa trên những tiêu chí cụ thể, giữa hộ và trang trại thường không thống nhất, phụ thuộc nhiều vào đặc thù về tự nhiên và nhân khẩu của từng nước, từng vùng. Ngoài ra, giữa hộ và trang trại luôn có sự chuyển hóa cho nhau dù xét theo bất kỳ tiêu chí nào.
Tuy nhiên, phân biệt về mặt định tính, giữa hộ và trang trại cũng có một số khác biệt cần quan tâm: (1) Kinh tế hộ có sự trải rộng từ tự cấp tự túc đến định hướng thị trường; trong khi KTTT mang tính sản xuất hàng hóa rõ nét hơn; (2) Kinh tế hộ dựa chủ yếu vào nguồn lao động gia đình sẵn có; KTTT dựa nhiều vào lao động thuê mướn, đặc biệt trong mùa vụ; (3) Kinh tế hộ dựa chủ yếu vào các tài sản sở hữu chung giữa các thành viên trong hộ; còn KTTT có thể là sở hữu của nhiều hộ hoặc đa sở hữu với nhiều nguồn góp vốn; (4) Phân công lao động trong hộ dựa trên năng lực cá nhân của từng thành viên hoặc đặc thù về văn hóa (ví dụ như vai trò giữa nam và nữ, giữa cha mẹ và con cái,…); trong khi ở KTTT điều này dựa chủ yếu vào năng lực cá nhân thông qua các quan hệ thị trường; (5) Việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất ở kinh tế hộ rất hạn chế so với trang trại; (6) Tiếp cận về vốn và các dịch vụ khác, bao gồm cả bảo hiểm, đối với hộ khó khăn hơn; (7) Ngành nghề sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ trải rộng hơn, từ nông nghiệp đến thủ công nghiệp và dịch vụ; còn nói đến KTTT thì thường hàm ý chỉ là sản xuất nông nghiệp; và (8) Thị trường sản phẩm của hộ thường chỉ mang tính địa phương; trong khi 11 của trang trại có thể rộng hơn nhiều. Vì vậy các liên kết trước và sau của KTTT rộng hơn, sâu hơn, do trình độ CMH sản xuất cao hơn, đặc biệt đối với nhà cung cấp các dịch vụ đầu vào và CNCB (Cervantes - Godoy and Brooks, 2008; Ironmonger, 2001). Một số nghiên cứu khác không phân biệt giữa hộ và trang trại mà dựa trên tính thương mại hóa hay định hướng thị trường của sản xuất để phân khúc các hộ và trang trại. Davis (2006) chia chúng thành 4 loại cơ bản: (1) Các hợp tác xã, công ty sản xuất nông nghiệp; (2) Trang trại gia đình/hộ nông nghiệp chủ yếu mang tính thương mại; (3) Trang trại gia đình/hộ nông nghiệp chủ yếu phi thương mại (tự túc tự cấp); và (4) Trang trại mang tính giải trí.
KTTT có những điểm mạnh mà kinh tế hộ không có. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng năng suất tỷ lệ thuận với diện tích đất canh tác (Heltberg, 1998; Kimhi, 2006) xuất phát từ lợi thế nhờ quy mô thông qua phân công lao động hợp lý, huy động được nhiều nguồn vốn tại chỗ, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật. Trang trại lớn cũng có lợi thế nhờ dễ tiếp cận tín dụng, bảo hiểm; đồng thời ứng phó được những nhu cầu đa dạng của thị trường và kết nối với các ngành CNCB và chuỗi giá trị quốc gia, toàn cầu khi tự do hóa thương mại được mở rộng (Anríquez and Bonomi, 2007; Otsuka, 2007). Các nghiên cứu về lực cản đối với phát triển kinh tế trang trại Việc phát triển KTTT ở các nước đang phát triển gặp phải nhiều lực cản và đây cũng là một phần nguyên nhân nghèo đói nếu không khắc phục được.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các hộ nông nghiệp thiếu nguồn lực, đặc biệt là đất đai khi chỉ sở hữu một diện tích đất nhỏ (95% dưới 2 ha) (Anríquez and Bonomi, 2007; World Bank, 2003b, 2007). Họ cũng thiếu vốn cần thiết để mở rộng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất cũng như thay đổi nghề nghiệp (Reardon et al. Ngoài ra, ở các vùng nông thôn, chất lượng lao 12 động cũng kém do thiếu thốn về y tế và giáo dục (Hall and Patrinos, 2006; World Bank, 2003a). Các điều kiện về nhân khẩu như mật độ dân số và tỷ suất sinh cao, trong nhiều trường hợp làm trầm trọng thêm những khó khăn này (World Bank, 2003b).
Những điều trên dẫn đến năng suất lao động thấp và thu nhập thấp (World Bank, 2007). Các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng phải đối diện với nhiều rủi ro về cả về thiên tai và thị trường (do biến động giá và độ co dãn của cầu theo thu nhập thấp đối với nông sản) làm cho hộ nông nghiệp và trang trại mất nhiều thời gian để phục hồi khi gặp các cú sốc (Carter and Barrett, 2006; Christiaensen and Subbarao, 2005; Dercon 2004; World Bank, 2003b). Bất bình đẳng trong sở hữu nguồn lực đối với hộ gia đình, đặc biệt người DTTS và người bản địa ở các nước đang phát triển là điều phổ biến. Họ thường không tiếp cận được đất đai hoặc đất đai quá nhỏ để canh tác (Vollrath, 2007; Zezza et al.
Bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công như chăm sóc sức khỏe và đào tạo (Jayne et al., 2006; World Bank, 2003a) hay các dịch vụ bảo hiểm và tín dụng (Fafchamps and Pender, 1997, Reardon et al., 1998) cũng là các yếu tố quan trọng gây ra đói nghèo và lạc hậu. Thêm vào đó, các thiết chế xã hội địa phương như các chuẩn mực ứng xử, niềm tin, bình đẳng giới, đẳng cấp xã hội hay việc thiếu các mạng lưới xã hội cũng thường kiềm chế sức sản xuất của các hộ (Fafchamps and Minten, 2002; World Bank, 2003b, 2006b, 2007). Khuyết tật thị trường ở các nước đang phát triển, đặc biệt vùng nông thôn, cũng thường rất trầm trọng. Điều này tạo ra chi phí giao dịch cao, thông tin bất đối xứng, cạnh tranh không hoàn hảo, và nhiều ngoại ứng tiêu cực khác (Jalan and Ravallion, 2002).
Tuy nhiên, việc khắc phục các khuyết tật này - vai trò của nhà nước - lại thường được tiến hành không tốt. Đây có thể 13 xem như thất bại của nhà nước trong điều tiết thị trường và cung ứng dịch vụ công (World Bank, 2007) 1. Các nghiên cứu về các chính sách phát triển kinh tế trang trại - Nhóm chính sách đầu tiên có thể kể đến là chính sách trợ cấp, trợ giá, theo từng sản phẩm, hoặc theo các diễn biến của điều kiện tự nhiên và thị trường (Brooks, 2010; Jones and Kwiecinski, 2010; OECD, 2003). Việc giảm thuế, phí cũng được áp dụng với các điều kiện tương tự (OECD, 2009; World Bank, 2007).
Ngoài ra, đối với nhiều loại nông phẩm, có thể kiểm soát giá, áp dụng giá sàn đầu ra hay giá trần đối với các dịch vụ đầu vào để đảm bảo quyền lợi của người sản xuất. - Chính sách cung cấp tín dụng với nhiều hình thức và mức lãi suất đa dạng cho phát triển KTTT cũng là biện pháp đáng lưu tâm. Cung cấp tín dụng được áp dụng hợp lý, song song với việc phát triển thị trường vốn có thể tạo ra nhiều hiệu ứng tích cực (Gloede and Rungruxsirivorn, 2012). - Chính sách đầu tư vào vốn con người thông qua tạo giáo dục, đào tạo, trợ giúp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và tạo điều kiện tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp là nhóm chính sách mang tính dài hạn, đem lại hiệu quả ở nhiều nơi (Sherraden, 2004; World Bank 2003b, 2007; Haggblade, Hazell and Reardon, 2005, 2010).
Nhóm chính sách dài hạn khác là đầu tư vào cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện tiếp cận thị trường, tạo liên kết giữa các vùng miền, cung cấp thông tin và tạo việc làm nông thôn cũng hết sức quan trọng (Brooks, 2010; Cervantes-Godoy and Brooks, 2008; Haggblade, Hazell and Reardon, 2010). Các chính sách nêu trên phải hướng tới mục tiêu cao hơn là nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, thỏa mãn ngày một tốt hơn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, đáp ứng được những tiêu chuẩn xuất khẩu và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu (World Bank, 2007). 14 - Chính sách cải cách các thể chế xã hội nông thôn, hạn chế bớt những mặt tiêu cực của các quan hệ đẳng cấp, các quy tắc ứng xử phi chính thức và cách tư duy khép kín cũng là hướng đi quan trọng (Brooks, Cervantes-Godoy and Jonasson, 2009; IFAD, 2003; World Bank, 2007). Ngoài ra, cũng cần khuyến khích sự hình thành các hiệp hội nhằm giảm chi phí giao dịch, tạo sự hỗ trợ lẫn nhau và tận dụng lợi thế nhờ quy mô (Cervantes-Godoy and Brooks, 2008; World Bank, 2003b) - Chính sách cải cách thể chế kinh tế như điều chỉnh chính sách đất đai và quyền sở hữu tài sản nhằm tạo thuận lợi cho mua bán đất đai, mở rộng sản xuất và gây dựng thương hiệu (IFAD, 2003); cải cách thị trường lao động nhằm tạo thêm các cơ hội việc làm và tăng thu nhập (Brooks, 2010); hình thành các mạng lưới bảo hiểm và bảo trợ xã hội (Cervantes-Godoy and Brooks, 2008; IFAD, 2003).
Các chính sách nêu trên có thể hướng đến việc cải thiện các điều kiện đầu vào hoặc đầu ra của sản xuất, cũng có thể nhằm vào việc nâng cấp toàn bộ các điều kiện sản xuất của trang trại. Tuy nhiên, việc vận dụng và kết hợp chúng ra sao tùy thuộc vào các điều kiện của từng quốc gia và vùng, cũng như khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, để xây dựng được các chính sách phát triển KTTT gắn cho một vùng cụ thể, ở đây là tỉnh Đắk Lắk, cần phải bổ sung thêm nhiều luận cứ khoa học mới, phản ánh được các đặc thù về chủ thể sản xuất, không gian và thời gian. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước 1.
Các nghiên cứu lý luận về phát triển kinh tế trang trại 1. Nghiên cứu về khái niệm, tiêu chí và đặc trưng của KTTT Thuật ngữ KTTT xuất hiện và được sử dụng ở nước ta kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới. Ở thời điểm đó, nó được xem là khái niệm mới mẻ và đã trở thành vấn đề mà hầu hết các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Một 15 số tác giả tiên phong gồm có: Nguyễn Điền và Trần Đức (1993), Lê Trọng (1993), Nhân Đạo (1994), Phí Văn Kỷ (1994), Trần Đức (1995a, 1995b, 1996a, 1996b, 1997, 1998) và sau đó là Trần Trác (1997, 1998), Nguyễn Xuân Kiên (1998) và Nguyễn Đình Hương (2000) và Cao Đức Phát (2000) và Nguyễn Đức Thịnh (2001).