CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TÍN DỤNG XUẤT KHẨU 1.TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG XUẤT KHẨU 1. Khái niệm tín dụng xuất khẩu Tín dụng xuất khẩu được hiểu là khoản tín dụng NXK cấp cho NNK (còn được coi là tín dụng thương mại); hoặc khoản cho vay trung và dài hạn, dùng để tài trợ cho các dự án và cung cấp vốn cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa. (Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia) Tín dụng xuất khẩu bao gồm tín dụng cấp trong thời gian trước khi gửi hàng hoặc hoàn thành dự án và thời gian sau khi giao hàng hoặc nhận hàng hoặc khi hoàn thành dự án. Với mục đích đẩy mạnh XK hàng hóa, loại hình TD này không có sự tham gia của Ngân hàng, mà thường là do các Công ty, KHDN cho nhau vay hoặc cấp cho nhau dưới hình thức ghi sổ trả chậm hoặc chấp nhận hối phiếu.
Khi bên A (NXK) và bên B (NNK) sử dụng phương thức thanh toán là Thư tín dụng (L/C) hoặc nhờ thu kèm chứng từ như Thanh toán đổi chứng từ (D/P) và Chấp nhận thanh toán đổi chứng từ (D/A) thì việc bên B ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu do bên A ký để nhận bộ chứng từ trên là hình thức cấp tín dụng XK bằng chấp nhận hối phiếu. Ví dụ ở bên UK (Anh), Pháp thường quy định quy định thời hạn của loại TD này từ 30 đến 90 ngày, của Mỹ là 180 ngày để tránh rủi ro có thể xảy ra, tuy nhiên phần lớn các bên (NXK và NNK) sẽ tự thỏa thuận về thời gian của loại tín dụng này. Khi bên A (NXK) và bên B (NNK) ký HĐ mua bán, XNK hàng hóa với nhau, 8 việc bên A đồng ý và bên B mở 1 tài khoản sau mỗi lần giao hàng của bên A để ghi nợ, và tùy theo thỏa thuận giữa 2 bên sau một thời gian (1 tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng, 1 năm) bên B sẽ phải thanh toán từng lần cho bên A (có thể thanh toán giai đoạn, thanh toán tổng thể…) – đây là hình thức cấp TD bằng cách ghi sổ, việc thanh toán có thể chuyển bằng tiền nội tệ, ngoại tệ do thỏa thuận giữa 2 bên hoặc có thể phát hành séc, Cam kết chi… Hình thức thứ 2 là các khoản vay (có thể do Nhà nước hoặc có thể do NHTM cấp) thường là trung hoặc dài hạn, để tài trợ các Chương trình, dự án, tài trợ vốn cho các HĐXK hàng hóa được gọi là Hình thức tài trợ XK trung và dài hạn. Trong đó khi NXK (là đơn vị trong nước) thực hiện 1 hợp đồng XK cho 1 đơn vị thuộc nước khác sẽ được cung cấp 1 khoản vay, hoặc tài trợ trung hoặc dài hạn trong 1 khoảng thời gian bởi NH hoặc Chính phủ và phải tuân theo các Hiệp ước, thỏa thuận hoặc các quy định quốc tế như Hiệp ước, thỏa thuận của Chính phủ đã ký với các Tổ chức quốc tế (ví dụ như thỏa thuận với tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD về hỗ trợ TDXK chính thức OECD) (Theo tài liệu định nghĩa (Concept Paper) của Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB) Như vậy, qua tham khảo các nguồn thông tin trên: Tín dụng xuất khẩu có thể được hiểu là các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác sử dụng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ ra thị trường quốc tế.
(Tác giả nhận định) Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là dịch vụ bảo vệ và bồi thường cho người xuất khẩu khi họ cấp tín dụng thương mại (bán trả chậm) hoặc bảo vệ và bồi thường cho các ngân hàng khi ngân hàng cho vay trung - dài hạn. Bảo hiểm tín dụng bảo vệ người bán khỏi rủi ro người mua không thanh toán, có thể do các rủi ro thương mại hoặc rủi ro chính trị (trong trường hợp xuất khẩu). Các rủi ro thương mại được bảo hiểm gồm có rủi ro người mua không thanh toán, mất khả năng thanh toán, và rủi ro trì hoãn thanh toán – người mua không thể thanh toán trong 1 thời hạn nhất định theo hợp đồng. RRCT liên quan tới việc hợp đồng 9 xuất khẩu không được thanh toán do các hành động của chính quyền nước nhập khẩu như việc can thiệp ngăn chặn quá trình thanh toán, hủy bỏ giấy phép kinh doanh, gây ra chiến tranh hay các hành động khác.
Tùy theo tính chất, giá trị hàng hóa (hàng hóa thông thường như nông sản, nguyên liệu sản xuất, thiết bị điện tử… hay hàng hóa là tài sản cố định như trang thiết bị, máy móc, … phục vụ sản xuất) và phương thức thanh toán trong giao dịch xuất khẩu, BHTDXK có thể là sản phẩm bảo hiểm ngắn hạn - là hình thức phổ biến nhất (gồm các loại: trung bình từ 30-90 ngày; tối đa đến 180 ngày; tối đa đến 360 ngày) hay trung hạn (từ 1 đến 3 năm) 1. Phân loại tín dụng xuất khẩu 1.1 Căn cứ chủ thể cấp tín dụng Nhà nước cấp tín dụng xuất khẩu Tín dụng xuất khẩu do Nhà nước cấp được chia thành 2 loại sau: Nhà nước cấp tín dụng cho NNK nước ngoài: Nhà nước dùng Ngân sách trực tiếp cho nước ngoài vay với lãi suất ưu đãi, kèm theo các điều kiện kinh tế và chính trị có lợi cho nước cho vay. Nước được vay ưu đãi sẽ sử dụng số tiền đó mua hàng của nước cho vay. Hình thức này sẽ giúp nước cho vay giải quyết được tình trạng dư thừa hàng hoá ở trong nước và có tác dụng giúp các DN đẩy mạnh được xuất khẩu vì có sẵn thị trường.
Thực tế hiện nay có rất nhiều quốc gia sẵn sàng cho các nước đang phát triển, hoặc kém phát triển vay theo hình thức này, như Trung Quốc, Nhật Bản… với nguồn vốn ODA hoặc tài trợ đối với các nước Châu Phi thuộc dự án Vành đai & Con đường, các nước đi vay nhận được nguồn vốn vay ưu đãi từ Chính phủ Trung Quốc, Nhật Bản tuy nhiên họ phải có cam kết nhập khẩu, hoặc mua hàng hóa từ chính các nước trên. (Theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Chính phủ) Nhà nước cấp tín dụng cho DNXK trong nước: Vốn bỏ ra cho việc sản xuất và thực hiện các hợp đồng xuất khẩu thường rất lớn. NXK cần có một số vốn cả trước 10 khi giao hàng và sau khi giao hàng để thực hiện một số hợp đồng xuất khẩu. Nhiều khi NXK cũng cần có thêm vốn để kéo dài các khoản tín dụng ngắn hạn mà họ dành cho người mua nước ngoài.
Đặc biệt, khi áp dụng phương thức bán chịu, thu tiền hàng xuất khẩu sau thì việc cấp tín dụng xuất khẩu trước khi giao hàng hết sức quan trọng. Hiện nay, nhiều chương trình phát triển xuất khẩu không thể thiếu được việc cấp tín dụng của Chính phủ theo các điều kiện ưu đãi. (Theo nghiên cứu từ Nghị định 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Chính phủ) Ngân hàng cấp tín dụng xuất khẩu: Bằng cách cung cấp tín dụng ngắn hạn trong giai đoạn trước và sau khi giao hàng, các ngân hàng thường hỗ trợ cho các chương trình xuất khẩu chủ yếu qua hai hình thức là chiết khấu các giấy tờ có giá hoặc tạm ứng theo các chứng từ hàng hóa. Trên cơ sở này, NXK có thể nhận được một bộ chứng từ hàng hóa trong đó có hối phiếu đòi nợ chấp nhận thanh toán của NNK thông qua ngân hàng.
Ngoài ra, cả NNK và NXK đều có thể ký hợp đồng mua bán và mở tài khoản để ghi nợ cho người mua sau mỗi vụ. Do Người bán vận chuyển. Sau một thời hạn nhất định, NNK phải trả nợ cho NXK bằng chuyển khoản, chuyển khoản séc hoặc kỳ phiếu. (Theo nghiên cứu từ Nghị định 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Chính phủ) Tín dụng do NXK cấp Khi hoạt động giao hàng trước, tiền thu sau (tức là người mua, hoặc nơi nhập khẩu nhận hàng hóa từ bên bán, NXK và được nợ lại tiền) khi đó có nghĩa là đã có một sự thỏa thuận về tín dụng (vay nợ) giữa 2 bên hay nói một cách khác là hình thức nhà NK trả chậm hoặc nợ lại với lãi suất ưu đãi có sự chấp thuận, đồng ý của NXK.
Sử dụng thời gian giao hàng như một chỉ dẫn, TD được cấp bởi NXK có nghĩa là người bán (hoặc NXK) giao hàng trước và thu tiền sau. Nghĩa là, Người bán sẽ cung cấp cho Người mua (hoặc Người bán) thư tín dụng đã được thỏa thuận giữa hai bên. Ngoài ra, khoản TD do nhà XK cấp có thể được hiểu là khoản tín dụng do nhà XK gia hạn và khoản TD mà nhà NK nợ lại do lãi suất ưu đãi mà nhà XK dành cho nhà NK. (Theo nghiên cứu từ Nghị định 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín 11 dụng xuất khẩu của Chính phủ) Tín dụng do NNK cấp Khi NXK chấp nhận đơn hàng thì NNK phải trả 1 phần tiền hoặc toàn bộ trước khi NXK chuyển giao hàng hóa, điều này được hiểu là TD do NNK cấp.
Tầm quan trọng, giá trị hàng hóa, thời hạn sản xuất sử dụng và các vấn đề liên quan sẽ ảnh hưởng đến việc ứng trước tiền ngoài ra còn phụ thuộc mối quan hệ giữa NXK và NNK, tập quán mua bán giao dịch. Kinh phí ứng trước đó gọi là TD do NNK cấp cho NXK, điều này sẽ dẫn tới vị thế tài chính của nhà XK được củng cố, làm tăng khả năng bán được hàng.2 Căn cứ quy trình xuất khẩu Tín dụng trước khi giao hàng (trước xuất khẩu) Loại tín dụng ngân hàng này cần cho NXK để đảm bảo các khoản chi phí sau: - Dùng để mua sắm nguyên vật liệu đầu vào; - Chi phí dùng để sản xuất hàng XK; - Chi phí dùng để sản xuất bao bì cho XK; - Chi phí để vận chuyển để XK; - Chi phí trả cước phí, bảo hiểm, thuế. Để việc XK của một quốc gia được thuận tiện, giá thành của sản phẩm phải được bán với giá thấp để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ ở thị trường nước ngoài thị trường một số nước đã giảm mức lãi suất TDXK, thậm chí mức lãi suất ưu đãi thấp hơn cả lãi suất TM do các NHTM quy định để tăng khả năng cạnh tranh XK của quốc gia. Lãi suất TDXK là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng và có ảnh hưởng lớn tới HĐXK của mỗi quốc gia.