MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1. Lý do và mục đích của đề tài 1.
Lý do chọn đề tài 1. Mục tiêu của đề tài 1. Phương pháp nghiên cứu 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu 1. Phạm vi nghiên cứu 1. Đóng góp mới của đề tài 1. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 1.
Ý nghĩa thực tiễn 1. Kết cấu của đề tài CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái quát chung về nhập khẩu 10 2. Khái niệm về nhập khẩu 2.
Các hình thức nhập khẩu 2.Nhập khẩu trực tiếp (Nhập khẩu tự doanh) 2.Nhập khẩu gián tiếp (Nhập khẩu ủy thác) 2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân. Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình xuất nhập Việt Nam năm 2015 2.
Tình hình chung 2. Tình hình nhập khẩu bánh kẹo tại thị trường trong nước 2. Nhận xét về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trog khoảng đầu năm 2015 2. Hợp tác kinh tế song phương giữa Indonesia – Việt Nam và tiềm năng phát triển kinh tế thương mại giữa hai nước 2.
Hợp tác kinh tế song phương giữa Indonesia – Việt Nam từ trước cho đến nay 2.Tiềm năng phát triển hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước Indonesia - Việt Nam và nâng tầm quan hệ song phương giữa hai nước 2. Hợp tác thương mại 2. Khả năng hợp tác lớn giữa Việt Nam và Indonesia ngày nay 2. Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam – Indonesia thời gian tới 2.
Thị trường bánh kẹo tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung. Tình hình thị trường bánh kẹo trong nước và nhu cầu của người tiêu dùng 2.2 Thị phần bánh kẹo Indonesia tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh 11 CHƯƠNG III: NHẬN ĐỊNH CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI CÁC MẶT HÀNG BÁNH KẸO CỦA INDONESIA 3.1 Thị hiếu của người tiêu dùng 3. Những tiêu chí quyết định sự lựa chọn của người tiêu dùng 3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm 3.
Tầng lớp xã hội 3. Các nhóm tham khảo 3. Yếu tố gia đình 3.3 Chiến lược kinh doanh và mức độ ảnh hưởng của mặt hàng bánh kẹo Indonesia tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh. Khái niệm về chiến lược 3.
Các chiến lược Marketing các mặt hàng bánh kẹo Indonesia của các công ty Indonesia tại thị trường Việt Nam 3. Mức độ ảnh hưởng của các mặt hàng bánh kẹo Indonesia tại thị trường TP HCM 3. Chính sách về xuất nhập khẩu bánh kẹo và thuế CHƯƠNG IV: THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA CÁC MẶT HÀNG BÁNH KẸO INDONESIA TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP AEC.2 Khó khăn của mặt hàng bánh kẹo Indonesia trong quá trình hội nhập AEC KẾT LUẬN ĐỀ XUẤT 12 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái quát chung về nhập khẩu 2.
Khái niệm về nhập khẩu Xu thế quốc tế hoá ngày nay đã thúc đẩy hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra mạnh mẽ. Xuất khẩu và nhập khẩu là hai hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế. Nếu thương mại quốc tế là sự trao đổi mua bán hàng hoá thì cung ứng dịch vụ hướng đến mục tiêu lợi nhuận giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau. Ngoài ra, xuất khẩu là một hình thức tất yếu của các công ty kinh doanh quốc tế khi xâm nhập thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, nhập khẩu cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng bởi vì xuất khẩu của nước này sẽ là nhập khẩu của nước kia và ngược lại. Nó là một mặt không thể tách rời của nghiệp vụ ngoại thương. Đã có không ít những cách hiểu khác nhau về nhập khẩu nhưng xét trên góc độ trung nhất, nhập khẩu được hiểu là sự mua hàng hoá dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận. Nói cách khác, nhập khẩu là việc mua hàng hóa từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài và tiến hành tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu tại thị trường nội địa hoặc tái xuất khẩu với mục đích thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với tiêu dùng.
Các hình thức của nhập khẩu Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các công ty kinh doanh quốc tế khi tham gia hoạt động nhập khẩu thường áp dụng hai hình thức kinh doanh nhập khẩu chính là: nhập khẩu trực tiếp (nhập khẩu tự doanh) và nhập khẩu gián tiếp (nhập khẩu uỷ thác). Doanh nghiệp áp dụng hình thức nào, điều này phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và yêu cầu của khách hàng. Nhập khẩu trực tiếp (nhập khẩu tự doanh) 2 http://www.vn/khai-niem-hoat-dong-nhap-khau-va-su-can-thiet-cua-hoat-dong-nhap-khau/ 13 Trong thương mại quốc tế, giao dịch trực tiếp ngày càng phát triển do các phương tiện thị trường rất phát triển, trình độ năng lực giao dịch của người tham gia thương mại quốc tế ngày càng cao. Do đó, khi nhập khẩu hàng hoá, các đơn vị kinh doanh quốc tế có thể trực tiếp giao dịch với nhà xuất khẩu một cách thuận tiện và dễ dàng.
Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức trực tiếp được hiểu là việc đơn vị kinh doanh trực tiếp nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào Việt Nam với danh nghĩa và chi phí của mình, rồi sau đó tiến hành kinh doanh, bán hàng hoá nhập khẩu cho khách hàng trong nước có nhu cầu. Đơn vị kinh doanh theo hình thức nhập khẩu trực tiếp sẽ mang lại hiệu quả cao do giảm được chi phí trung gian, giảm bớt sai sót, lợi nhuận thu được do bán hàng hoá nhập khẩu lớn hơn chi phí uỷ thác nhập khẩu hàng hoá. Đồng thời theo hình thức này, đơn vị kinh doanh có điều kiện trực tiếp tiếp cận thị trường để thích ứng với nhu cầu thị trường một cách tốt nhất. Từ đó có thể chủ động được nguồn hàng và bạn hàng trong kinh doanh.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên, kinh doanh nhập khẩu trực tiếp cũng gặp không ít khó khăn. Hình thức này cũng chứa đầy rủi ro và mạo hiểm do doanh nghiệp phải có đủ tiềm lực về tài chính để đầu tư, cán bộ phải có nghiệp vụ giỏi. Đối với hình thức này, nếu không tìm hiểu kỹ thị trường và đối tác, doanh nghiệp rất dễ bị ép giá, thậm chí sau khi nhập khẩu hàng hoá về có thể bán không được hoặc bán được với giá thấp. Hình thức này không thích hợp với công ty kinh doanh quốc tế khi lần đầu tham gia trên thị trường quốc tế hoặc kinh doanh mặt hàng mới trên thị trường mới.
Nhập khẩu gián tiếp (nhập khẩu uỷ thác) Trên thực tế hiện nay, có nhiều đơn vị kinh doanh quốc tế không đủ điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất để tiến hành nhập khẩu trực tiếp. Do đó họ sẽ cần đến trung gian làm cầu nối giữa công ty nhập khẩu và đối tác là công ty xuất khẩu. Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức uỷ thác là việc đơn vị ngoại thương (bên nhận uỷ thác) đóng vai trò trung gian để thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá từ 3 http://voer.vn/m/cac-hinh-thuc-nhap-khau/b82516a2 14 nước ngoài vào Việt Nam theo yêu cầu của bên uỷ thác với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên uỷ thác. Theo khái niệm về nhập khẩu uỷ thác có thể thấy rằng khi đơn vị kinh doanh theo hình thức này thì đơn vị ngoại thương không phải bỏ vốn của mình ra đem đi nhập khẩu, vốn này do bên uỷ thác cấp tuy nhiên đợn vị kinh doanh vẫn phải chịu chi phí về nghiên cứu thị trường, đối tác khi thực hiện hình thức nhập khẩu này hoàn toàn yên tâm về đầu ra do chỉ phải nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của người uỷ thác, điều này tạo ra một độ an toàn nhất định cho công ty kinh doanh quốc tế.
Về phía bên uỷ thác là những đơn vị kinh doanh có nhu cầu về hàng hoá nhập khẩu nhưng do điều kiện có thể không đủ trình độ nghiệp vụ để đứng ra nhập khẩu hàng hoá hoặc có thể họ có vốn nhập khẩu nhưng lại không có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu. Mối liên hệ giữa bên uỷ thác và bên nhận uỷ thác thể hiện ở hoạt động ký kết giữa hai bên và những tài liệu, giấy tờ liên quan mà bên uỷ thác gửi cho đơn vị ngoại thương. Đây chính là cơ sở quan trọng để bên được uỷ thác tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng nhập khẩu với đối tác ở nước ngoài. Sau khi công việc nhập khẩu hoàn tất, đơn vị được uỷ thác bàn giao hàng hoá đúng như yêu cầu cho bên uỷ thác gọi là chi phí uỷ thác khoảng 1% giá trị hợp đồng.
Chi phí này có thể ít hơn hoặc nhiều hơn 1% phụ thuộc vào mối quan hệ giữa bên bán uỷ thác và bên nhận uỷ thác cũng như giá trị của hợp đồng. Trên thực tế, kinh doanh theo hình thức này lợi nhuận thu được không cao vì chỉ là phí uỷ thác nhưng lại đảm bảo tránh rủi ro, mạo hiểm đạt được mức độ an toàn, chắc chắn trong kinh doanh của đơn vị ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng hoá. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân Bất kì quốc gia nào cũng không thể tự sản xuất để đáp ứng một cách đầy đủ mọi nhu cầu trong nước, đặc biệt trong xu thế ngày nay, đời sống nhân dân ngày càng nâng cao, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, thoát khỏi nền kinh tế tự cung tự cấp, lạc hậu. Mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân dựa rất nhiều về lợi thế so sánh, ở đó 4 http://voer.vn/m/cac-hinh-thuc-nhap-khau/b82516a2 15 mỗi quốc gia sẽ đẩy mạnh sản xuất có lợi thế để phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu đi các quốc gia khác.
Trong thực tế không có quốc gia nào là có lợi thế về tất cả các mặt hàng, các lĩnh vực, sự bổ sung hàng hoá giữa các quốc gia đã đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Những quốc gia phát triển thường xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu rất nhiều và ngược lại những nước kém phát triển kim ngạch nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu. Với Việt Nam, một quốc gia mới chuyển sang nền kinh tế thị trường gần 20 năm, vốn chịu nhiều hậu quả từ sự tàn phá chiến tranh, do đó hoạt dộng nhập khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình khôi phục nền kinh tế và tiến tới quá trình Công nghiệp hóa– hiện đại hóa đất nước (CNH- HDH).