MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT. i DANH MỤC CÁC BẢNG. ii DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ.iii MỞ ĐẦU. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC THAM GIA VÀO MẠNG SẢN XUẤT TOÀN CẦU NGÀNH Ô TÔ CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN. Những vấn đề lý luận chung về mạng sản xuất toàn cầu của ngành công nghiệp ô tô. Khái niệm, đặc trưng mạng sản xuất toàn cầu. Phân loại các kiểu mạng sản xuất toàn cầu. Các thành phần tham gia mạng sản xuất toàn cầu của ngành và yêu cầu về năng lực. Vai trò của việc tham gia vào mạng sản xuất và cung ứng toàn cầu đối với phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước . Nâng cao năng lực sản xuất và lợi thế địa điểm ngách (niche) . Xây dựng mối quan hệ lâu dài và ổn định với nhà sản xuất và đối phó tốt hơn với khủng hoảng toàn cầu . Tác động tràn, chuyển giao công nghệ, và thúc đẩy xuất khẩu . Cơ sở cho việc tham gia mạng sản xuất toàn cầu ngành công nghiệp ô tô của các nước đang phát triển . Tái cơ cấu tổ chức sản xuất của ngành . Mở rộng thị trường ô tô ở các nước đang phát triển và mới nổi . Tăng cường đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các tập đoàn ô tô toàn cầu vào các nước đang phát triển . Hội nhập vùng trong ngành ô tô tạo điều kiện gia nhập mạng sản xuất cho các nước đang phát triển . Chiến lược cho ngành công nghiệp ô tô tại các nước đang phát triển . THỰC TIỄN THAM GIA CỦA NGÀNH Ô TÔ TRUNG QUỐC VÀO MẠNG SẢN XUẤT TOÀN CẦU. Quá trình phát triển ngành công nghiệp ô tô của Trung Quốc từ 1994 đến năm 2004. Giai đoạn tập trung (1994-2004) . Từ 2004 đến nay . Các chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô từ 2004 . Bối cảnh hình thành chính sách . Mục tiêu và nội dung chính sách điều chỉnh so với năm 1994 . Tham gia của các thành phần trong ngành ô tô Trung Quốc vào mạng sản xuất toàn cầu. Các nhà sản xuất xe. Các nhà cung cấp linh kiện. Mạng lưới phân phối và bán hàng. Bài học tham gia mạng sản xuất toàn cầu thành công của ngành ô tô Trung Quốc 64 Chương 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THAM GIA CỦA NGÀNH Ô TÔ VIỆT NAM VÀO MẠNG SẢN XUẤT TOÀN CẦU. Tổng quan thực trạng phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Quy mô ngành. Năng lực sản xuất. Các chính sách phát triển ngành. Chính sách thuế quan. Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Chính sách nội địa hoá. Đánh giá thực trạng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Kết quả đạt được. Tồn tại và nguyên nhân. Đề xuất giải pháp thúc đẩy tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trong thời gian tới. Định vị Việt Nam trong mạng lưới sản xuất khu vực Đông Á. Dự báo nhu cầu chính xác tạo định hướng cho thị trường phát triển. Xác định rõ vai trò mũi nhọn của ngành công nghiệp ô tô. Tổ chức sắp xếp lại ngành công nghiệp ô tô. Cơ chế chính sách đồng bộ nhất quán. Các biện pháp khác. 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 102 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ 1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á 2 CN Công nghiệp 3 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài 4 JIT Kịp thời 5 MNE Công ty đa quốc gia 6 MSX Mạng sản xuất 7 SME Doanh nghiệp vừa và nhỏ i DANH MỤC CÁC BẢNG STT Số hiệu Nội dung Trang 1 Bảng 1.1 Khái niệm và phân biệt mạng sản xuất với chuỗi giá trị toàn 11 cầu và chuỗi cung ứng toàn cầu 2 Bảng 2.1 Các quy định cho ngành ô tô Trung Quốc trước và sau khi gia 40 nhập WTO 3 Bảng 2.2 Lộ trình phát triển ngành ô tô trong chính sách công nghiệp ô 42 tô Trung Quốc 1994 4 Bảng 3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ xe qua các năm 67 5 Bảng 3.2 Biểu thuế và tỷ lệ bảo hộ ở Việt Nam theo mức độ hoàn 69 chỉnh của xe 6 Bảng 3.3 Tổng các khoản nộp ngân sách của các doanh nghiệp ô tô và 74 dịch vụ 7 Bảng 3.4 Tổng số lao động Việt Nam trong các doanh nghiệp ô tô và 75 dịch vụ 8 Bảng 3.5 Lượng xe ô tô nhập khẩu qua các năm 81 ii DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ STT Số hiệu Nội dung Trang 1 Hình 1.1 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất ô tô và các nhà cung cấp 15 2 Hình 1.2 Thay đổi về bản chất các mối quan hệ sản xuất trong ngành ô 21 tô 3 Hình 2.1 Cơ cấu liên doanh trong ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc 52 4 Hình 2.2 Các cụm công nghiệp tập trung các nhà sản xuất xe tại Trung 54 Quốc iii MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bất cứ quốc gia nào cũng đều mong có ngành công nghiệp ô tô phát triển ở tầm cao, bởi sự phát triển của ngành này sẽ là động lực cho rất nhiều ngành công nghiệp vệ tinh xung quanh như luyện kim, hóa học, công nghiệp nhẹ, điện tử… phát triển theo. Ngành công nghiệp cơ khí của Việt Nam bắt đầu từ những năm 1950, nhưng ngành công nghiệp ô tô chỉ thực sự được chú trọng phát triển từ những thập niên cuối của thế kỷ 20 khi nền kinh tế bắt đầu mở cửa và Chính phủ cho phép các nhà sản xuất nước ngoài xây dựng nhà máy tại Việt Nam. Cho đến nay, công nghiệp ô tô là ngành công nghiệp rất quan trọng cần được ưu tiên phát triển, được Chính phủ khẳng định trong Quy hoạch phát triển công nghiệp ô tô giai đoạn 2010, tầm nhìn đến 2020. Cùng với đó, hàng loạt các chính sách liên quan như chính sách thuế, chính sách thị trường, chính sách đầu tư, chính sách khoa học công nghệ… đã được hoạch định để hỗ trợ cho việc đạt được những mục tiêu này. Hiện tại, ngành sản xuất ô tô Việt Nam đã có tăng trưởng, thu hút mọi thành phần kinh tế, xây dựng hạ tầng cơ sở cho nhiều nhà máy sản xuất lắp ráp ô tô với dây chuyền thiết bị tương đối đồng bộ, hiện đại; xây dựng được 1 số thương hiệu có tên tuổi trên thị trường như Thaco (Tập đoàn ô tô Trường Hải), Vinaxuki (Công ty ô tô Xuân Kiên). Tuy nhiên, so sánh kết quả đạt được cho đến nay thì hầu hết các mục tiêu đặt ra trong Quy hoạch hầu như không hoàn thành. Trong đó, có thể nói Việt Nam vẫn chưa hình thành cho mình được ngành ô tô theo đúng nghĩa, các nhà sản xuất và lắp ráp của nội địa ít ỏi, chủng loại sản phẩm đơn điệu, các sản phẩm có tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ tùng linh kiện vẫn phần lớn được nhập khẩu, và chuyển giao công nghệ ở mức thấp. Ngành công nghiệp này khó mà có thể được định vị trên mạng lưới sản xuất toàn cầu và khu vực của ngành. Trong khi đó, ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc chỉ mất 7 năm (1978-1985) để hình thành mạng lưới hơn 100 nhà sản xuất, trong đó có hầu hết là liên doanh và các 1 nhà sản xuất quy mô nhỏ, và 15 năm (1978-1993) để sản xuất các mẫu xe dành riêng cho thị trường trong nước và mang thương hiệu Trung Quốc. Xuất phát từ cùng một mục tiêu và hình thức phát triển ngành công nghiệp ô tô, đó là hình thành các liên doanh để tận dụng công nghệ sản xuất phát triển để từ đó xây dựng năng lực nhà sản xuất, nhưng Trung Quốc và Việt Nam có một cách biệt lớn về các kết quả đạt được và thời gian để hình thành ngành. Thực trạng này đang đặt ra nhiều câu hỏi: Trung Quốc đã tận dụng cơ hội tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu để phát triển ngành công nghiệp ô tô trong nước như thế nào? Việt Nam có thể học tập được gì từ kinh nghiệm của Trung Quốc? Đây chính là lý do tác giả chọn đề tài “Kinh nghiệm tham gia mạng sản xuất toàn cầu ngành ô tô của Trung Quốc và gợi ý cho Việt Nam” là đề tài luận văn Thạc sỹ của mình. Tình hình nghiên cứu Đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu trên thế giới về vai trò của ngành công nghiệp ô tô của Trung Quốc trên thế giới và bài học kinh nghiệm của ngành này như một điển hình thành công tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu và chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó có thể liệt kê một số nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả/tổ chức sau: - Booz&Company (2009) đã đưa ra một số bài báo về ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc và tầm quan trọng đang thay đổi của nó trên thế giới. Điển hình có hai bài sau đây. Bài thứ nhất là The Coming Structural Realignment of China’s Automotive Sector mô tả sự nổi lên của Trung Quốc như là thị trường xe hơi lớn nhất thế giới, và tiềm năng thay đổi cấu trúc của ngành công nghiệp trong nước của Trung Quốc. Bài thứ hai là The Path to Globalization of China’s Automotive Industry giải thích những thách thức mà Tổ chức Các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEMs) của Trung Quốc phải đối mặt trong nỗ lực mở rộng ra phạm vi quốc tế. Bài báo này mô tả làm thế nào mà thị trường của ô tô Trung Quốc mở rộng nhanh chóng lại trở thành chất xúc tác thúc đẩy sự chuyển đổi mô hình kinh doanh và công nghệ nền tảng của ngành công nghiệp ô tô. 2 - Rachel Tang (11/2009) phân tích vai trò ngày càng tăng của ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc trên thị trường ô tô thế giới, vai trò của nhà sản xuất chính và tiêu thụ chính đe dọa tới sự tồn tại của ngành này tại Mỹ. Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích hai trường hợp là sản xuất có hợp tác với nước ngoài và sản xuất độc lập với một số ví dụ điển hình. - Liu PingQing, Sui HuaJie và Gu Qiang (tháng 3 năm 2008) từ nhìn nhận rằng ngành ô tô là một trong những ngành toàn cầu hóa nhất và trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, sức cạnh tranh về chi phí không thôi không thể đủ để tạo nên thành công, nghiên cứu sử dụng khung phân tích chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) để giải thích những giai đoạn phát triển của ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc, vị trí của nó trong GVC và phân tích các mối quan hệ với các nhà sản xuất chính toàn cầu và cơ hội nâng cấp ngành.